Thủ bút bài thơ của thi sĩ Trụ Vũ
Trước đây nhiều năm, người bạn bên Pháp qua Đức thăm tôi, hỏi,
tôi cần mỹ phẩm của Paris không. Tôi đùa với bạn, tôi không cần gì cả, với lý
do:
Bởi vì mắt ngắm trời xanh
Cho nên mắt cũng long lanh màu trời*.
Trong trí nhớ của tôi dường như có một góc lưu trữ những câu
thơ tôi yêu, tôi thương. Nhiều khi, tôi không biết tác giả những câu thơ. Tình
cờ, nghe đây một câu, thấy kia một câu, tôi vội ghi vào trí. Ngày còn bé, tôi
có trí nhớ rất tốt. Tôi nhớ, tôi ngâm nga những từ, những ngữ, những vần thơ thật
đẹp, thật thơ. Dần dà, những câu thơ như thân, như quen, như hòa vào vốn liếng
ca dao tục ngữ trong ký ức của tôi. Trí tôi còn “giữ” thêm một dị bản của bốn
câu thơ trên:
Mắt em ngắm trời xanh
Nên long lanh màu trời
Mắt em nhìn biển khơi
Nên xa vời đại dương
Nhiều năm, tôi giữ mấy câu long lanh màu trời như
của riêng mình. Ngày nọ, khi tình cờ đọc bốn câu thơ trong Facebook của
người bạn, tôi xúc động lặng người, quýnh quíu hối thúc người bạn, tìm giúp tôi
tác giả bốn câu thơ. Sau khi giật dây tứ tung, người bạn bảo, tác giả là thi sĩ
Phạm Thiên Thư. Tôi lèo nhèo năn nỉ người bạn, tiếp tục tìm hiểu, những câu thơ
ấy được trích trong tập thơ nào. Người bạn gõ cửa loanh quanh, cuối cùng đành lắc
đầu, không biết chi thêm về bốn câu thơ này.
Đọc đi, đọc lại bốn câu thơ, lòng nhớ bâng khuâng thuở mười
bảy tuổi, tôi đem bút viết, bồi hồi kể chuyện xưa. Truyện Khi Mười Bảy Tuổi được
vài bạn đọc thương mến. Có lẽ, vì bạn đọc thấy lại thuở bẻ gãy sừng trâu của
mình. Và cũng rất có thể, vì bạn đọc yêu thích bốn câu thơ tôi ghi ngay dưới tựa
truyện. Và như vậy, đã nhiều năm, tôi thương bốn câu thơ, mà vẫn đinh ninh
cùng tác giả của Ngày Xưa Hoàng Thị.
Cuối năm 2017, tôi thật vui, được một món quà đặc biệt: nhà
văn T.Vấn, chủ bút của trang mạng văn học và tủ sách T.Vấn & Bạn Hữu,
có nhã ý tái bản tập truyện Bông Hoa Trên Phím dưới dạng sách điện tử.
Với tấm lòng đam mê chữ nghĩa và phong cách làm việc tận tụy, anh T. Vấn cẩn trọng
chăm chút cả nội dung lẫn hình thức của tập truyện. Anh T.Vấn mời họa sĩ Trần
Thanh Châu khoác cho tập truyện tấm áo mỹ miều với tranh Bông Hoa Trên
Phím Dương Cầm và Bông Hoa Trên Phím Guitar. Anh nhờ nhà văn Lê Hữu
“để mắt” đến bản thảo của tập truyện. Bởi, qua những lần làm việc với nhà văn
Lê Hữu từ trước, anh T.Vấn nhận xét, “Những ý kiến của anh Lê Hữu giúp cho tác
phẩm nghiêm túc hơn, tạo sự tin cậy nơi người đọc, trước khi họ bỏ thì giờ ngồi
xuống giở từng trang sách.” Những ý kiến, mà anh Lê Hữu rất khiêm tốn cho rằng
“nhỏ nhặt”, là những lời góp ý rất to lớn cho tôi. Bên cạnh những đề nghị thay
đổi chi tiết về kỹ thuật, trong truyện Khi Mười Bảy Tuổi, anh Lê Hữu đã sửa
những chữ sai trong bốn câu thơ và ghi đúng tên tác giả.
