Văn chương Việt Nam vẫn ví von Mẹ qua hình ảnh
cánh cò, tôi thì lại thấy mẹ tôi thật là cánh cò, và mẹ đẹp như những
câu thơ của Từ Kế Tường:
Mẹ như cánh cò nơi bãi vắng
Tôi lênh đênh chẳng khác dòng sông
Cánh cò đẫm mùi bùn thầm lặng
Cả một đời mẹ mãi long đong
(Mẹ và Cánh Cò – Từ Kế Tường)
Trong mỗi mái nhà ở quê tôi, ai ai cũng có một cánh cò thương khó, dù anh là anh bộ đội hay anh lính cộng hoà. Cánh cò của tôi, giờ đây tuy đã cách xa quê hương hàng đại dương vẫn chẳng hề đổi thay – vẫn cái áo bà ba màu nâu xẫm, vẫn chiếc nón lá lấp lánh trong nắng trưa phố Bolsa, … Và dưới cái nón lá ấy, trong bộ bà ba ấy, tâm hồn mẹ là cả một quê hương.
Mẹ yêu quê hương tự nhiên như mây yêu bầu trời,
như cây yêu rừng xanh. Tình yêu ấy không bị vướng mắc vào chủ nghĩa
này, chính kiến nọ. Thời còn là thiếu nữ làng Mai Sơn môi hồng má thắm, mẹ từng
theo Việt Minh đi hát dân công. Đêm đêm, mẹ cùng các thiếu nữ trong
làng đi đến các đồn Tây. Công tác của các cô là hát hò, hát ví, hay dùng loa cầm
tay kêu gọi những người đi lính Tây buông súng trở về với xóm làng. Mỗi
khi lính trong đồn bắn ra hàng loạt đạn, các cô lại nằm thụp xuống bờ ruộng
để tránh, và cứ thế họ hát cho đến nửa đêm mới về nhà.
Thời cách mạng thành công, rồi Cải Cách Ruộng Đất, chính mẹ cũng
lại cùng một số gia đình trong làng nuôi dấu những vị linh mục đối
kháng. Mẹ tôi là một phật tử thuần thành nhưng bà hay nói về các
linh mục ấy với một lòng tôn kính. Ngày ấy, một linh mục bị cộng
sản truy bắt đã được dấu trên căn gác xép của nhà mẹ tôi. Theo lời bà,
ngài được luân chuyển hết từ nhà này đến nhà khác trong vùng. Cứ sáng
sáng, mẹ lại đem một rổ tro bếp lên cho ngài đi vệ sinh. Cho đến
một hôm, khi ngài vừa rời khỏi thì cộng sản ập vào nhà mẹ. Sau này, tôi cứ tiếc
mãi rằng đến khi tôi đủ quan tâm để tìm biết tên vị linh mục kia
thì những mảng ký ức trong đầu mẹ đã bị xoá. Mẹ đã mang chứng
bệnh mất trí nhớ “alzheimer”.
Kể câu chuyện trên, tôi muốn nói với bạn đọc về những
bà mẹ quê tôi. Mẹ có thể ít học, có thể không biết gì về chính
trị, khoa học, … nhưng mẹ không ngại hiểm nguy khi phải đứng cùng lẽ phải,
khi phải hy sinh cho những điều lớn lao hơn mình. Và tính cách ấy
được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ thế hệ của
bà, của cụ cố chúng tôi.
Ở đất nước tôi, ai ai cũng được nuôi lớn lên bằng lời
ru của mẹ. Tiếng ru của mẹ thấm vào mạch máu, tiếng à ơi những đêm sâu như
còn đọng mãi trong ký ức. Chiến tranh ở đâu đó, nhưng nó đâu có
át được tiếng kẽo kẹt êm đềm, tiếng võng mẹ đưa những trưa vắng và những
câu ru. Ơi! những câu ru:
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về
Bắt được con bống con trê
Nắm cổ lôi về cho cái ngủ ăn
Cái ngủ ăn, cái ngủ chóng lớn, cái ngủ yêu
con bống con trê, yêu bờ ruộng, yêu mảnh đất quê nghèo thấm đẫm câu ru của
mẹ. Mẹ yêu con và dạy con yêu đất nước mình. Đất chẳng là gì cả, người ta
sẽ bỏ đất ra đi, nhưng khi mẹ làm chốn ấy trở thành đất
mẹ thì tất cả hóa linh hồn.
