Lời người dịch:
Truyện ngắn dưới đây được dịch từ nguyên tác tiếng Nhật của
Murakami Haruki là truyện thứ 6, “Onna no Inai Otokotachi – Đàn ông Không có
Đàn bà” trong tuyển tập cùng tên, do “Bungei Shunju – Văn nghệ Xuân thu” tái bản
lần thứ năm tháng 5/2014.
*
Điện thoại reo sau một giờ sáng đánh thức tôi dậy. Tiếng điện thoại réo giữa đêm luôn luôn nghe thật chói tai, gay gắt, như thể có kẻ gian ác nào đó mang khí giới bằng kim loại hung bạo đòi hủy diệt thế giới. Tôi cảm thấy mình có trách nhiệm, với tư cách là một thành viên của loài người phải ngăn chặn nguy cơ đó, vì vậy tôi nhỏm dậy khỏi giường, bước ngay ra phòng khách nhấc ống nghe lên.
Giọng trầm của một người đàn ông báo cho tôi biết rằng một
phụ nữ vừa biến mất khỏi thế giới này, mãi mãi. Giọng nói đó là của chồng người
phụ nữ kia. Ít nhất thì đấy là những gì ông ta nói. Rồi ông ta tiếp tục: Vợ tôi
đã tự tử vào thứ Tư tuần trước. Dù gì đi nữa, tôi nghĩ cũng phải cho ông biết.
Dù gì đi nữa! Theo chỗ tôi có thể nghe được thì giọng nói của
ông ta không hề có một chút cảm xúc nào cả. Giống như là ông ta đang đọc những
dòng chữ để đánh đi một bức điện tín, hầu như không có khoảng lặng nào giữa mỗi
từ. Chỉ là một thông báo, thuần túy và đơn giản thế thôi. Một thực tế không tô
vẽ. Chấm hết.
Thế tôi đã nói gì để đáp lại? Ắt hẳn tôi đã nói gì đó rồi,
nhưng không làm sao nhớ lại được. Dù gì đi nữa, đã có một khoảng im lặng kéo
dài. Như một hố sâu giữa đường mà hai chúng tôi đang đứng nhìn đăm đăm từ hai
bên đối diện. Thế rồi, chẳng nói thêm lời gì, ông ta cắt máy, cứ như là nhẹ
nhàng đặt một tác phẩm nghệ thuật mong manh xuống sàn nhà. Tôi đứng trâng đó, mặc
áo thun trắng với quần đùi xanh, nắm chặt ống nghe chẳng biết để làm gì.
Làm sao ông ta biết về tôi? Tôi chẳng hiểu. Có phải cô ấy đã
nói đến tên tôi với chồng cô, rằng là một người bạn trai cũ chăng? Nhưng tại
sao thế chứ? Mà làm sao ông ta biết được số điện thoại của tôi (vốn không có
trong niên giám điện thoại)? Trước hết, tại sao lại là tôi cơ chứ? Tại sao chồng
cô ấy lại bỏ công gọi điện thoại cho tôi để báo tin vợ ông ta đã mất? Tôi không
thể tưởng tượng được rằng cô ấy để lại yêu cầu như thế trong một di thư. Chúng
tôi đã chia tay từ nhiều năm trước rồi mà. Và không bao giờ còn gặp nhau nữa kể
từ đó—dù một lần cũng không. Thậm chí còn chẳng bao giờ nói chuyện qua điện thoại
nữa kia.
Tôi chẳng hiểu ra làm sao cả. Vấn đề quan trọng hơn nữa là
ông ta chẳng giải thích gì với tôi. Ông ta nghĩ rằng chỉ cần cho tôi biết vợ
ông đã tự tử là đủ. Và bằng cách nào đó ông ta đã có số điện thoại của tôi.
Ngoài ra thì chảng còn gì ráo. Có vẻ như ông ta cố ý làm tôi mắc kẹt ở chỗ lơ lửng
giữa có biết và không biết. Nhưng tại sao mới được chứ? Để bắt tôi phải suy
nghĩ về điều gì đó chăng?
Điều gì nào? Tôi hoàn toàn chẳng biết. Số lượng dấu hỏi cứ
thế mà tăng lên, giống như một đứa con nít nắm ấn cao-su đóng dấu hỏi loạn lên
khắp một trang trong cuốn sổ vậy.
