— Thơ Nguyễn Du thật độc đáo.
— Ôi tư tưởng tân kỳ táo bạo. Mừng bạn có nhận định sắc
bén, mới lạ. Bạn nói về Truyện Kiều chăng?
— Không.
— Nói về ‘Độc Tiểu Thanh ký ‘, “tam bách dư niên hậu”
chăng?
— Không. Tôi định nói về thơ thịt cầy.
— Trời! Tiên sinh có cả thơ thịt cầy nữa à? Nếu quả có hẳn
là độc đáo, không sai.
— Sao lại “nếu”? Có chứ. Này nghe:
“... Nhân sinh vô bách tải
Hành lạc đương cập kỳ
Vô vi thử bần tiện
Cùng niên bất khai mi
Di Tề vô đại danh
Chích Kiểu vô đại lợi
Trung thọ chỉ bát thập
Hà sự thiên niên kế
Hữu khuyển thả tu sát
Hữu tửu thả tu khuynh
Nhãn tiền đắc táng dĩ nan nhận
Hà sự mang mang thân hậu danh”.
Đó là một đoạn trong bài từ ‘Hành lạc’1. Thịt chó
hiển hiện rõ ràng. Thấy không?
— Quả nhiên. Đúng nó. Đọc lên nghe thơm phưng phức. Người
xưa từng nói đến thứ văn hay đọc thơm tho cả miệng lưỡi. Là đây chăng? Giá có
luôn cái nghĩa...
— Có đấy. Hai ông Phạm Khắc Khoan và Lê Thước
đã dịch ra Việt ngữ:
... “Người không sống trăm tuổi
Gặp thì nên vui chơi
Chớ giữ nếp nghèo khó
Lo lắng suốt đời người
Di Tề không danh lớn
Chích Kiểu không giàu to
Trung thọ chỉ tám chục
Tội gì ngàn năm lo
Có chó cứ làm thịt
Có rượu cứ nghiêng bầu
Được mất trên đời chưa dễ biết
Cần gì lo tiếng hão về sau”.
— Mấy câu chót... thấy nó thế nào. Những câu trên không
nói làm gì, nhưng từ cái chỗ “có chó” là phải khác. Có chó là có khác, lẽ ra phải
thế. Dân nhậu đớp thịt cầy ai lại “nghiêng bầu”? trông nó cổ lỗ, khệ nệ quá.
Mình có nên điều chỉnh cái khẩu khí lại một chút cho hợp thời hợp cảnh không?
Chẳng hạn:
“Có cầy nên hạ gấp
Có rượu hãy dzô mau
Được thua trước mắt còn chưa rõ
Sá gì danh hão chuyện mai sau”.
Bạn nghĩ sao?
— Từ từ, sẽ nghĩ về bạn sau. Lúc này nghĩ về Nguyễn Du.
— Bạn làm tôi mất hứng quá. Tuy vậy, tôi nhất trí với bạn:
Nguyễn Du là độc đáo. Hơn nghìn năm văn học ký tải ở Việt Nam dễ gì tìm ra thơ
thịt cầy? Phải chịu là món hiếm hoi.
— Thế là xong một khoản Nguyễn Du độc đáo. Còn khoản thịt cầy:
theo ý bạn thế nào?
— Nhất. Đó không phải ý tôi. Đó là ý kiến toàn dân, từ
trên xuống dưới. Trên, tức hạng Nguyễn tiên sinh. Sinh ra là con một ông quận
công, hai anh làm quan lớn, tài danh nổi tiếng một thời, trong nhà đàn hát yến ẩm
quanh năm, món ngon vật lạ không thiếu thứ gì. Xuất ngoại một phen thì cầm đầu
sứ bộ, đi tới đâu được nghênh tiếp trọng thể cấp dưỡng thừa mứa tới đó:
“... Quân bất
kiến sứ thuyền triêu lai cung đốn lệ?
Nhất thuyền
nhất thuyền doanh nhục mễ
Hành nhân bão
thực tiện khí dư
Tàn hào lãnh
phạn trầm giang để...”2
Dọc đường đã thế, đến triều đình phải biết! Thế mà khi có
rượu, tiên sinh không hề nghĩ đến nem công chả phụng, đến thứ cao lương mỹ vị
nào, tiên sinh chỉ ao ước hạ một con cầy.