Cũng vì mắt ngó trời xanh
Cho nên mắt cũng long lanh màu trời
Cũng vì mắt ngó biển
khơi
Cho nên mắt cũng xa vời đại dương
(“Ngón tay hoa”, thơ Trụ Vũ)
Với hiệu đính này, nhà văn Lê Hữu đã giúp tôi gặp một mối
duyên chữ nghĩa tuyệt vời.
Nay biết mình ghi tên sai tác giả, cũng như sai vài chữ
trong bốn câu thơ, tôi rất áy náy. Tôi cảm thấy thật có lỗi với thi sĩ Trụ Vũ,
khi truyện đã đăng lên báo, sách đã phát hành. Tôi cần phải có lời xin lỗi trực
tiếp đến tác giả. Sau mấy tiếng đồng hồ tra cứu trong internet, tôi từ từ
tìm ra manh mối, dẫn đến những thông tin về thi sĩ Trụ Vũ. Có nhiều bài vở viết
về thi sĩ Trụ Vũ: Ông là một nhà thơ, nhà Phật học nổi tiếng, và còn là một nhà
thư pháp tiên phong của Việt Nam. Đọc trong trang nhà của Phạm Hoài Nhân, tôi
đoán, anh “quen lớn” với thi sĩ Trụ Vũ. Tôi viết thư làm quen với anh Nhân, nhờ
anh giúp tôi “gặp” thi sĩ Trụ Vũ. Anh Nhân cho biết, anh chỉ là bạn của con gái
bác Trụ Vũ. Các cô con gái là trợ thủ đắc lực của bác Trụ Vũ trong sinh hoạt
trên liên mạng. Với địa chỉ anh Nhân giới thiệu, tôi liên lạc với An Hòa, con
gái của bác Trụ Vũ. Sau vài trao đổi với An Hòa, tôi được biết thêm nhiều chi
tiết lý thú. Bác Trụ Vũ cũng gốc Huế. Nhưng sống ở Sài Gòn từ thời trẻ. Chỉ khi
gặp người cùng quê, bác mới nói giọng “Huệ” (cách dùng chữ dí dỏm của An Hòa).
Gia đình bác Trụ Vũ cư ngụ ở gần đường Nguyễn Huỳnh Đức, Phú Nhuận từ năm 1960
(là năm sinh của tôi). Đấy cũng là con đường “của” gia đình chúng tôi cho đến
khi chúng tôi rời Việt Nam năm 1982.
An Hòa giúp tôi chuyển thư xin lỗi vì nhầm tác giả mấy câu
thơ đến thân phụ của cô, thi sĩ Trụ Vũ. An Hòa kể: “Ông khen chị là người tử tế
và rất có trách nhiệm”. Gởi lời xin lỗi đến tác giả, tôi chỉ cầu mong tác giả
không buồn lòng vì chuyện nhầm lẫn của tôi. Tôi có nghe câu chuyện về một nhạc
sĩ gặp trường hợp tương tự. Nhạc sĩ phổ nhạc bài thơ, mà ông tưởng của cô bạn.
