1
Ðám cưới xong là anh đi…
Anh đi biền biệt suốt mấy tháng trời không tin tức gì. Chiến trường An Lộc đang
hồi khắc nghiệt, chiều nào cũng tiếng rao báo mới, với tin cập nhật vang lên khắp
phố. Cô trông từng cánh thư, đọc từng trang báo, cầu mong và van vái anh được
bình an.
Và cô đã nhận được thư. Cánh thư không địa chỉ người gửi, cánh thư không phải
bút tích quen thuộc. Cầm trên tay mà cô thấy hoang mang, tin tốt hay tin xấu?
Run tay xé nhẹ bao bì, một mảnh giấy nhỏ cùng hai tấm ảnh rơi ra. “Anh bình
yên. Nhờ anh phóng viên chiến trường gửi giùm tin cho em”.
Chỉ vỏn vẹn mấy giòng chữ viết, nhưng sao cô thấy quá đủ, anh an lành là được rồi,
đủ rồi. Nhìn hai tấm ảnh, khuôn mặt thân yêu gần gũi, cô yên tâm hơn, bởi tình
hình chiến trường không sôi động nữa.
Cô chờ đợi ngày anh về phép sau trận chiến An Lộc, nhưng anh không về và lao
vào một trận chiến khác.
Ðời sống chinh nhân đầy kham khổ mà cuộc sống chinh phụ cũng đâu thanh thản,
ngày ngày cầu mong mọi sự an lành, van vái hết lần này sang lần khác.
Buồn! Ðợi chờ! Vui với vài ngày phép…
Rồi.
Buồn! và chờ đợi! Tiếp tục…(**)
Xếp sách lại tôi nhớ đến chị. Phương Thảo Huyền là bút danh của chị – người mà
tôi thường gọi là chị Duy, hiền thê của cố văn, thi sĩ Hoài Ziang Duy, người bạn
tù thân thiết của Nhà tôi.
Gặp chị lần đầu tiên cũng là lần duy nhất từ 2015 đến giờ. Trò chuyện với chị
và chiêm ngưỡng những bức ảnh thời con gái. Khuôn mặt xinh đẹp với nụ cười hiền
hậu, dễ thương cùng dáng ngà thục nữ của chị tiêu biểu cho những người “thiếu nữ
đẹp như trăng” như dòng thơ mượt mà của thi sĩ Ðinh Hùng trong nhạc phẩm Mộng
Dưới Hoa, đã để lại trong lòng tôi sự quý mến đặc biệt.
Quyển sách chị gửi tặng “Những mẩu vụn – nối” cho tôi cảm giác bồi hồi qua những
mẩu chuyện nhỏ, thật nhẹ nhàng, nhưng đó là kỷ niệm đẹp trong cuộc tình dễ
thương của anh chị.
“-Ồ! Anh về bao giờ? Sao không thư cho em biết?
– Vừa lên tới là đến đây ngay, vậy mới biết có ai đưa đón em mình.
Sợ tôi giận nên anh nói thêm:
– Nhà binh mà em, làm gì biết trước, tính trước được. Vừa về hậu cứ là vù lên
thăm em ngay. Nhớ em quá.
Tôi thẹn thùng rút tay lại, bản tính anh ít chịu biểu lộ cái tôi của mình (như
sợ thiên hạ cười cho), nên tôi biết anh đang vui lắm. Thật vậy, cả buổi ấy anh
huyên thuyên đủ chuyện, từ chuyện nhỏ sang chuyện lớn, anh bảo anh muốn nắm tay
tôi khi băng qua đường, có được không? Anh không muốn mất em (sau này mới biết,
anh vừa vượt qua cõi chết trong chuyến hành quân, anh bị đì bởi người chỉ huy
trực tiếp…) (**)
“Bởi chia ly nên đẹp chuyện tương phùng”(*).