Dưới, là dân gian khắp nước. Ai mà không biết câu “Sống
trên đời ăn miếng dồi chó, thác xuống âm phủ biết có hay không?” Thấy chưa? Người
ta không ăn thịt chó như ăn các thứ thịt khác trên thế gian. Ăn mọi thứ thịt
khác, bất quá tấm tắc khen ngon. Ăn thịt chó thì vừa ăn vừa kêu trời. Bạn nhẩm
lại cái chỗ “Thác xuống âm phủ...”, rồi bạn chịu khó ngẫm nghĩ, băn khoăn, trăn
trở, suy tư giùm xem, bạn chịu khó khảo cứu truy tầm giúp cho, xem trong kho
tàng văn học của ta tự cổ chí kim có câu tán tụng thứ thịt nào khác mà não nuột,
mà thiết tha đến thế chăng? Quái lạ, quái lạ thật. Thì ông cứ nhai nhồm nhai
nhoàm, nuốt xong ông phê một tiếng “Tuyệt”, thế là miếng thịt dính trong kẽ
răng nó đã run bắn lên vì sung sướng. Hà tất phải rít lên, phải viện dẫn đến cả
cái sống cái chết, đến cả dương gian với âm phủ. Gì mà thống thiết vậy hả Trời?
Nhưng có lẽ ta nên khe khẽ. Khen thịt cầy, cứ oang oang
lên, lỡ Mỹ nó nghe...
— Sợ nó lôi ra tòa án Long Beach kêu tù à?3
— Không đến nỗi thế. Nhưng ngại nó chê mình ... kém văn
minh.
— Kỳ thị một cách đáng xấu hổ. Chuyện khẩu vị không phải thuộc
vấn đề văn minh. Mỗi dân tộc có một sở thích ăn uống. Tàu là nước văn minh cao,
Tàu ăn vịt, món vịt Bắc Kinh nổi tiếng khắp thế giới, trứng vịt bắc thảo Đặng
Tiểu Bình nghiện nặng, đi viếng Hoa Kỳ mấy hôm không nhịn được; thế mà Mỹ không
dùng cả thịt vịt lẫn trứng vịt, Tàu vẫn tha thứ không chê là kém văn minh. Dân
này khoái trứng cá muối như điên, dân nọ không màng ngó tới. Xứ này ham xơi
phao câu, ham gặm giò gà, giò heo, dùng rùa hầm, lươn um; xứ khác chưa từng thử
đến. Nơi này khoe thịt trâu ngon tuyệt, nơi kia trề môi nhún vai...
Thượng Đế làm ra mỗi người một cái lưỡi riêng, mỗi người một
bao tử riêng: không có ai nuốt lộn vào bao tử người khác cả, không ai làm phiền
ai cả. Tùy nghi, tùy thích... Tự do. Thấy chỗ dị biệt đem ra bàn tán nghí ngố
thì được, còn chê khen văn minh hơn kém này nọ dám mất lòng lắm đa.
Lòng yêu thịt cầy không phân chia đẳng cấp trên dưới, không
phân biệt chính trị tả hữu. Một hôm gặp người đẹp, cõi lòng rung động mạnh, ông
Bùi Bảo Trúc đem hết sự duyên dáng ra bảo rằng ông “rất thích chó (...) khi nào
chó được nấu nướng kỹ càng và bày thật đẹp trên dĩa đặt trên bàn.”4 Một
nhân vật của bà Dương Thu Hương đứng bên kia bờ ảo vọng tuyên bố với người yêu:
“Rượu, thịt chó là món em khoái nhất. Đứa nào không biết ăn thịt chó thì thật
là ngu.” Kẻ nam người nữ, kẻ chống cộng người theo cộng, kẻ bên này người bên
kia bờ Thái bình dương, họ ca tụng thịt cầy toáng cả lên. Bạn lo ngại cái gì kỳ
cục vậy?
— Ngại người Mỹ họ có thể bảo chúng ta xơi thịt cầy là
không biết thương một con vật gần gũi...
— Đừng có ai đòi dạy ai về tình thương nhé! Gần đây ở Âu Mỹ
có phong trào bảo vệ súc vật. Các ông các bà làm ồn nhiều lắm. Trong những xứ
hâm mộ thịt cầy như Việt Nam, Trung Hoa, Đại Hàn v.v... từ hàng nghìn năm qua
có bao nhiêu triệu người lặng lẽ ăn chay, ăn chay trường, và lâu lâu lại bỏ tiền
ra mua cá, mua chim để thả xuống nước, thả lên trời.