Phổ nhạc xong, ông mới biết, tác giả bài thơ là một thi sĩ nổi tiếng. Ông tìm gặp
tác giả để xin phép muộn. Thi sĩ chấp nhận, vì sự đã rồi. Nhưng thi sĩ ấy cũng
đôi lời trách nhẹ nhạc sĩ. Vậy mà, thi sĩ Trụ Vũ, chẳng những không rầy la tôi,
mà bác còn sáng tác bài thơ khoán thủ thật đẹp, tặng cho tôi, nhân mối duyên gặp
gỡ nhau, mối duyên gặp “người đồng hương có tâm hồn yêu văn chương và trân trọng
cái đẹp”. Nhận những lời thăm hỏi của bác Trụ Vũ qua người con gái, tôi tưởng
tượng, bác cũng có giọng Huế giống Ba tôi. Nếu Ba tôi vẫn còn ở trên đời này với
chúng tôi, tôi sẽ đưa Ba đọc bài thơ. Tôi xúc động rưng rưng, tưởng như nghe giọng
Huế, đọc chầm chậm, trầm trầm:
Hoàng hoa thúy trúc nếp xưa nay
Thị của Như, Như của Thị này
Ngọc sáng đôi phương vầng nhật tỏ
Thúy sâu muôn dặm vẻ tâm bày
Khi không khi khổng xinh tà áo
Mười bốn mười lăm đẹp nét mày
Bảy nổi ba chìm thơm ý đạo
Tuổi cài trâm cợt gió heo may.
Trụ Vũ (12/11/2017)
Sau nhiều ngày “làm việc” chung với anh Lê Hữu, anh T. Vấn gởi
bản PDF hoàn chỉnh, chuẩn bị đưa tập truyện vào tủ sách T. Vấn
& Bạn Hữu. Đấy cũng là lúc tôi vừa liên lạc được với thi sĩ Trụ Vũ, qua An
Hòa. Tôi chuyển bản PDF của tập truyện đến thi sĩ Trụ Vũ và An Hòa,
như là độc giả đầu tiên đọc Bông Hoa Trên Phím trong bản điện tử.
Đó đây trong các truyện của Hoàng Quân: Khi Mười Bảy Tuổi,
Bài Ca Hạnh Ngộ, Quẻ Bói Đầu Xuân, Rhodes - Hy Lạp- Hải Đảo Hoa Hồng, những câu
thơ của thi sĩ Trụ Vũ đã tô điểm, đã làm những câu chuyện thêm thi vị.
Tôi có nhiều bạn thân: bạn thuở tiểu học, trung học, đại học;
bạn hàng xóm ở quê nhà; bạn láng giềng ở xứ người… Ngoài ra, tôi có những người
bạn, tôi chưa hề gặp mặt, chưa hề nói chuyện, chỉ trao đổi thư từ trên liên mạng.
Vậy mà, tôi vẫn cảm nhận tình bạn thân thiết, gần gũi. Bởi, chúng tôi “thấy”
nhau qua sự đồng cảm: cùng thiết tha với tiếng Việt. Chúng tôi “nghe” nhau qua
sự đồng điệu: cùng yêu thương tiếng Mẹ đẻ của mình.
Chuỗi tình cờ kỳ diệu, đúng hơn, những cơ duyên có liên quan
đến “trời xanh”, đã cho tôi “gặp” anh Lê Hữu, anh T.Vấn và bác Trụ Vũ, để mắt
tôi vẫn được “long lanh màu trời”. Đấy chẳng phải là ân sủng quý giá của cuộc sống,
là món quà tặng tuyệt vời cho tôi đó sao?
Xin gởi lời cám ơn trân trọng đến thi sĩ Trụ Vũ đã viết những
vần thơ tuyệt đẹp. Xin gởi lời cám ơn trân trọng đến nhà văn T.Vấn, nhà văn Lê
Hữu, họa sĩ Trần Thanh Châu đã chăm sóc đứa con tinh thần của Hoàng Quân, để Bông
Hoa Trên Phím được cùng các tác giả khác góp mặt, là đầu sách thứ 30
trong Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu.
Hoàng Quân
Tháng Giêng 2018
Những câu thơ ghi theo trí nhớ, có hai chữ nhớ sai.
Phụ lục
Khi Mười Bảy Tuổi
Bởi vì mắt ngắm trời xanh
Cho nên mắt cũng long lanh màu trời.