Lời bài hát thật đẹp, nhưng sao nghe lòng mình nao nao với chút ngậm ngùi. Chỉ
có những người như chị và tôi – người con gái tội nghiệp, vì “Trong tình
yêu em thiệt thòi nhiều nhất. Em có gì cho mộng ước mai sau”(*) – mới cảm
nhận được trọn vẹn ý nghĩa của câu hát đơn sơ nhưng biểu lộ tình yêu nồng nàn,
thắm thiết của đôi tình nhân vì vận nước điêu linh mà phải xa nhau đằng đẵng.
Tôi và chị cùng trang lứa, cùng cảnh ngộ nên dễ đồng cảm. Những gì chị trải qua
tôi cũng từng trải qua. Héo hon vì nhung nhớ. Mệt nhoài vì lo âu. Xanh xao vì sợ
hãi. Nghẹn ngào buồn tủi khi nhìn bạn bè cùng tình nhân sánh bước chung đôi.
Nhưng hạnh phúc biết bao trong phút giây hạnh ngộ. Ðó cũng là một an ủi ngọt
ngào và êm ái những khi nhớ về để lòng còn giữ mãi niềm son sắt trong sự đợi chờ
mòn mỏi đôi khi trở thành vô vọng.
2
Một buổi tối tháng 4 tôi gọi chị Phương Thảo Huyền. Thăm hỏi chuyện bây giờ và
biết bao nhiêu điều để nhắc nhớ chuyện ngày xưa. Tôi hỏi chị:
– Hồi đó, anh chị đã quen nhau như thế nào?
– Chúng tôi quen nhau cuối năm Ðệ Tứ, trong buổi tiệc do Ban Văn Nghệ – Báo Chí
của trường Thủ Khoa Nghĩa tổ chức. Qua đó, tôi biết Anh là tác giả của nhiều
bài văn, thơ mà tôi hằng yêu thích, đón đọc và nghe trên báo, đài phát thanh, ở
địa phương cũng như ở Sài Gòn. Tôi là đứa con gái mới lớn, chỉ biết học hành, dở
mọi thứ, nhút nhát, ít nói và ít cả bạn bè. Tôi mê say đọc sách và nuôi nhiều ước
mơ. Quen Anh qua thư từ là chính, vì gia đình chúng tôi rất khó. Tính Anh lại rất
lạ, rất người lớn, chỉ gởi thư qua bưu điện, chứ không để trong sách trao tay
như bao học trò thời ấy. Dù rằng trong thư chưa bao giờ có chữ Yêu, chỉ là những
nhung nhớ bâng quơ, những trăn trở bên cuộc sống bộn bề khó khăn, những trao đổi
sách báo văn nghệ mới xuất bản… Cho đến năm Ðệ Nhị, sau khi đi Cần Thơ khám sức
khoẻ để đăng vào Không Quân, Anh vội vã quay về và chạy thẳng đến nhà tôi. Ở buổi
tối đầy đủ mọi người, ai cũng ngạc nhiên vì sự xuất hiện trái buổi của Anh thì
Anh chạy đến bên tôi, nắm tay và bảo rất nhớ tôi. Chỉ mấy hôm thôi mà Anh ốm đi
nhiều, tôi cũng đau lòng. Thế là chúng tôi bắt đầu, cả nhà tôi đã chấp nhận
Anh.
– Thời ấy, con gái thích lính hơn là các anh sinh viên học cùng lớp, cùng trường.
Người ta cho rằng các cô bị ảnh hưởng bởi những bài nhạc lính. Vậy, có phải chị
có bị lôi cuốn vì bốn chữ “người yêu của Lính” mà trở thành người yêu của anh?
– Tình yêu chúng tôi, căn bản là từ tình yêu học trò, tình yêu văn chương nghệ
thuật.. .nên câu “Người yêu của lính” nghe hơi không quen. Vả lại, khi về phép,
Anh luôn mặc thường phục đến thăm tôi, chỉ vài lần ngoại lệ làm tôi nhớ mãi.