— Này, giá lúc này có câu thơ thương chó đưa họ xem thì
tiện nhỉ.
— Có đấy:
“... Niệm nhĩ
thuộc thổ súc
Dữ nhân mao cốt
đồng”...5
“Thổ súc dữ nhân mao cốt đồng”. Thương đến thế mới là thương
sâu đậm. Thật... “thương cầy như thể thương thân”. Thấy xác con cầy chết trong
núi, không cần biết cầy của ai, mà động lòng than thở như vậy, đời nay mấy kẻ?
— Thơ gì? của ai vậy?
— Thơ “Điệu khuyển”, vẫn của Nguyễn Du. Trong Nam trung tạp
ngâm. Điệu khuyển, nghĩa là thương chó.
— Trời, cụ Nguyễn! Hết xẩy.
— Thấy chưa? Bạn chỉ giỏi được cái đọc thơ leo lẻo, mà không
chịu thấy tấm lòng của Nguyễn tiên sinh. Kẻ sĩ yêu cầy là đấy, kẻ sĩ yêu thịt cầy
cũng là đấy. Cho nên không thể vì “văn minh”, vì biết thương loài vật mà không
ăn thịt cầy. Con vịt, con bồ câu, con rắn mối v.v... có phải là loài vật không?
con bò, con heo có phải gia súc không? tại sao người Mỹ trông thấy ăn thịt những
con vật ấy họ không chồm người lên giận dữ như khi trông thấy ăn thịt cầy? Đối
với họ con cầy có khác những thú vật kia.
— Khác thế nào? Cầy là gì của người Mỹ? Con cầy có địa vị
ra sao trong đời sống Mỹ? Hả?
— Xem nào: Không thể nói về cái địa vị chung chung. Xét về địa
vị trong tín ngưỡng chẳng hạn: có nơi lấy con này làm vật tổ có nơi thờ con kia
làm vật tổ; vật tổ phải có địa vị cao. Lại như vì lý do tôn giáo, con bò có địa
vị cao ở Ấn-độ. Trong huyền thoại Ai-cập thì thần Marpi mình người mà mang đầu
chó, cho nên thuở xưa Do-thái thù chó mà Ai-cập kính chó. Còn ở Ba-tư ngày xưa
cũng có thời luật pháp trừng trị kẻ nào phụng dưỡng chó không chu đáo, chẳng hạn
cho chó ăn những món không xứng đáng...
— Tốp! Tốp! Địa vị tôn giáo, không cần. Nhân danh chính
sách tiết kiệm năng lượng, xin tốp ngay cho. Ta không thờ chó, Mỹ cũng không thờ
chó, nói chuyện ấy làm gì.
— Vậy hãy nói về địa vị của chó trong tình cảm của người.
Trong tình cảm người Mỹ, địa vị của chó cao chót vót. Không những người Mỹ
không ăn thịt chó, họ còn ra rít với chó, hết lòng vì chó khi sống, họ có nghĩa
địa riêng chôn cất chó tử tế khi chết, lắm kẻ còn xếp đặt trước để lúc người từ
giã cuộc đời thì nắm xương tàn được chôn cạnh chó, chứ không phải bên cạnh ông
bà, cha mẹ, vợ con v.v...
Trong khi ấy trên phương diện tình cảm, địa vị con chó Việt
Nam thấp kinh khủng. Thấp như địa vị đa số đồng loại ở Á châu. Tôi chắc ông Mỹ
Will Durant trong khi tìm hiểu đặc điểm các nền văn minh khác nhau trên cõi thế
gian đã chú ý nhiều lắm về điểm này. Cho nên trong bộ Lịch sử văn minh nhân
loại của ông lại có chỗ ghi nhận về hoàn cảnh khuyển loại ở Đông phương: bị
khinh bỉ, bạc đãi, thường lang thang ăn dơ ăn dáy ngoài đường; sống đời cù bơ
cù bấc. Hình như không có ở nơi nào khác loài chó kém may như thế.
— Đáng tiếc, đáng tiếc! Tôi muốn biết tại sao? Tại sao ở
Đông phương đầy tình thương đầy nhân ái, ở Đông phương nơi triệu triệu người đời
đời kiếp kiếp từng ăn chay v.v...