Bởi vì mắt ngắm biển khơi
Cho nên mắt cũng xa vời đại dương
Phạm Thiên Thư*
Cô đang học lớp 11 trường Marie Curie. Ở ngôi nhà màu xanh,
quận Phú Nhuận, luôn rộn ràng bạn bè thân quen lui tới. Có nhiều người là bạn
chung của mấy chị em, thân thiết với cả nhà. Anh học ngang lớp ông anh cả của
cô. Anh hay đến chơi. Cô đoán, anh thích chị lớn. Đôi khi, cô lại nghĩ, có lẽ
anh mết chị nhỏ. Thường, cô hay bận tâm, “xem xét”, mỗi khi thấy có chàng nào
ngấm nghé mấy bà chị. Nhưng theo con mắt cú vọ sắc lẻm của cô quan sát mấy thí
sinh, cô chấm điểm anh từ khá đến giỏi. Bởi thế, khi anh đến nhà, cô không phải
tung ra những chiến dịch “phá duyên”. Anh “cua” chị nào cũng được. Anh đến
chơi, vui vẻ với mọi người trong nhà. Anh kể nhiều chuyện, từ lịch sử, địa lý,
đến khoa học, văn chương. Là những câu chuyện thật lý thú, hấp dẫn. Trong mắt
cô, anh là một nhà thông thái uyên bác. Cô có thắc mắc, anh luôn có lời giải
đáp. Cô thật sự khẩu phục, tâm phục. Có lần anh nói chuyện tử vi. Cô ưu tư tuổi
Canh Tý của mình, đem lá số của cô ra hỏi anh. Anh cắt nghĩa về những cung này,
sao nọ. Anh phân tích như thế nào đó, mà cô hết băn khoăn với lá số tử vi của
mình. Khác hơn những dự đoán ông thầy đã diễn giải trong lá số tử vi của cô, mà
Ba cô đã nhờ chấm số khi cô còn nhỏ. Anh hỏi cô có thích tự giải lại lá số của
cô không, anh sẽ hướng dẫn. Lúc đó, cô cảm thấy hài lòng với những lời bình của
anh về lá số tử vi của cô. Cô đang bận tíu tít thư từ với đám bạn cũ và lăng
xăng nối vòng tay với đám bạn mới. Nên cô dạ dạ, hẹn lần, hẹn lữa, rồi quên bẵng
luôn. Anh vẫn đến chơi đều đặn. Khi hóng chuyện, cô vẫn những thích thú, ngưỡng
mộ. Hết chuyện, cô phóng xe đạp lên nhà nhỏ bạn ở quận 10 tán dóc. Hoặc chạy
qua chợ Tân Định, rủ nhỏ bạn khác dạo phố. Hay tà tà tới gần chợ Trương Minh Giảng,
thưởng thức món đậu luộc bỏ đường của má nhỏ bạn xưa... Cô vui với ngày tháng độc
thân vui tính như vậy. Chẳng thắc mắc, khi hai bà chị mình yêu đương ra rít,
khi nhỏ em gái đi chơi lăng quăng với bồ. Cô vẫn luôn nghĩ rằng, mình sẽ không
bao giờ lập gia đình, để được ở hoài với Ba Mạ.
Một buổi chiều, cô chèo queo ở nhà. Muốn đi chơi, mà nhà chẳng
còn chiếc xe đạp nào. Ai nấy vi vút đâu đâu rồi. Chỉ cầu may có nhỏ bạn nào tới
rước. Dạo đó, đồ đạc trong nhà cứ lần lượt ra đi. Nhất là những tài sản có tính
chất “tư bản”. Cho nên, có thời kỳ, dân Việt hình như không có cơ hội biết đến chức
năng của điện thoại. Cô đi tới, đi lui. Nhà cô nhỏ xíu. Đi tới mấy bước, đụng cửa
sắt trước. Đi lui mấy bước, đụng cửa gỗ sau. Lúc đó, anh đến. Thôi thì, buồn ngủ
gặp chiếu manh. Không vui bằng đạp xe vịn tay mấy nhỏ bạn, chạy hàng năm, hàng
ba, dung dăng trên những con đường rợp bóng cây, hay quây quần bên hàng chè đậu
xanh, đậu đỏ. Nhưng có người nói chuyện, vẫn hơn lủi thủi một mình giữ chùa.