Khi ở đơn vị tác chiến (Sư đoàn 9BB) Anh dặn tôi không được đến nơi Anh đóng
quân, có gì Anh nhắn tin. Anh là người lính có trách nhiệm, đi phép đúng ngày,
giao tiếp đúng cách, không bợ đỡ, nên đời lính Anh cũng bị bầm giập nhiều. Về
phép, Anh chỉ hưởng thụ không khí gia đình, không bao giờ đề cập đến đời lính
Anh mang. Và hình như tôi cũng không có duyên với nghiệp lính của Anh, nên khi
Anh được chuyển về quê, gần bên gia đình, chưa hưởng chút gì của hạnh phúc, của
an nhàn… thì 30/4/1975 lại đến. Tuy nhiên, sau nầy nghe lại bài “Người yêu của
lính” tôi cũng thấy xôn xao, xúc động mạnh với bao nhiêu là kỷ niệm…
– Ngày xưa, anh cầu hôn chị thế nào? Là văn thi sĩ, hẳn lời cầu hôn của anh ấy
rất lãng mạn, phải không chị?
-Cầu hôn ư? Có đứa con gái nào không mơ, có ngày được hỏi “Em có đồng ý làm vợ
anh không?”. Rồi thì nhẫn trao, hoa gởi và có người gặp mình chờ câu trả lời nữa…
Ôi chao, chỉ có trong phim mà thôi. Hôm đó, sau khi về phép, đón tôi ở cổng trường
Văn Khoa, Anh đưa đi chơi mọi nơi xong, chúng tôi về nhà chị Anh thăm viếng.
Chiều tắt nắng, Anh kéo tôi ngồi trước hiên nhà, rồi nói ”Mình cưới nhau nha
em?”. Tôi thảng thốt “Sao vậy?”. Anh bảo “Chị Năm đi coi tuổi hai đứa,
ông thầy nói phải đám cưới năm nay, sang năm kỵ anh, năm tới nữa kỵ em…” Tôi thật
sự không biết trả lời sao. Bản tính tôi hiền, hay nghe lời Anh, nhưng lần nầy
tôi thật không sao đồng ý được. Ðây là năm học cuối của tôi, chỉ cần một chứng
chỉ nữa thôi là tôi tốt nghiệp. Vả lại, lúc nầy đã hơn nửa năm, làm sao lo kịp,
chưa kể chuyện cưới gấp vậy sẽ gây tiếng đồn không tốt. Tôi không chịu, nhất định
không chịu. Thế là Anh năn nỉ, Anh dựa lời chị anh nói “Con gái người ta
có bao thời gian, em cứ vậy hoài tội con nhỏ…”. Rồi Anh còn nói “Lúc trước
chúng ta có hứa, bao giờ hơi yên, bao giờ Anh đổi được về quê nhà, bao giờ em học
xong, đi làm trả hiếu ba má… lúc đó chúng ta mới cưới nhau. Nhưng giờ chiến sự
ác liệt quá, biết có thời gian không?”. Cuối cùng, tôi hoãn binh bằng
cách “Anh tự nói với ba má em đi, nếu ba má chịu thì em nghe theo”. Vậy
mà, lần phép sau, Anh về quê nói gì với ba má tôi, ba má lại bằng lòng và nhắn
tôi về. Thật sự tôi không vui lắm, vì mọi việc đều ngoài dự liệu của mình. Tôi
bỏ cả ước mơ: thích du lịch, học ngoại ngữ. Có người quen định đưa tôi vào
ngành Chiêu đãi viên hàng không, Anh bảo tôi đừng. Tôi học tiếng Nhật, vào
trung tâm văn hoá Ðức… Anh cũng không thích, cuối cùng tôi bỏ tất cả để làm đứa
con gái nhà quê, theo Anh đến hết cuộc đời.