— Tại sao? Hình như chưa có ai kịp hỏi ông Will Durant câu
đó, nên không có lời giải đáp của ông. Còn câu giải đáp... của tôi? Theo thiển
ý ấy là vì gia đình người Âu Mỹ thường nhỏ bé, mà gia đình chúng ta đông đảo
quá...
— Tôi hiểu vì sao không có ai hỏi “thiển ý” của bạn: Ý kiến
bạn nhảm quá. Chẳng ra ngô ra khoai gì cả. Hiểu thế “chó” nào được một giải đáp
như thế?
— Bạn khó tính nhé. Thế thì đừng hỏi tại sao, đừng giải đáp.
Hãy ngừng lại ở hiện tượng, nhặt nhạnh thêm một ít dữ kiện nữa về địa vị của
chó trong tình cảm. Bạn để ý giùm chỗ này: Ta bảo: “Nhà tôi nuôi một con chó”.
Đối với người Mỹ thế là mơ hồ quá. Thường thường họ minh bạch hơn: họ nói nuôi
hoặc một con golden retriever, hoặc một con poodle, con chow
chow, hoặc một con bull dog v.v... Toàn cõi nước ta không phải chỉ
có một loại chó, thế nhưng chúng ta nhìn vào thế giới chó bằng con mắt thờ ơ,
chúng ta trông qua đại khái, không cần chi tiết. Người Mỹ không bằng lòng một
thái độ hững hờ. Trong bất cứ tài liệu nào về chó, dù sơ lược, cũng liệt kê được
hàng mấy chục giống chó khác nhau đang quanh quẩn bên cạnh người Mỹ. Trong ngôn
ngữ hàng ngày họ rành rẽ.
Rồi lại chỗ này nữa: Con chó ở ta không có nổi cái tên
riêng. Nhà có đôi ba con chó vẫn gọi: con Vàng, con Vện, con Mực v.v... Lấy
ngay cái màu lông của nó làm tên. Một cách dễ dãi, qua loa. Vàng, Vện gần như
là những tên chung. Người Mỹ không thế: chó trong nhà mỗi con một tên riêng,
cũng như mọi người trong gia đình. Tên chọn lựa kỹ lưỡng, công phu nhé. Ai cũng
muốn chọn cho con chó cưng của mình một cái tên cho đẹp đẽ, hay ho. Nhu cầu ấy
phổ biến lắm, cho nên ngay ở quầy tính tiền tại các chợ Mỹ thỉnh thoảng thấy
bán cuốn sách con con liệt kê vô vàn mỹ danh để ai nấy tha hồ chọn cho chó. Có
gần gũi, có cưng yêu, mới đặt tên riêng như thế. Gia súc quanh ta, con vịt, con
gà, con lợn, đâu có con nào mang được một tên riêng?
Đó, thêm một dữ kiện.
— Bạn có quyền thêm một dữ kiện nữa. Miễn đừng góp “thiển
ý”.
— Ở Mỹ con dog lúc nào cũng là con dog. Ở ta
có khi nó là con chó, có khi nó là con cún, có khi nó lại là con cầy. Cún là
chó con; con hay mẹ, sự phân biệt ấy không quan trọng. Nhưng cầy, chữ cầy rất
đáng để ý: nó giết con chó. Vì cầy là tiếng gọi con chó thịt. Là tiếng gọi con
chó trong tư cách... thực phẩm. Ta nuôi con chó, nhưng khi ăn ta ăn thịt cầy.
Tiếng cầy là bản án tử hình xử chó. Sao vậy? Tại sao không có tiếng gọi riêng
con bò, con gà để ăn thịt, con vịt thịt, con heo thịt, (những tiếng như con biếc,
con ghiếc, con viếc, con hiếc chẳng hạn?). Thiết nghĩ ấy là vì miếng thịt chó
ta phải gọi là thịt cầy mới tiện bỏ vào mồm. Nếu không, thấy ghê ghê thế nào.
Con chó Đông phương nó bị hất hủi, nó ăn tạp lắm, nó lục lọi các đống rác, nó
thơ thẩn ngoài đồng tìm chất thừa chất bẩn thỉu... Chó nó ăn cái ấy, mình lại
đi ăn chó à? Ăn phải ăn cầy cơ. Trước khi dùng, phải thăng cấp cho nó.
Ở Âu Mỹ, con chó nó là pet, là con bạn, là cục cưng. Ở
đó địa vị nó cao hơn con vật; ở ta nó thấp hơn con vật.