Sau màn chào hỏi như thường lệ, cô xuống bếp. Bấy giờ, củi lửa khó khăn, mấy chị
em cô nấu nướng đơn giản. Ông anh từ xứ sở tư bản gởi về cho cái bếp điện. Nên
chị em cô chỉ phải chi tiền điện, chớ không phải đỏ mắt, phồng má vì than củi.
Cô lúi húi nấu nước sôi pha trà. Tiếng anh vọng xuống:
-Có cần anh giúp gì không?
-Dạ không. Em rành mấy vụ điện đóm này lắm.
Thật ra, không phải cô rành về điện. Mà vì điếc không sợ
súng. Hễ bếp có gì trục trặc, cô cứ mở đại mấy ốc vít ra coi phía trong, rồi
lau lau, vặn vặn. Sau đó, máy móc lại như lành bệnh. Cô chăm chú với bình, với
tách, mà không hay anh đã đứng sau lưng cô. Cô hoảng sợ tưởng như tiếng nói
không thoát ra cổ họng được, khi anh ôm choàng lấy cô, thì thầm:
-Bé con, sao bé con dễ thương dữ vầy hả?
Cô kinh ngạc, dãy dụa. Nhưng xem ra sức lực bẻ gãy sừng trâu
của cô chẳng là bao so với anh. Khi anh xoay người cô lại, bắt gặp đôi mắt mở
to, sợ hãi của cô, anh cúi xuống:
-Bé con, sao vậy hả? Em không thấy là anh thương em sao?
Anh nhấc bổng cô lên:
-Bé con, em phải biết là anh thương em chứ!
Cô không trả lời, cứ cố gỡ hai cánh tay anh đang ôm chặt.
Anh để cô đứng xuống, buông tay ra. Anh nâng cằm cô lên, hôn má, hôn trán cô:
-Em không cần trả lời ngay bây giờ.
Cô nhìn trừng trừng vào anh.
-Bé con nhắm mắt lại đi. Anh cúi xuống hôn môi cô.
Cô nhìn sững, thấy cặp mắt kính dày cộm của anh thật gần. Cô
lùi lại mấy bước, kịp thấy nước đã sôi. Cô luống cuống, lấy trà, pha nước.
-Bé không nói gì với anh được sao?
-Dạ, dạ... - Khó khăn lắm vài thanh âm mới thoát ra khỏi cổ
họng. - Mời anh uống nước trà.
-Cám ơn bé con. Bây giờ anh về. - Anh vuốt má cô- Lần tới nhớ
nghĩ câu trả lời cho anh nghe.
Cô không nhìn anh nữa mà cúi gầm mặt. Cô chẳng biết anh ra
khỏi nhà ra sao. Anh đã nhẹ nhàng kéo cửa sắt xếp lại như cũ. Cô trở vào bếp,
nhìn chăm chăm tách trà. Tưởng như chung quanh trời đất quay cuồng. Lòng cô ùn
ùn cơn giận anh. Tại sao anh lại dám ôm cô. Ai cho phép anh hôn cô. Ý nghĩ kế
tiếp làm cô sợ muốn quỵ. Vậy là cô thành “bồ” của anh rồi. Tức là, cô sẽ phải lấy
anh làm chồng. Như vậy là dự định ở hoài với Ba Mạ suốt đời tan thành mây khói.