Vì thế, tôi vẫn chẳng biết tại sao cô ấy lại tự tử, hoặc như
thế nào. Và dù tôi muốn hỏi thêm, cũng chẳng có cách nào cả. Tôi không biết cô ấy
ở đâu, và thành thật mà nói, thậm chí còn không biết cô ấy đã kết hôn nữa kia.
Thế nên, tôi không biết tên sau khi kết hôn của cô ấy (mà người đàn ông trên điện
thoại cũng đã chẳng cho biết tên). Họ đã kết hôn bao lâu rồi? Đã có con hay
chưa?
Tuy nhiên, tôi chấp nhận những gì chồng cô ấy đã nói với
tôi. Tôi không cảm thấy phải nghi ngờ điều đó. Sau khi rời xa tôi, cô ấy vẫn tiếp
tục sống trên thế gian này, hẳn cô đã yêu một người khác, kết hôn với ông ta, rồi
thứ Tư tuần trước —vì lý do nào đấy và bằng phương tiện gì đấy— cô ấy đã kết liễu
cuộc đời mình. Dù gì đi nữa, chắc chắn đã có điều gì đó trong giọng nói của người
đàn ông ấy, gắn kết sâu sắc ông ta với thế giới của người đã chết. Trong tĩnh lặng
của đêm khuya, tôi như nghe thấy gắn kết đó và bắt gặp một tia sáng từ sợi dây
liên hệ căng thẳng đó. Như thế, việc ông ta gọi cho tôi sau một giờ sáng —cho
dù cố ý hay không— là quyết định đúng đắn. Giả thử ông ta gọi vào lúc một giờ
chiều thì tôi không làm sao cảm nhận được như vậy.
Khi tôi đặt ống nghe xuống và lê bước trở lại giường, vợ tôi
đã thức dậy.
“Điện thoại về chuyện gì thế anh? Có ai chết à?” vợ tôi hỏi.
“Không có ai chết
cả. Chỉ là gọi nhầm số điện thoại thôi”, tôi nói, giọng chậm rãi buồn ngủ.
Tất nhiên, vợ tôi
không tin, vì giọng nói của chính tôi giờ đây cũng nhuốm màu người chết. Cảm
giác bất ổn mà người mới chết mang lại rất dễ lây lan. Nó lan truyền qua đường
dây điện thoại như một cơn run rẩy yếu ớt, biến đổi âm thanh của những từ ngữ,
khiến thế giới phải cộng hưởng đồng bộ với rung động của nó. Nhưng vợ tôi không
nói gì thêm. Hai chúng tôi nằm đó trong bóng tối, thận trọng lắng nghe sự tĩnh
mịch, mỗi người chìm đắm trong suy nghĩ của riêng mình.
Đây là người phụ
nữ thứ ba mà tôi hẹn hò đã tự tử. Ngẫm lại —mà thực ra cũng chẳng cần phải suy
ngẫm, vì đã quá rõ ràng rồi— thì đây là tỷ lệ tử vong cao cực kỳ. Tôi không thể
nào tin nổi. Bởi số phụ nữ mà tôi đã từng hẹn hò trong đời thì đã có bao nhiêu
đâu. Tại sao những phụ nữ này, tất cả đều còn trẻ, lại tự tử, hoặc cảm thấy phải
tự tử, tôi chẳng thể hiểu nổi. Tôi hy vọng rằng đó không phải là vì tôi, hoặc
liên quan đến tôi theo một cách nào đó. Và hy vọng là họ đã không tính rằng tôi
sẽ làm người chứng cho cái chết của họ. Tận đáy lòng, tôi thành tâm cầu nguyện
như thế. Và —nên nói thế nào nhỉ?— cô ấy, người phụ nữ thứ ba (để tránh gọi tên
cô ấy khiến mọi thứ trở nên khó xử, tôi sẽ chỉ gọi cô ấy là “M”) chẳng phải là
mẫu người sẽ tự tử. Đời nào! Ý tôi là, cô ấy đã có tất cả những thủy thủ lực lưỡng
trên thế giới bảo vệ cô ấy, trông chừng cho cô ấy cơ mà.
Tôi không thể
cung cấp bất kỳ thông tin chi tiết nào về việc M đã là người như thế nào, hay
chúng tôi đã gặp nhau như thế nào, hoặc chúng tôi đã làm gì cùng nhau. Nếu sự
thật phơi bày ra thì có thể gây rắc rối cho những người còn sống. Vì vậy, tất cả
những gì tôi có thể viết ra chỉ là cách đây lâu lắm rồi, cô ấy và tôi đã rất
thân mật với nhau, nhưng đến một thời điểm nào đó, chúng tôi đã chia tay.