Ở Âu Mỹ nó là con bạn, là cục cưng. Ở ta, khi có ai hét vào
mặt kẻ khác: “Đồ chó!” thì đó không hề có nghĩa là: “Đồ bạn!” Đồ chó còn tệ hơn
là đồ mèo, đồ gà...
Đồ chó, tởm quá, không xơi được; nhưng cầy thì xơi được. Khi
ta bỏ một miếng thịt cầy vào mồm thì ta không làm điều gì sai quấy; nhưng người
Mỹ mà bỏ vào mồm một miếng thịt bạn thì trời đất quỷ thần nào dung thứ! Chuyện
không quan niệm nổi.
Do đó chuyện thịt cầy giữa ta và Mỹ không phải là chuyện khẩu
vị, cũng không phải là chuyện tình thương đối với loài vật nói chung. Chẳng qua
họ và ta không cùng bỏ vào mồm một món thịt, cho nên phản ứng khác nhau vô vàn.
Cho nên trong phản đối của họ có sự giận dữ.
— Này này, tôi cần lưu ý bạn: Bạn từng hứa chỉ có dữ kiện
không có giải thích; thế mà dần dà bạn khe khẽ “trộm nghĩ”, khe khẽ đưa “thiển
ý”. Liệu có can bạn nổi không đây?
— Bạn can, bạn thiệt thòi.
— Ơ! Khiêm tốn đến thế kia à?
— Nói thế là vì bạn thôi. Vừa rồi bạn tuyên bố rằng tôi nhảm
khi tôi chưa hề biện giải. Nếu tiếp tục ngăn cản tôi, hóa ra chúa nhảm là bạn.
Hãy để tôi biện giải xong, nếu sai, cái nhảm sẽ thuộc cả về phần tôi, có phải
là lợi cho bạn không?
Chúng ta vừa bảo Mỹ xem chó như bạn, đó là căn cứ vào một từ
ngữ (pet) đã có từ lâu đời. Dần dần mỗi lúc chó mỗi gần người, sát người.
Xung quanh bạn, bạn thấy nhan nhản những bà những cô nuôi đôi ba con chó, gọi
chó là con trai, con gái, là lũ con (my son, daughter, kids, children)
v.v... Và thực tình họ xem như con, thương như con: có thế mới chôn cất, mới mồ
mả, mới gửi xương cốt bên nhau chứ. Như vậy chó không còn là bạn, chó đã được kết
nạp làm một thành phần trong gia đình người Mỹ. Vì sao vậy? Chỉ vì gia đình người
Mỹ mỗi ngày mỗi thu hẹp lại, trở nên quá nhỏ bé, quá ít người...
— Đấy! Đấy! Lại...
— Cấm can thiệp. Cấm đàn áp. Hãy nghe đã. Bạn có tưởng tượng
nổi trong một gia đình như nhà mẹ Lê6, con cái lũ khũ đùm đề như thế,
mà bác Lê gái lại có thể gọi một con cún là “con tôi”, mỗi tối cho “con tôi”
lên giường nằm bên mẹ không? khi trăm tuổi bác Lê gái yên giấc nghìn thu bên mộ
con cún được không? Chuyện ấy thiết tưởng chỉ xảy ra vào trường hợp những bà cụ
sống lủi thủi một mình xa con cái, những nàng cao số, long đong, muộn chồng, bỏ
chồng, hiếm muộn v.v..., những trường hợp hết sức phong phú trong xã hội Mỹ.
Khi cô đơn quá, kẻ Âu người Á, kẻ trắng người vàng, không ai
làm gì khác hơn là quơ vội quơ vàng vào một chút sinh khí cho ấm lòng. Trong một
cái truyện ngắn của Linh Bảo, một ông chệt già ở Cựu Kim Sơn, vào những ngày
tàn bơ vơ xa quê hương đã nuôi và cưng một cây chuối trong chậu, bình nhật chăm
chút cho ăn phân cho uống nước đều đều, lúc gặp chuyện đau buồn thì cụ chệt già
mời chuối cùng uống... rượu7 với nhau. Ở Cựu Kim Sơn có bao nhiêu là
chệt già đối ẩm với cây chuối như thế?
Lấy cây chuối làm con còn tệ hơn lấy chó làm con.