Càng nghĩ cô càng tức anh. Người cô nhũn ra, như muốn bịnh. Đến chiều tối, cô
cù rũ như gà mắc mưa. Không cười nói nổi. Đêm đó, cô ngủ chập chờn. Cứ nghĩ đến
buổi chiều, tức giận vẫn còn đó. Nhưng khuôn mặt anh với cặp mắt kính, có lúc
thật dễ ghét mà có lúc hình như cũng… không dễ ghét lắm. Ngày sau anh đến, có
nhiều người trong nhà. Anh vẫn chuyện trò vui vẻ với mọi người, không có gì đặc
biệt với cô. Cô vừa ngạc nhiên, vừa thất vọng. Cô không thèm ngồi góp chuyện, bỏ
ra ngồi ngoài hè đọc truyện. Nghe tiếng anh chào ra về, cô đứng dậy, tránh qua
một bên để anh dắt xe ra cửa. Cô cúi đầu, cố lấy giọng tự nhiên:
-Dạ, anh về ạ.
-Ô! Chút xíu nữa anh quên. Anh có mang cho em cuốn sách
đây.
Cô đưa tay nhận cuốn sách, lí nhí nói cám ơn. Không dám ngước
lên, dù rất muốn thấy ánh mắt của anh sau làn kính ra sao. Cô kéo ghế ngồi, vờ
đọc tiếp sách, lật vài trang cuốn sách anh mới đưa. Từ đó, anh hay đến chơi, vẫn
thăm hỏi cả nhà, và mang sách đến cho cô. Giữa những trang sách là những thư
anh viết ngày càng dài. Anh gọi cô là chó con, mèo con, dù anh biết cô là chuột
con. Cô chưa có dịp trả lời, “Dạ có” cho câu hỏi của anh. Cô cũng chưa bao giờ
viết thư cho anh, dù lòng cô muốn viết còn dài hơn những lá thư hàng năm bảy
trang của anh. Nhưng chắc chắn anh hiểu cô, và đón nhận ánh mắt rạng ngời yêu
thương đôi lần cô gởi gắm. Cô đâm lười, không còn hăng hái chạy đó đây đùm túm
với bạn bè. Cô ưa quanh quẩn trong nhà. Vốn đã thích đọc sách. Giờ đây cô lại
càng mê mẩn hơn. Cô như trong tâm trạng - Khi ấy em còn thơ ngây. Đôi mắt
chưa vương lệ sầu. Cười đùa qua muôn ánh trăng... Rồi một hôm, Có chàng trai trẻ
đến nơi này, Đời em có một lần, Là lần tim em thấy yêu chàng…
Mùa hè, cô về quê, ấp úng kể cho mấy đứa bạn thân rằng, cô
biết yêu. Tụi bạn xúm lại, bắt cô làm bài luận tả người. Cô chỉ biết kể là anh
lớn hơn cô mười tuổi và cận thị. Tụi bạn dụ cô kể, hai đứa đi chơi những đâu,
tình tự những gì. Cô chưa bao giờ đi chơi với anh. Lần nọ, có mặt đông người,
anh rủ cô đi chơi. Cô từ chối, vung văng. Ánh mắt của cô chắc hung dữ lắm. Cô
có thú nhận với bạn bè, cô xao xuyến, bồi hồi ghê lắm, khi đọc những lá thư dài
ơi là dài của anh. Cô cũng kể thiệt, về quê gặp gia đình thì vui, nhưng cô nhớ
anh lắm. Mặc dù ở Sài Gòn, cô đâu gặp anh nhiều đâu. Cô giấu tiệt đám bạn, là
anh có lần ôm cô, hôn cô. Hết hè, cô về lại Sài Gòn. Cô nhớ Ba Mạ và mấy đứa em
quay quắt. Chỉ muốn ở lại luôn ngoài quê. Vào lớp 12, cô gặp vấn đề về hộ khẩu,
sợ không làm được thủ tục thi tốt nghiệp phổ thông. Cô đã khóc tấm tức suốt đường
về, khi cô giáo chủ nhiệm nhắc cô hạn chót phải nộp lý lịch với chứng nhận của
phường khóm. Thôi, như vậy chắc trường sẽ đuổi cô, cô hết được đi học. Nghĩ đến
điều này, cô buồn khủng khiếp. Lúc đó, cô quá mê đi học. Khi anh đến chơi, cô vẫn
trong cơn âu sầu sợ bị đuổi học. Cô chưa có dịp tâm sự nỗi lo của cô với anh.
