Tuy ở cùng thành phố nhưng hai năm qua chúng tôi không gặp mặt.
Tự hạn chế giao tiếp vì đại dịch covid. Hiện biến chủng Omicron, tôi gọi là
ô-ma-cà-rồng, hết còn nhát ma ai được nữa. Và, cũng vì lục tung trong kệ sách
không tìm thấy quyển Trại Đầm Đùn, ấn bản đầu tiên mà tôi rất quý, nên nhớ lan
man, có thể đã cho ông bạn mê đọc sách mượn. Text hỏi. Buổi tối, được text trả
lời xác nhận và thêm “cũng nhân dịp còn năm mới mời anh tới chơi vì chúng
tôi đã chích xong 3 mũi cả rồi nên không lo”. Tôi thở phào, hẹn sẽ đến.
Mới sáng sớm, ông bạn gọi phone hỏi “mấy giờ đến”. Tôi hiểu ngay nên nói “không ăn uống gì nghen, chỉ đưa thêm anh một số sách khác và lấy lại số trước”. Ông bạn nói tiếp “mời chị luôn, dù tôi biết chị rất cẩn thận vì là dân ngành dược mà”. Sau khi hỏi HH, tôi text “sorry anh chị, bà chủ không đi được”.
Trước khi đi tôi lục file in ra vài truyện vì nghĩ anh không
quen search trên internet. Một bài ký ức vụn về một khoảnh khắc nhớ Đà Lạt, vì
anh kể có 3 tháng ngắn ngủi tham dự một khóa học ở Đại học CTCT. Một truyện về
người Mỹ con lai tại địa phương, nơi chúng tôi đang ở. Cũng là để đáp lại công
khó nấu nướng của chị, vì chị cũng thích đọc.
Tôi đến hơi muộn vì lục file in bài nhưng cũng sớm hơn ông bạn
văn đẹp trai, lúc nào cũng mặc lịch sự nhưng độc thân và có mái tóc trắng phơ rất
nghệ sĩ. Gặp nhau không bắt tay hay hích cùi chỏ, không phải vì kiêng cử lây
nhiễm. Nhưng nếu làm như thế có lẽ tình bạn sẽ mất đi ít nhiều.
Hơn hai năm mới gặp lại mà không chào hỏi,
không thèm bắt tay tự nó lại nói lên được nhiều điều hơn. Đâu có cần xã giao, cộc
lốc vậy đó mới đúng nghĩa bạn hiền. Thiệt thà như cục đất, củ khoai càng quý hiếm.
Với tôi, thì hai năm covid thời gian như đứng lại, nên rất
ngạc nhiên khi thấy trong nhà ông bạn khác hẳn. Hóa ra dân mình giỏi thích nghi
hoàn cảnh. Người bản xứ thì co cụm, sợ hãi nhưng với người Việt mình lại là cơ
hội. Không được đi làm, phải ở nhà thì sửa sang nhà cửa, chăm sóc vườn tược.
Câu chuyện mở đầu khi vừa ngồi xuống không phải là thời sự nóng
hổi mà là nhân vật nầy, nhân vật nọ, bài thơ nầy, tác phẩm nọ mà cuối câu vẫn
là... “anh còn nhớ không?”. Mấy tiếng bâng quơ “còn nhớ không” đưa về một
thứ quá khứ xa lắc! Xa nhưng mà gần, tưởng đã mất mà ở ngay trước mắt.
À ra thế, ngồi đối mặt nhưng tâm thức trôi dạt đi. Rồi lại
cuồn cuộn quay trở về.
Nghe tiếng chị từ nhà bếp “xong rồi”, tôi dợm đứng dậy nhưng
anh vẫn như muốn níu lấy câu chuyện.
Căn bếp đơn sơ, gọn sạch trước kia bây giờ hoàn chỉnh. Sang
trọng, đẹp như bếp của một ngôi nhà mới “new home for sale”. Trên cái bàn ăn nhỏ
chỉ vừa đủ chỗ cho 4, 5 người ngồi, có bánh cuốn, hành phi, với chén nước mắm ớt
tỏi đỏ trắng nâu vàng thật đẹp mắt, đặc biệt của bánh cuốn. Màu xanh bánh
chưng. Màu trắng củ kiệu với cà rốt. Màu nâu hơi đậm của mứt gừng chứ không
vàng nhạt như ở chợ. Còn dĩa sau sống thì đủ màu, tươi rói. Tất cả các món chị
tự làm, kể cả khuấy bột tráng bánh làm bánh cuốn. Hoàn toàn là sản phẩm cây nhà
lá vườn, organic.
“Bánh chưng chị cũng nấu” tôi hỏi. “Phải dùng bình ga”.
Trong câu trả lời tự nó đã gợi nhớ hình ảnh bếp củi nấu bánh tét bánh chưng ở
quê nhà.
Nấu bằng bình ga thì đương nhiên mất cái thú nửa khuya trùm
mền nằm trên chiếu trải xuống đất hay cùng ngồi bên bếp để canh chừng củi lửa
và châm thêm nước. Khói củi, tro bay như bầy đom đóm khi cời lửa, nổ tanh tách
với cái mùi hăng hắc thế mà cứ in vào trí nhớ, không thể quên. Đặc biệt thêm
cái thú mò vớt mấy cái bánh ú, gói nếp thừa, ở trên cùng của nồi khi vừa chín tới,
đang nóng hôi hổi, lột ra vừa thổi vừa ăn... thử. Một cái thú đặc biệt của nấu
bánh tét, bánh chưng ngày Tết!