— Phen này bạn kẹt với tôi. Bạn bảo gia đình thu nhỏ là
lý do, cảnh sống cô đơn là lý do của tình cảm người-chó. Như thế, bạn có ý cho
rằng người Mỹ mới kiêng thịt cầy trong thời kỳ hiện đại này chăng? Bởi vì xưa
kia đâu phải lúc nào gia đình người da trắng cũng ít người? trong thời nông
nghiệp ở đâu đại gia đình cũng đông đảo hơn ngày nay, điều ấy bạn đã biết. Tất
nhiên xưa kia người Âu Mỹ đâu thấy cô đơn trong gia đình? Vậy theo ý bạn bắt đầu
từ năm nào thì Mỹ kiêng thịt cầy? bạn định giùm tôi một thời điểm kiêng thịt cầy
ở Âu Mỹ. Bạn cố gắng giúp cho.
— Bạn hùng hổ cứ như là cộng sản lúc vừa đánh hơi thấy mùi
thắng lợi.
Bên Tàu, hơn hai nghìn năm trước từ cái quầy thịt cầy của một
nhân vật lẫy lừng là danh tướng Phàn Khoái mùi thịt nướng đã xông lên làm thơm
trang sách Tư Mã Thiên. Sử sách Tây phương không có cái may mắn ấy. Hoặc giả sử
gia Tây phương thời trước không chú ý đến những việc như thế? hoặc giả người ta
có chép nhan nhản mà tôi không hay biết? hoặc giả người da trắng cổ thời có
thói quen nướng cầy cách lén lút? v.v... Chuyện đâu còn đó. Sự thực rồi sẽ có
ngày phát hiện. Ngay lúc này hãy giả thiết là người da trắng chưa từng ăn thịt
cầy bao giờ. Như thế có gì kẹt cho tôi đâu? Tôi không hề bảo rằng hễ ai không
thương chó tất phải xơi thịt chó. Tôi có nói thế đâu? Người da trắng xưa kia rất
có thể gia đình sum vầy, vừa không yêu chó quá đáng như ngày nay, lại vừa không
ăn thịt chó, có sao? Tốt thôi.
Nếu bấy giờ, xa xưa, da trắng da vàng kẻ ăn người không, có
khác nhau là do khẩu vị mà thôi. Ai thích gì ăn nấy, không giận nhau, chê nhau
là văn minh hơn kém.
Nhưng cái khác biệt hiện thời không giống như cái khác buổi ấy.
Vấn đề chúng ta nêu lên đây là cái khác hiện thời. Hiện thời có yếu tố tình cảm
xen vào: ta xơi cầy là họ uất người lên đấy. Sự tình bắt đầu từ bao giờ. Xin
thú thực: Không rõ. Tôi ngờ rằng cái nghĩa trang đầu tiên dành cho chó mèo ở Âu
Mỹ chắc cũng không quá trăm năm. Người Âu Mỹ giã từ chế độ kinh tế nông nghiệp
đã lâu, giã từ cuộc sống đồng quê mà về đô thị đã lâu, trong truyện của họ từ
lâu lắm không thấy có những gia đình nườm nượp như gia đình họ Giả trong Hồng
lâu mộng. Trong tiếng nói của họ, một vết tích thành ngữ tương đương với “tứ
đại đồng đường” không hề nghe thấy bao giờ. Gia đình da trắng teo tóp đến đâu
thì địa vị con chó cao lên đến đó, tôi chắc thế. Chuyện tình cảm nó dần dà, nó
lặng lẽ: đã yêu muốn chết mà lắm khi vẫn chưa biết là mình đã yêu, thỉnh thoảng
còn đòi để hỏi lại con tim xem đã v.v..., bạn đừng nài ép tôi định rõ ngày giờ
của tình yêu, kể cả yêu chó. Kể từ năm Mão? năm Tuất? giờ Dần? giờ Tị? nào ai
biết được!
Còn chúng ta da vàng, có thể một phần vì bẩm chất sai con, mắn
con: ngay từ buổi sơ khai, cái gì mà đấng tổ tiên đã nêu ngay gương lành, cho
ra một lượt trăm trứng nở trăm con. Một gia đình như thế dầu phân đôi cũng
không còn một chỗ trống nào cho con chó chen vào. Nguyên tiếng trẻ khóc đủ làm
nó nhức óc hoảng hồn.