– Hồi ấy, ngay thời chiến tranh mà ông Trần Thiện Thanh lại sáng tác một nhạc
phẩm trong đó có câu “Ðơn xin cưới, một tờ đơn xin cưới, anh thảo rồi, anh
lại xé em ơi. Bởi không muốn thấy người yêu nhỏ bé, một sớm nào thành góa phụ
ngây thơ”. Lần đầu tiên nghe Nhật Trường và Thanh Lan hát, tôi
và hai cô bạn đều là “người yêu của lính” nhìn nhau với cảm giác bàng hoàng.
Còn chị, khi nhận lời cầu hôn của anh, chị có lo sợ một sớm nào mình trở thành
“Góa phụ ngây thơ” không?
– Tôi không sợ mình sẽ thành “goá phụ ngây thơ”. Bởi chưa bao giờ tôi nghĩ Anh
sẽ chết. Anh không thể bỏ tôi mà đi được…
– Chị quả là một phụ nữ mạnh mẽ. Thế rồi, đám cưới của chị đã diễn ra như thế
nào? Nếu đến ngày cưới mà chú rể không về kịp như vài người bạn của tôi đã gặp
phải cảnh ấy thì chị phải làm sao?
– Ðám cưới diễn ra như dự định. Nhận lời cầu hôn đến ngày cưới chưa đầy 5
tháng. Tôi tất bật lo việc may áo cưới, mời bè bạn, lo thiệp cưới… Áo cưới may
xong, Dì tôi bảo, ở nước ngoài chỉ khi tái hôn mới dùng màu hồng, thế là lấy
chiếc đầm trắng ra mặc (không dám đi may lại, sợ xui) Bạn bè ở quê chỉ còn vài
ba đứa thân thiết, bạn học Sài Gòn thì không dám tới vì sợ bùa ngải vùng núi…
Có ông anh, bà chị cũng không được phép về. Giờ rước dâu lại quá sớm, không nơi
nào mở cửa, nên mọi việc sửa soạn tự mình làm lấy… Nhưng quan trọng nhất là
nhân vật chính vẫn chưa có mặt trước một ngày như dự định.
Ðợi chờ và chờ đợi!. Cả hai bên họ hàng đều đủ mặt. Nỗi lo âu hiện rõ trên từng
khuôn mặt. Tôi thật sự không biết tính sao nữa. Nếu đám cưới không có chú rể
thì sao đây? Cuối cùng không chịu được, tôi hỏi má, và má bảo “Thì cũng phải
làm đám cưới thôi. Tiệc đã đặt, bà con cũng đã mời, khách khứa cũng đã trả lời…làm
sao bỏ được?”. Còn tôi thì sao? Cô dâu mặc đồ cưới, đi một mình giữa chốn tiệc
tùng?
Bao nhiêu giả thuyết đưa ra làm đau đầu, tôi không biết mình muốn gì và làm gì
nữa đây… Nhưng may, cũng đêm chờ đợi miệt mài đó, tưởng chừng sắp ngất đi, thì
Anh về tới. Chiếc Jeep thắng vội bên lề đường. Anh xuống xe và chạy lại bên
tôi. Anh biết tôi chờ, tôi sợ…
3
Một lần nữa Tháng Tư lại đến. Tang tóc. Chia lìa. Bẽ bàng. Dang dở. Những nghiệt
ngã, bi thương ngày cũ tưởng đã chìm sâu trong mịt mù quá khứ, nhưng tất cả đã
trở về. Và Tháng Tư mãi mãi là nỗi đau không bao giờ phôi phai trong ký ức
của những người thiếu nữ năm xưa với mối tình nhiều nước mắt bởi những chia ly
và mất mát trong thời chinh chiến.
Ngân Bình
(*) Lời trong nhạc phẩm “Góa phụ Ngây Thơ” của NS Trần Thiện Thanh
(**) Trích đoạn của Chuyện Tình và Một Thoáng Văn Khoa trong tuyển tập
“Những Mẩu Vụn-Nối” của Phương Thảo Huyền