Bánh chưng trước mặt đã cắt sẳn để trên dĩa, nhìn có vẻ hơi
nhão nhưng xanh mướt rượt, hạt nếp dính liền nhau thật mịn, rất dẻo, nhưn đậu
xanh và thịt lộ ra hơ hớ, thêm cái dĩa dưa món trắng nõn trộn chung với cà rốt
đỏ tươi để bên cạnh. Dưa món, củ kiệu, chua, ngọt, dòn, bánh chưng xanh đúng là
hương vị Tết, mới thấy đã thèm.
Bánh cuốn hành phi cũng thế. Rau sống rất dòn và thơm, mới
ngắt ngoài vườn không qua tủ lạnh. Mứt gừng tuy không đẹp mắt, lại có vẻ cứng
và hơi thô nhưng đụng vào lưỡi thì vừa cay vừa ngọt, hương vị tuyệt vời, lại nhớ
Tết ngày xưa ở làng quê.
Kỷ niệm cứ ồ ạt kéo nhau về trong bữa ăn. Hai ông bạn kể
chuyện văn chương, chuyện thời cầm súng. Chị lại nhớ thuở học trò phải bỏ quê
chạy ra phố, trốn Việt cộng, vì ban đêm họ lén vào làng, sợ bị bắt làm nữ du
kích.
Thói quen của tôi giữa bạn bè khi họp mặt thường ít nói, chỉ
nghe. Từ một số điều nghe được, hoặc gợi nhớ lại một số kỷ niệm mông lung nào
đó, hoặc ngẫm nghĩ rất riêng. Còn cao hứng lắm thì mới phịa chuyện để họ cãi
nhau.
Chừ nghe hai ông bạn đang um sùm chuyện cũ, tôi định chỉ tay
thẳng vào mặt ông bạn chủ nhà, phịa chuyện “mất nước là tại anh. Sĩ quan gì mà
tối ngày cứ bỏ đơn vị, lái xe đi tìm gặp người đẹp để tán tỉnh”. Rồi quay qua chị,
phịa thêm “lỗi cũng tại chị. Tại chị đẹp, ảnh mê nên bỏ bê công việc. Vùng 1 mất
trước là tại chị”.
Định quậy cho vui, nhưng tôi không làm vì hai ông bạn đang
huyên thuyên không phải “nổ”, mà đang giải tỏa một dồn nén. Một ẩn chứa gần nửa
thế kỷ. Là mẫu số chung của những người không hề thua ở chiến trường nhưng thua
ở hậu phương, vì bọn phản chiến Mỹ và bọn ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, cũng
như bọn báo chí cánh tả phương Tây.
Còn với chị, là nỗi gian truân, bị dập vùi vì “vợ sĩ quan ngụy”.
HH cũng từng đẫm nước mắt trên áo gối về đêm nhưng tỉnh bơ, khinh khỉnh trước bọn
cán bộ địa phương khi phải đối diện ban ngày.
Tất cả là nỗi đau câm nín. Nỗi đau đó thiêng liêng. Là nỗi
đau của dân tộc, không thể đùa.
Vỗ bụng, tôi gát đũa. No vì được ăn ngon. Cũng no vì bên
trong đang dềnh lên một nỗi nhớ, nỗi buồn. Cả bốn người chúng tôi chắc cũng vậy
nhưng không ai nói ra.
Thấy tôi gát đũa ông bạn chủ nhà nói “em lấy mấy trái quýt
ra ăn tráng miệng”. Tôi ồ lên “hehe anh phải đứng lên tự đi lấy chớ. Thời buổi
nầy mà còn ngồi ra lệnh... ”. Nói chưa dứt câu, ông bạn đã phản pháo “trước mặt
các anh, phải để cho tôi ‘lên’ được một chút chớ. Cơ hội mà” “ờ ờ... biết rồi,
biết rồi, hiểu rồi, hiểu rồi” chúng tôi cười to. Chị bưng dĩa quýt
trái nhỏ, vàng óng để lên bàn “cũng nhà trồng. Tui quen chìu ổng rồi mà” chị vẫn
còn giữ được cái dịu dàng ngày trước.
Chúng tôi lại cười vì thấy được niềm hạnh phúc đang lan tỏa.
Bấy nhiêu đó cũng đủ biết dù bao nhiêu biến cố thăng trầm, dù bị sóng đời vùi dập,
tình yêu là tất cả, còn mọi chuyện khác thực sự đã rớt lại phía sau lưng.
Mở cửa sau, bước ra vườn. Tôi ngạc nhiên vì đất không rộng
nhưng ngăn nắp, sạch sẽ. Từng ô, từng khoảnh đất lớn nhỏ được phân chia hợp lý
nên tất cả chất xanh cần thiết cho mỗi bữa ăn đều có đủ. Cây khế cổ thụ ở góc
vườn thật lớn, nhánh lá um tùm sắp úa vàng, đang hứng chịu cái lạnh của mùa
Đông đập vào mắt tôi. Với cái nắng nóng mùa hè thì bộ ghế bàn bằng đá đang có sẵn
ở bên dưới rất lý tưởng để hưởng cái thú ngồi dưới bóng râm, một chỗ ngồi không
thể nào đẹp hơn được nữa cùng với ly cà phê đá. Rồi sực nhớ câu thơ “quê
hương là chùm khế ngọt” của Đỗ Trung Quân.
Vâng, chùm khế ngọt của Đỗ Trung Quân đã là của ngày xưa. Hiện
tại nó đang bị đầu độc. Thân đã rỗng, rễ đã mục nhưng cũng may là hạt giống nó
được người Việt mình đem theo ra xứ người. Cả người và cây cũng đã chọn nơi đất
lành chim đậu.
Ừ, quê hương mới cũng có chùm khế ngọt. Nhìn chùm khế cũng đủ
ấm lòng dù đang giữa mùa Đông.
Hồ Phú Bông
