Trong vườn thơ Ðường Thi, nhà thơ Lý Thương Ẩn, sinh thời mạt Ðường, đứng riêng một phương trời thơ với dòng diễm tình thi. Thơ của ông, từ điệu du dương, nhiều điển tích, hình ảnh đẹp, xử dụng triệt để nghĩa bóng, nên lời thơ rất cô đọng và gợi ý. Sáu bài thơ vô đề của ông là những thi tình phẩm tuyệt vời. Tương truyền thuở trẻ ông học đạo trên núi, theo phép tu tiên, và yêu một nàng đạo sĩ nhưng mối tình gặp nhiều trắc trở, rồi sau đó ông lại quen và thương hai chị em tên Phi Loan, Khinh Phụng, chỉ hận là hai nàng lại bị tuyển vào cung đình. Những cuộc tình dang dở này là nguồn gốc của những bài thơ vô đề. Với những vần thơ tuyệt đẹp, tình ý tha thiết, đượm nét ảo huyền, thơ của ông trở thành bất hủ, và được chuyển dịch qua nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Ðức, Ý, v.v.
Có một câu thơ rất hay “Con tằm dẫu thác hãy còn vương tơ”
mà người viết đã nhập tâm không biết tự thuở nào. Nghe như một câu ca dao và
không chừng cũng đã là ca dao. Câu thơ ấy vốn xuất xứ từ một vần thơ trong một
bài “Vô đề” của Lý Thương Ẩn. Bài ấy như sau:
Vô đề (tương kiến thì nan…)
Tương kiến thì nan biệt diệc nan
Đông phong vô lực bách hoa tàn
Xuân tàm đáo tử, ti phương tận
Lạp chúc thành hôi, lệ thủy can
Hiểu kính, đãn sầu vân mấn cải
Dạ ngâm, ưng giác nguyệt quang hàn
Bồng Lai thử khứ vô đa lộ
Thanh điểu ân cần vị thám khan
Dịch nghĩa:
1. Gặp nhau khó, xa nhau cũng khó
2. Gió xuân (gió hướng đông) không đủ sức để trăm hoa úa tàn
3. Tằm xuân đến chết, tơ mới hết
4. Ngọn nến thành tro, lệ mới khô
5. Sáng sớm soi gương, buồn cho tóc mây thay đổi
6. Ðêm ngâm thơ, chợt nhận thấy ánh trăng là lạnh lẽo
7. Bồng Lai tìm đến nhưng không nhiều lối. (Chỉ thấy một hai
lối vô, mà bị các bậc trưởng bối của nàng chặn cửa mất rồi).
8. Chim xanh hãy vì ta mà ân cần thăm dò
Bản dịch của Vương Thanh:
Khó được gặp nhau, cũng khó xa
Gió Đông chi để úa ngàn hoa
Con tằm đến chết, tơ chưa dứt
Ngọn nến thành tro, lệ hết nhòa
Sáng ngắm gương soi buồn tóc bạc
Đêm ngâm thơ lạnh bóng trăng tà
Bồng Lai đường đến đâu bao nẻo
Nhờ cánh chim xanh hỏi giúp ta
Lý Thương Ẩn sở trường về luật thi. Ða số những bài thơ của
ông là đường luật, phần còn lại theo thể tứ tuyệt và ngũ ngôn. Sau đây là một
bài thơ tứ tuyệt nổi tiếng của ông:
Thường Nga
Vân mẫu bình phong chúc ảnh thâm
Trường hà tiệm lạc, hiểu tinh trầm
Thường Nga ưng hối thâu linh dược
Bích hải thanh thiên dạ dạ tâm
Người viết rất thích câu cuối trong bài này. Câu “Bích hải
thanh thiên dạ dạ tâm” đọc lên, nghe âm điệu vừa mạnh mẽ, tình ý lại triền
miên. Sau đây, xin giới thiệu bài Vô Ðề (Lai thị không ngôn…)
Vô đề (Lai thị không ngôn…)
Lai thị không ngôn khứ tuyệt tung
Nguyệt tà lâu thượng ngũ canh chung
Mộng vi viễn biệt đề nan hoán
Thư bị thôi thành mặc vị nùng
Lạp chiếu bán lung kim phỉ thuý
Xạ huân vi độ tú phù dung
Lưu lang dĩ hận Bồng sơn viễn
Cánh cách Bồng sơn nhất vạn trùng
Dịch nghĩa:
1. Ðến thì chỉ nói vu vơ, đi thì biệt tích
2. Trên lầu, trăng xế, chuông điểm canh năm
3. Trong mộng xa cách nhau, kêu khó thành tiếng
4. Thư giục mau xong, mực còn chưa đậm.
5. Ánh nến mờ soi con chim trả bằng đồng
6. Mùi xạ hương thoang thoảng trên (vải, màn, lụa,…) được
thêu hoa sen
7. Chàng Lưu hận non Bồng xa xôi
8. Nay ta lại cách non Bồng một vạn tầng
Bản dịch của Vuơng Thanh:
Gặp nhau, chỉ nói vu vơ
Ra đi biền biệt, mịt mù tăm hơi
Trăng tà, gác vắng chờ Người
Canh năm đã điểm, ôi lời hứa suông !