Cô vội vàng giấu biến lá thư anh ép trong sách. Nhưng không còn những nôn nao,
tìm góc vắng để đọc thư như những lần trước. Sau đó, chị cô đã lo được cho cô
các giấy tờ cần thiết. Cô có tên trong danh sách những thí sinh dự thi tốt nghiệp
trung học của niên học 1977-1978. Cô mừng quá chừng. Cô trân trọng những giờ học.
Mỗi sáng đạp xe đến trường, lòng cô rộn khúc hoan ca. Thường cô học khá. Giờ
đây, cô lại giỏi hơn. Cô sung sướng là học trò ruột của cô giáo Anh Văn. Cô
hăng hái nhận làm bài thuyết trình về Châu Mỹ La Tinh của cô giáo Sử Địa. Trường
lớp với cô bỗng nhiên là tâm điểm trong mọi sinh hoạt của cô. Tự dưng cô không
mong anh đến. Chẳng có một lý do nào rõ ràng, cô tránh mặt anh. Khi anh đến, nếu
đang ở nhà sau, cô chuồn ra bếp, đi tắt hẻm nhỏ, thơ thẩn ra chợ. Hoặc đi đâu về
đến nhà, vừa hé cửa sắt, thấy xe của anh, cô đạp xe đi dạo lòng vòng thật lâu.
Có lần anh đến, cô không tránh được, nên vẫn ngồi nhà. Cô nhớ mình ngồi thu lu
nơi ghế dựa, lấy cuốn sách che mặt, vờ ngủ. Hình như lúc đó cô cảm thấy ghét
anh. Kiểu như ghét đào đất đổ đi. Không hiểu tại sao. Không biết anh đã ngồi
trong im lặng bao lâu. Có lẽ anh nhìn thấy sự thay đổi tình cảm trong cô. Lần
sau cùng, anh đến, cô vắng nhà. Anh có nhờ đưa cho cô cuốn Bóng Tối Ở Cuối
Đường, cuốn truyện dịch từ Die Nacht von Lissabon của văn sĩ người Đức
E. M. Remarque, không kèm thư trong sách như những lần trước. Nhớ có lần anh kể,
anh đang tìm đường vượt biên. Từ đó cô bặt tin anh. Trên trường cô vẫn vui với
bạn bè. Vẫn nhí nhảnh đùa giỡn. Vẫn chép thơ, chép nhạc trao đổi với mấy nhỏ bạn.
Vẫn rù rì chuyện trên trời, dưới đất. Trong lớp có Nguyễn Thừa Thiên, học rất
giỏi. Nghe tên đoán được quê ở đâu rồi, mặc dầu Thiên nói giọng Bắc 54. Ngày nọ,
khi đọc bài trong giờ Văn, Thiên đang từ giọng Bắc chuyển qua giọng Huế. Cô
quay xuống bàn dưới, cũng là lúc Thiên ngó lên cô. Cả lớp ban đầu ngạc nhiên,
nhưng sau đó cười ồ. Cô cũng cười giòn giã, vui vui. Có cảm động một chút. Rồi
thôi. Cô đối với Thiên cũng như với các nam sinh khác trong lớp. Thỉnh thoảng
đi học về, tình cờ gặp Dũng lớp bên cạnh, hai đứa đạp xe chung một quãng trên
đường Trương Minh Giảng. Có lần Dũng tâm sự, Ba Mạ Dũng người Huế, mà Dũng
không nói được giọng sông Hương, dù rất muốn. Dũng là tay giỏi chữ nổi tiếng của
mấy lớp ban Văn. Cô lại cười cười, thấy Dũng dễ mến. Nhưng chỉ vậy, cô vẫn chưa
đặt câu hỏi, bao giờ (lại) biết tương tư.