Thế rồi, đến mãi ngày nay nông nghiệp vẫn còn địa vị quan trọng,
nông dân vẫn còn chiếm đa số, nề nếp sinh hoạt nông thôn và tâm lý nông dân vẫn
còn sâu đậm. Các nhân vật tiểu thuyết của thế hệ Nhất Linh thỉnh thoảng lại có
người than như bộng về cái “số” đông con; thế rồi các ông bà bảo trợ Mỹ đến
thăm những gia đình thế hệ người Việt tị nạn lâu lâu bắt gặp một sân quế hòe
nghìn nghịt.
Ở những quốc gia đã bước sang nền kinh tế kỹ nghệ, người ta
đổ về đô thị, gia đình co rút lại. Xu hướng chung ở Âu Mỹ là thế; nhưng ở ta
phương thức sản xuất Đông phương kéo dài chế độ kinh tế nông nghiệp, kéo dài chế
độ chính trị phong kiến, kéo dài chế độ đại gia đình... Những cái ấy còn tồn tại
không dứt, thì chó còn là... đồ chó, còn bị khinh khi, còn đứng ở bậc thấp nhất
của cái thang giá trị các loài súc vật.
Tuy nhiên hồi gần đây rõ ràng là nếp sống đô thị đã tràn lan
rộng rãi sang lắm nước Á châu. Cái rét đô thị thấm vào thấu xương số người càng
ngày càng đông đảo ở Đông Kinh, Thượng Hải, Hương Cảng, Tân-gia-ba v.v... Hoàn
cảnh đặc biệt của những tập thể lưu vong, di cư, tị nạn v.v... càng tăng thêm mức
độ giá rét... Do đó người Tàu già ở Hương Cảng đã từ cây chuối hài hước tiến tới
một phát kiến sáng giá: là ôm lấy con chim. Con đường Honglok về phía Cửu Long
là cả một thế giới chim: lớn có, nhỏ có, đủ màu, đủ loại, giống hát hay, giống
múa đẹp, giống màu rực rỡ v.v... Ở đây có vô số kiểu lồng chim từ thượng vàng đến
hạ cám, có những món đồ đựng thức ăn thức uống chạm trổ vẽ vời công phu, cầu kỳ
v.v... Các ông cụ mò mẫm đến đây, dạo qua dạo lại ngày này sang ngày khác, ngắm
nghía, chọn lựa, rồi móc hầu bao rước chim về hầu hạ phụng dưỡng. Cho ăn cho uống,
quạt nồng ấp lạnh. Sắm những chiếc bình xịt nước li ti cho mát chim vào những
hôm oi bức. Ngồi với chim hàng giờ. Mới tờ mờ sáng, các cụ ho hen xong, khạc nhổ
xong, liền xách lồng chim rời căn phòng nhỏ hẹp của một cao ốc, xuống đường mua
một tờ báo, tìm đến một công viên, người và chim cùng hưởng chút khí trời, rồi
các cụ xách lồng chim vào tiệm uống cà-phê, trò chuyện với nhau, đấu chim đấu lồng
với nhau... Suốt ngày người đâu chim đó. Trong tiệm, trên xe, chỗ nào cũng phải
trù liệu sẵn móc cho các cụ treo lồng chim...
Hương Cảng Đông phương Da vàng đã đến nông nỗi ấy, thì Âu Mỹ
há giữ nguyên vị trí cũ sao? Quả nhiên, Mỹ lại nhảy vọt.
Kỹ nghệ tân tiến và cuộc sống đô thị lại làm phát sinh thêm
những diễn biến mới: Năm 1960 trong tổng số các cuộc sinh nở ở Mỹ con số sinh
ra do phụ nữ không chồng chỉ có 5.3%, năm 1986 tỉ số ấy lên đến 23.4%. Người ta
mỗi lúc mỗi ngại hôn nhân. Số người Mỹ ngại ngùng ấy tăng gấp bốn lần trong
vòng hăm sáu năm. Nàng không chồng chàng không muốn vợ, cảnh nhà đâm ra đơn chiếc.
So sánh các loại gia đình: gia đình nhiều người, gia đình một cặp, và gia đình
một người, theo thống kê năm nay8 thì phát triển nhanh nhất là loại
gia đình... một người! Đó là chiều hướng phát triển ở mọi nước kỹ nghệ (ngoại
trừ Nhật Bản, tại đây non hai phần ba số người già còn sống chung với con cái.)