Trong mơ, xa cách nghìn trùng
Mộng khôn thành tiếng, lòng buồn không thôi
Thư tình ai vội đôi lời
Chữ chưa ráo mực, bóng người phương nao
Nến soi cánh phụng nghiêng chào
Mùi hương còn thoảng lụa đào thêu sen
Chàng Lưu thương tiếc non tiên
Bồng sơn nay lại vạn triền núi xa…
Bây giờ xin giới thiệu một bài thơ được coi là bí ẩn vào bậc
nhất trong vườn thơ Ðường Thi mà thi hào Nguyễn Du đã dịch mấy câu trong truyện
Kiều như sau:
Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là hồ điệp hay
là Trang sinh
Khúc đâu êm ái
xuân tình
Ấy hồn Thục đế
hay mình đỗ quyên
Trong như ngọc dỏ
duềnh quyên
Ấm như hạt ngọc
Lam Ðiền mới đông…
Những câu thơ
trên tả tiếng đàn của Thúy Kiều trong ngày sum họp với Kim Trọng sau mười sáu
năm xa cách. Tình ý vui vẻ không giống như nguyên tác đượm nét u hoài. Có lẽ
Nguyễn Du muốn nói lên cái ý “tẻ vui cũng tại lòng này”. Vì cùng một bản nhạc ấy,
mà trước kia khi nghe Kiều dạo đàn, Kim Trọng đã phải than rằng : “Rằng
hay thì thật là hay, nghe vô ngậm đắng nuốt cay thế nào”. Sau đây là nguyên tác
của khúc đàn đó:
Cẩm Sắt
Cẩm sắt vô đoan
ngũ thập huyền
Nhất huyền nhất
trụ tứ hoa niên
Trang sinh hiểu mộng
mê hồ điệp
Vọng đế xuân tâm
ký đỗ quyên
Thương hải, nguyệt
minh châu hữu lệ
Lam Ðiền, nhật
noãn ngọc sinh yên
Thử tình khả đãi
thành truy ức
Chỉ thị đương thời
dĩ võng nhiên
Dịch
nghĩa :
1. Ðàn gấm cớ sao
lại năm mươi dây
2. Mỗi dây mỗi trục
nhớ thời tuổi trẻ
3. Trang sinh
trong giấc mộng sớm, hóa thành cánh bướm
4. Tấm lòng xuân
của vua Thục đế sống lại trong tiếng hót của chim quyên
5. Biển rộng,
trăng sáng, hạt châu long lanh nước mắt
6. Lam Ðiền, ngày
nắng ấm, ngọc bốc khói
7. Mối tình này
có thể trở thành một kỷ niệm đẹp (để ta thường hoài niệm)
8. Chỉ tiếc là
thuở ấy lòng ta đầy nỗi buồn rầu, chán nản
Vương Thanh phỏng
dịch :
Ðàn gấm, năm mươi
sợi ảo huyền
Từng dây, từng trục
gọi hoa niên
Trang sinh, mộng
sớm mơ hồn bướm
Thục đế, lòng
xuân gửi tiếng quyên
Trăng sáng, lệ
châu nhòa Bích Hải
Nắng hanh, khói
ngọc tỏa Lam Ðiền
Tình này ôn lại
còn thương cảm
Nếu hiểu theo
nghĩa “ruộng xanh” thì câu sáu có thể giải thích như sau. Nắng ấm buổi sớm, những
giọt sương lóng lánh như ngọc trên ruộng xanh bốc lên thành khói. Tuy nhiên
trong thơ, hạt châu đã có thể kết đọng từ nước mắt, thì ngọc bốc khói cũng có
thể là từ một điển tích nào đó mà thôi.
Theo thiển ý người
viết, tác giả mượn tiếng đàn để tả về mối tình với một thiếu nữ. Chàng thì đa
tình như Thục Ðế còn nàng thì mơ mộng như một Lâm Ðại Ngọc khóc hoa rơi, với
đôi mắt sâu thăm thẳm như biển cả, long lanh những giọt châu lệ của những nàng
tiên người cá khi xa cách người yêu. Tiếc là mối tình tuy đẹp như huyền thoại,
nhưng lại mong manh như khói ngọc Lam Ðiền, để cho thi nhân ôm một mối hận
lòng, và để lại cho ngàn sau những vần thơ diễm tuyệt.