Cô lên đại học, hình ảnh của Thiên và Dũng dừng lại ở Marie
Curie. Cô vẫn giữ những cuốn sách anh tặng cô. Những lá thư dài của anh cô cất
rất kỹ. Rồi đến khi, nghĩ là không nơi nào an toàn, cô đem thư đọc lại, giữ
trong trí nhớ. Xong, xé thư. Cô nhớ, trong một lá thư anh viết:
Bởi vì mắt thấy trời xanh,
Cho nên mắt cũng thanh thanh màu trời.
Bởi vì mắt thấy biển khơi,
Cho nên mắt cũng xa vời đại dương.
Đôi khi cô nhớ anh bâng khuâng. Nhưng cô không mường tượng
ra khuôn mặt của anh thế nào. Lần nọ, anh hát cho cô nghe bài Suối
Tóc của Văn Phụng, một bài hát anh rất yêu. Anh hỏi cô, “Biết anh thích nhất
đức tính nào của phụ nữ không?” Cô lắc đầu. Anh nhẹ nhàng, “Dịu hiền. Dịu hiền
như bé con của anh.” Thời cô vào đại học, cô nghịch ngợm dữ lắm. Bạn bè đùa, cô
đến đâu, không chết trâu, cũng chết bò. Có anh bạn còn so sánh cô với chó mèo
chim cá và với cả cọp nữa. Nhưng khi cô mười bảy tuổi, với anh, cô rất dịu hiền.
Thuở làm sinh viên, với cô, là những ngày tháng hoa mộng
trong đời. Giữa muôn háo hức của trường lớp mới, vẫn có những lúc cô nghĩ đến
anh. Cô không còn cảm thấy ghét anh. Một lần, trong giấc mơ, cô thấy anh hát
bài Michelle của The Beatles Michelle ma belle, sont les mots
qui vont très bien ensemble, très bien ensemble. I love you, I love you, I love
you, That’s all I want to say. Giấc mơ thật nhẹ nhàng. Tự dưng cô nghĩ đến
tên Michael. Đôi lần trong nhật ký thời đại học, cô có nhắc đến Michael, là cô
nhắc đến anh. Nhưng cho đến bây giờ, bao nhiêu năm qua, cô không hề nghe tin tức
nào về anh.
Bởi vì mắt ngắm trời xanh
Cho nên mắt cũng long lanh màu trời.
Bởi vì mắt ngắm biển khơi
Cho nên mắt cũng xa vời đại dương
Cô xúc động ngẩn ngơ. Trời ơi! Đây là mấy câu thơ “của
riêng” cô bao nhiêu năm nay rồi. Đã qua thuở xưa hơn ba thập niên. Đã xa chốn
cũ hơn mười ngàn cây số. Nhưng bây giờ, thời gian như ngừng lại, không gian như
quanh đây. Hình ảnh của mấy chục năm trước nơi quê nhà, lúc ẩn lúc hiện, nhưng
êm đềm, đằm thắm trong trí cô. Cô thấy lại con bé mười bảy tuổi, mặc bộ đồ màu
đỏ hồng có chấm trắng, tóc xõa ngang vai. Con bé ngỡ ngàng, run rẩy, hỏi mình
biết yêu rồi chăng?
Cô vội liên lạc người bạn, hỏi xuất xứ của mấy câu thơ. Thì
ra, thi sĩ Phạm Thiên Thư đã viết bài thơ cho nàng thơ của ông ta, và có thể
cho tất cả bạn thơ. Nhưng đối với cô, mấy vần thơ đó là của anh, chép cho cô,
cho mối tình thơ dại của con bé mười bảy tuổi ngày xưa.
Tháng Tám 2013
Trích lời ca trong các nhạc phẩm:
Thơ Ngây của nhạc sĩ Anh Việt
Michelle by The Beatles
* Giữ nguyên văn như trong ấn bản 2015.