Thực ra, tôi muốn
nghĩ về M như một cô gái mà tôi gặp khi cô ấy mười bốn tuổi. Dù điều đó thực sự
đã không xảy ra, nhưng ít nhất thì ở đây, tôi muốn tưởng tượng là đã xảy ra như
thế đấy. Chúng tôi gặp nhau thời mười bốn tuổi trong một lớp học cấp hai. Đó là
lớp sinh học, theo như tôi nhớ. Bài học gì đấy về ammonite và cá vây tay –
coelacanth. Cô ấy đã ngồi cạnh tôi. “Tôi bỏ quên cục tẩy”, tôi nói với cô ấy,
“nên nếu bạn có cục tẩy nào thừa, thì có thể cho tôi mượn được không?” Cô ấy lấy
cục tẩy của mình bẻ đôi, đưa cho tôi một nửa. Và mỉm cười thật tươi. Như người
ta thường nói, ngay khoảnh khắc đó, tôi đã yêu! Cô là thiếu nữ xinh đẹp nhất
tôi từng thấy. Ít nhất thì đấy là những gì tôi đã cảm thấy vào thời điểm đó.
Tôi muốn nhìn cô ấy như thế, và đấy là cách chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên,
trong lớp học cấp hai. Được kết hợp với nhau thông qua sự can thiệp thầm lặng
nhưng áp đảo của các loài ammonite và coelacanth. Nghĩ như thế khiến mọi thứ dễ
chấp nhận hơn.
Tôi đã là một cậu
bé mười bốn tuổi khỏe mạnh, đến nỗi chỉ cần một cơn gió tây ấm áp thổi đến là cậu
nhỏ của tôi cương cứng. Lứa tuổi của tôi thì như thế đấy. Chẳng phải cô ấy đã
làm tôi cương cứng. Cô ấy vượt xa bất kỳ cơn gió tây nào. Mà không chỉ gió tây.
Cô ấy quá ngoạn mục đến nỗi khiến gió từ mọi hướng chỉ đơn giản là biến đâu mất
hút. Trước mặt một cô gái tuyệt vời đến như vậy, làm sao tôi có thể nghĩ đến việc
cương cứng một cách tệ hại thế được chứ? Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi đã gặp
một cô gái khiến tôi cảm thấy như vậy.
Tôi có cảm giác đấy
là lần đầu tiên tôi gặp M. Thực ra đã không xảy ra như vậy đâu, nhưng nghĩ theo
cách này khiến mọi thứ trở nên mạch lạc hợp lý. Tôi mười bốn tuổi, và cô ấy
cũng mười bốn. Đó là lứa tuổi tốt nhất để chúng tôi gặp nhau lần đầu. Đó mới thực
sự là cách chúng tôi nên gặp nhau.
Nhưng rồi M đã biến
mất lúc nào tôi chẳng hay. Cô đi đâu mất, tôi chẳng biết. Một ngày nọ, tự dưng
tôi không còn thấy cô ấy đâu nữa. Tôi tình cờ liếc nhìn chỗ khác chỉ trong giây
lát, thế mà khi quay lại, thì không còn thấy cô ấy đâu cả. Mới thấy đó mà phút
chốc đã biến mất. Chắc hẳn một gã thủy thủ xảo quyệt nào đó đã dụ dỗ cô ấy chạy
trốn cùng hắn đến Marseilles, hay Bờ Biển Ngà mất rồi. Nỗi tuyệt vọng của tôi
còn sâu hơn bất kỳ đại dương nào mà họ có thể đã băng qua. Sâu hơn bất kỳ vùng
biển nào mà giống mực khổng lồ và rồng biển bơi lội. Tôi bắt đầu căm ghét bản
thân mình. Tôi không thể tin vào bất cứ điều gì được. Làm thế quái nào mà chuyện
này lại xảy ra? Tôi yêu M nhiều đến thế, cô ấy có ý nghĩa với tôi đến thế. Tôi
cần cô ấy đến thế cơ mà. Tại sao tôi lại quay đi liếc nhìn chỗ khác cơ chứ?