Rồi con lớn lên, con đi theo lời gọi của núi sông. Mẹ hướng
mắt theo con, con ra đi và sẽ trở về khi đất mẹ yên bình.
Người bộ đội mơ một ngày hoà bình cho mẹ hết khổ, cho đường quê hương
nở đầy hoa. Nhưng tất cả chỉ là giấc mộng, hoà bình rồi oan khuất
vẫn cứ trùng trùng trên đất mẹ.
Người lính miền nam mơ ngày trở về, mẹ đón anh
trên cánh đồng lúa vàng với tiếng sáo diều vi vu thay tiếng đạn bom. Nhưng
ngày ấy không tới, rồi mẹ lưu vong ôm mãi giấc mơ hồi hương! Mẹ tôi
hay bảo: “vì chiến tranh loạn lạc mà tới đây, mai kia không còn cộng
sản nữa thì mình về quê mình chứ con. Không ai muốn chia lìa, không
ai bỏ quê mình ra đi vì nghèo khó”
Mỗi 30 tháng 4, khi cờ vàng bay rực phố là đôi mắt
mẹ tôi ánh lên một niềm tự hào. Câu mẹ nói hơn bốn mươi năm trước,
giờ ở tuổi chín mươi mẹ vẫn nói: “con thấy không, người Việt mình giỏi
lắm đi đến đâu là cờ rợp phố, đi đâu cũng nhìn thấy Việt Nam”.
Mẹ chẳng thiết đi du lịch, chẳng thiết đi đâu chơi, chỉ thích
đi họp cộng đồng hay đi biểu tình. Ngày ca nhạc sĩ Việt Dũng còn sống, trong một
buổi họp cộng đồng, anh hô to khẩu hiệu cổ vũ xoá bỏ điều
4 hiến pháp. Mẹ chưa bước khỏi xe, chưa kịp cầm gậy đã hô to “xoá bỏ, xoá
bỏ, xoá bỏ …” Giờ anh đã đi lâu rồi, biết bao nước trôi qua cầu, bao
người trẻ tuổi đã rời bỏ cuộc đời này mà mẹ vẫn còn đây với mái
tóc bạc trắng thời gian.
Chẳng biết ai là người đầu tiên đã ví von mẹ qua
hình ảnh cánh cò. Nhưng con cò sao mà giống mẹ tôi quá vậy? lúc nào
cũng một mình. Cái hình ảnh con cò một mình nơi ao nông, cái hình ảnh
mẹ tôi một mình với đàn con qua chiến tranh – mẹ cõng con chạy giặc;
mẹ gánh gồng con trên đôi quang gánh; mẹ lầm rầm đọc kinh trong hầm
bao cát khi những trái hoả châu sáng rực ngoài trời, … Chiến tranh là thế!
Gian nan là thế! Nhưng nó đâu có làm mẹ quên mất quê hương. Ngược lại là
khác, mẹ vẫn nhớ từng gốc cây bờ ruộng, từng con rạch bờ đê.
Mẹ thường bảo mai này khi tôi có dịp về đất bắc, hãy tìm lại cho mẹ cây
sung ngày xưa, cây sung mẹ vẫn leo trèo thời con gái. Cây sung nay đã ngả dài
bên bờ ao, con nước ngày xưa hẳn còn in dấu hình ảnh xinh đẹp của cô
Tấm ngày nào.
Ai đã làm cho quê hương không còn là đất mẹ, cho người Việt
tiếp tục dứt áo ra đi, và để mẹ tôi cứ mơ mãi giấc mơ được trở về quê
mình. Bốn mươi năm, mẹ mang quê hương đến xứ người; giờ tóc mẹ đổi
màu, tình yêu đó vẫn chẳng đổi thay. Mẹ nói hết cộng sản thì mình về quê
mình, nhưng quê mình đâu còn cộng sản nữa mẹ ơi! Chỉ cái tên thôi.
Mẹ tôi đã ở vào cái tuổi chín mươi. Bao giờ ước
mơ của mẹ trở thành sự thật? Bao giờ cho quê mình dẹp được
cái ác? Bao giờ, bao giờ con đưa được mẹ về? Ơi! cánh cò của tôi.
Ai cũng có sông quê, đường cỏ
Thương cánh cò lận đận quanh năm
Mỗi mùa thu vàng thêm sắc lá
Tóc mẹ rơi mây trắng âm thầm
(Mẹ và Cánh Cò – Từ Kế Tường)
Nguyệt Quỳnh