Tình huống mới có nhu cầu mới: một con bạn chó chưa đủ. Con
chim của các cụ già Hương Cảng trở thành đấng anh hùng của thời đại mới. Trước
kia nuôi chim trong nhà là chuyện lai rai, cuối thập niên 80 nó tiến vụt lên
như chớp. Giữa năm 1988 khắp Hoa Kỳ có gần 58 triệu con mèo, 49 triệu rưởi con
chó nuôi trong nhà. Cùng năm ấy, số chim nuôi chưa tổng kết được, chỉ có con số
khá “đại khái” từ 45 đến 100 triệu con. Dịch vụ kinh doanh về chim, tính cả bán
chim, bán thức ăn cho chim, lồng chim v.v..., số thu lên đến mười tỉ một năm.
Nhưng theo ước tính thì thập niên 90 mới đích thực là thập niên của chim. Bấy
giờ chim là số 1, là vô địch.
Mỹ đã say mê món nào là say mê ra trò. Chim bé cỡ 10$, 20$ một
con, có; yến 30$, 40$ một con, có; két Harlequin macaw cỡ 2,500$ một con, có;
mà con két Hyacinth macaw ngót 30 inches giá 10,000$ một con cũng có nữa.
Cục cưng mà. Luận về hiện tượng chơi chim, ông Marshall Myers, phó chủ tịch Hội
đồng cố vấn ngành chăn nuôi cầm thú để làm bạn trên nước Mỹ, nói quyết rằng đó
là hậu quả của lối sống mới, của nếp sống đô thị: thêm nhiều người trong gia
đình phải ra ngoài làm việc, thêm nhiều người độc thân, cảnh ở condo, ở apartment,
và thì giờ eo hẹp làm cho thiếu chỗ thiếu thì giờ nuôi chó...
Chim thắng chó là lẽ đương nhiên, là xu thế của tương lai
v.v...
— Xu thế tương lai... Con người tiến từ chó tới chim...
— Tương lai ấy bắt nguồn từ một nhu cầu nguyên thủy: chút
hơi ấm. Con người nguyên thủy đã chịu mất cả một chiếc xương sườn để cho có bạn,
có cô bạn xong vẫn thấy không bằng lòng: “Chỉ đôi bạn? thế vẫn còn chưa đủ.”
Đòi thêm con chó. “Một thầy, một cô, một chó bạn”: vẫn chưa đủ. Đời vẫn lạnh lẽo
giá băng. Phải thêm vào đôi ba con chim bên mình... Ôi vũ trụ, ôi càn khôn: rét
quá.
Mai kia, con người đô thị trông thấy ai nhai một miếng thịt
chim chắc chắn là đứt từng khúc ruột, là gầm lên chê kém văn minh.
— Có “ôi” tức đến kết thúc rồi. Kết thúc chuyện thịt cầy,
sẵn trớn ngon lành, ta nhấn ga vọt sang vấn đề thịt chuột, nên chăng?
— Không.
— Thì sang thịt ba ba nhé!
— Không nên.
— Ơ, kỳ thị đến thế sao?
— Không phải. Các thứ thịt khác chỉ là thịt. Riêng thịt cầy
là thịt, lại là thơ ca, là kinh tế, xã hội, văn hóa, triết lý (ôi)... Nói chuyện
thịt cầy, mình ném bậy một hòn đá mà làm rụng lông được vài ba con chim: Tiết
kiệm năng lượng. Nói về các món kia, lãng phí quá.
Võ Phiến
8 - 1990
1 Thanh hiên thi tập.
2 ‘Thái bình mại ca giả’ (Bắc hành tạp lục).
Bốn câu trên có nghĩa: Chẳng thấy cái lệ cung đốn cho thuyền sứ mỗi buổi sáng
đó sao? Hết thuyền này tới thuyền khác chở đầy nào gạo nào thịt đến. Người
ăn không hết, phải đổ đi. Canh thừa cơm nguội trút cả xuống lòng sông.
3 Năm 1989 tòa án Long Beach có xử một vụ mấy
người Miên hạ cờ tây.
4 Thực ra ông Bùi không ăn thịt cầy.
5 Nghĩa: Nghĩ rằng mày là giống súc vật, cũng
lông cũng xương giống như con người.
6 Xóm Cầu Mới của Nhất Linh.
7 ‘Cây chuối buồn’, Mây Tần.
8 của Monthly Labor Review, Bureau of
Labor Statistics.