Ngược lại, kể từ
đó, M đã có ở khắp mọi nơi. Tôi nhìn thấy cô ấy ở khắp mọi nơi tôi đến. Cô ấy
là một phần của nhiều nơi, nhiều lúc, nhiều người. Tôi cất cục tẩy phân nửa của
cô ấy vào một chiếc túi nhựa mà mang theo bên mình như lá bùa hộ mệnh. Hoặc như
một chiếc la bàn. Chỉ cần có nó ở trong túi, tôi biết rằng một ngày nào đó, ở
đâu đó, tôi sẽ lại tìm thấy M. Tôi chắc chắn như thế. Một gã thủy thủ ăn nói ngọt
ngào đã dụ dỗ cô lên con tàu lớn của hắn ta mà đưa cô đi thật xa, thế thôi. Cô
luôn luôn là mẫu thiếu nữ cả tin vào người khác mà. Mẫu thiếu nữ đã lấy cục tẩy
mới của mình, bẻ đôi đưa cho một chàng trai mà cô thậm chí còn chưa quen biết.
Tôi cố gắng thu
thập những manh mối về tung tích của cô, ở đủ mọi nơi và từ đủ mọi loại người.
Nhưng chúng đã chẳng là gì cả ngoài những mẩu vụn vặt, những manh mún tạp nhạp.
Dù có thu thập được bao nhiêu đi nữa, những mảnh vụn vẫn chỉ là như thế thôi.
Căn tính của cô ấy vẫn biến mất cứ như là một ảo ảnh. Mà từ đất liền, đường
chân trời là vô tận. Cũng như đường chân trời trên biển. Tôi bận rộn đuổi theo
đường chân trời, di chuyển từ điểm này sang điểm khác, từ Bombay đến Cape Town
đến Reykjavik đến quần đảo Bahamas. Tôi đi vòng quanh mọi thị trấn có bến cảng,
nhưng cứ khi nào tôi đến nơi, thì cô ấy đã rời đi mất rồi. Chỉ còn lưu lại một
chút hơi ấm của cô trên chiếc giường chưa dọn. Chiếc khăn quàng cổ có hình vẽ
xoáy nước của cô còn treo trên lưng ghế. Một cuốn sách đọc dở dang, trang sách
còn mở, trên bàn. Những chiếc tất mới khô nửa chừng còn phơi trong phòng tắm.
Nhưng cô ấy không còn ở đó nữa rồi. Những tên thủy thủ xảo quyệt trên khắp thế
giới đánh hơi biết tôi đang tìm đến, đã nhanh chóng cướp giấu cô ấy đi một lần
nữa.
Lúc này thì, tất
nhiên, tôi không còn ở tuổi mười bốn nữa. Tôi rám nắng hơn và cứng cỏi hơn. Râu
tôi rậm hơn và tôi đã biết sự khác biệt giữa ẩn dụ và tương tự. Nhưng một phần
trong tôi vẫn còn là mười bốn tuổi. Và phần đó, mãi mãi là mười bốn tuổi, đang
chờ đợi thật kiên nhẫn, một cơn gió tây nhẹ nhàng vuốt ve dương vật ngây thơ của
tôi. Bất cứ nơi nào cơn gió tây đó thổi lên, chắc chắn tôi sẽ tìm thấy M.
Với tôi, M. là
như thế. Một phụ nữ không bao giờ ở yên một chỗ. Nhưng đâu phải là người phụ nữ
sẽ tự tử.
Tôi không đoan chắc
được mình thực sự đang cố gắng nói lên điều gì ở đây. Có lẽ tôi đang cố gắng viết
về bản chất, hơn là sự thật. Nhưng viết về một bản chất không đúng với sự thật
thì cũng giống như cố gắng gặp gỡ ai đó ở nửa tối phía sau của mặt trăng vậy. Tối
tăm và không có điểm mốc nào. Và quá lớn. Điều tôi muốn nói là, M là người phụ
nữ mà tôi đáng lẽ phải yêu khi tôi mười bốn tuổi. Nhưng thực tế thì mãi về sau
này tôi mới yêu cô ấy, mà khi đó thì thật đáng buồn là cô ấy không còn mười bốn
tuổi nữa rồi.
Chúng tôi đã nhầm
lẫn về thời điểm chúng tôi nên gặp nhau. Giống như đã quên mất thời điểm hẹn gặp
ai đó. Như nhớ đúng giờ nào trong ngày và địa điểm, nhưng lại tính toán sai
ngày mất.
Thế nhưng, cô gái
mười bốn tuổi kia thì vẫn còn trú ngụ bên trong cô ấy. Cô gái đó hoàn toàn chiếm
ngự toàn bộ bên trong cô ấy, chứ không chỉ là những mảnh rời mà thôi. Nếu nhìn
kỹ, tôi có thể nhìn thấy thấp thoáng cô gái đó đến và đi ngay bên trong M. Lúc
cô nằm trong vòng tay tôi khi chúng tôi ân ái, cô già đi trong một phút, rồi trở
lại thành cô gái trẻ ở phút tiếp theo. Cô ấy luôn luôn du hành trong múi giờ
riêng của mình. Và tôi yêu cô ấy vì thế. Tôi ôm cô ấy thật chặt, chặt đến nỗi
cô ấy kêu đau. Có thể tôi đã ôm quá chặt. Nhưng tôi không thể kiềm chế được.
Tôi không muốn rời xa cô ấy tí nào.
Nhưng tất nhiên,
rồi phải đến lúc tôi lại mất cô ấy. Rốt cuộc, tất cả những thủy thủ trên khắp
thế giới đều để mắt đến cô ấy. Tôi không hy vọng gì có thể tự mình bảo vệ cô ấy
được. Không ai có thể để mắt trông chừng cho ai khác từng giây từng phút được.
Ai cũng cần phải ngủ, phải sử dụng phòng tắm. Thỉnh thoảng lại cần phải cọ rửa
bồn tắm. Phải thái hành tây, phải bẻ đầu đậu que. Phải kiểm không khí trong lốp
xe nữa chứ. Đó là cách chúng tôi rời xa nhau. Hay nói đúng hơn, là cách cô ấy rời
xa tôi. Phía sau đó luôn luôn có cái bóng rõ ràng của một thủy thủ. Một cái
bóng đen tối, tự động lướt lên bức tường của tòa nhà. Những bồn tắm, hành tây,
và không khí chỉ đơn giản là những mảnh ẩn-dụ rải rác như những đinh ghim mà
cái bóng đó vất lại.
Sau khi cô ấy rời
đi, không ai biết tôi đã cảm thấy khốn khổ như thế nào, vực thẳm ấy sâu đến mức
nào. Làm sao họ có thể biết được chứ? Chính tôi còn hầu như không thể nào nhớ lại
được nữa là. Tôi đã đau khổ đến mức nào? Tôi đã trải qua bao nhiêu đau đớn? Tôi
ước sao có được một cỗ máy có thể đo chính xác nỗi buồn đau, và hiển thị bằng
những con số mà tôi có thể ghi lại được. Và thật tuyệt vời nếu cỗ máy đó có thể
nằm gọn trong lòng bàn tay mình. Tôi nghĩ về điều này mỗi lần đo không khí
trong lốp xe.
Cuối cùng, cô ấy
đã chết. Cú điện thoại giữa đêm đã nói rõ điều đó. Tôi không biết ở đâu, như thế
nào, tại sao, hay mục đích là gì, nhưng M đã quyết định kết thúc cuộc đời mình,
và cô ấy đã làm vậy thật. Và —có lẽ— sau đó cô ấy lặng lẽ rút lui khỏi thế giới
thực này. Tất cả những thủy thủ trên thế giới, với tất cả những lời đường mật
ngọt ngào của họ, giờ đây không thể cứu cô ấy —hoặc thậm chí bắt cóc cô ấy— khỏi
vùng đất của người chết. Nhưng nếu có ai lắng tai nghe thật kỹ vào giữa đêm, có
lẽ cũng có thể nghe thấy âm thanh xa xăm của bài điếu văn buồn thảm của những
thủy thủ kia.
Khi cô ấy qua đời,
tôi đã mất đi bản thân mười bốn tuổi của mình. Giống như số lưng của một cầu thủ
bóng chày đã nghỉ hưu vĩnh viễn, bản thân mười bốn tuổi bên trong tôi đã trỗi dậy
mà ra đi mãi mãi. Bản thân mười bốn tuổi của tôi giờ đây đã bị nhốt trong một
chiếc két sắt dày, khóa chặt, chôn sâu dưới đáy biển. Cánh cửa két sắt sẽ không
được mở trong một tỷ năm nữa. Cho đến lúc đó, những con ammonite và cá
coelacanth sẽ âm thầm canh giữ nó. Gió tây dễ chịu kia không còn thổi nữa. Và
thủy thủ ở khắp nơi trên thế giới thương tiếc sự ra đi của cô ấy. Chưa kể đến tất
cả những người chống thủy thủ trên toàn thế giới.
Khi biết tin M
qua đời, tôi cảm thấy chắc chắn mình là người đàn ông cô đơn thứ hai trên hành
tinh này.
Người đàn ông cô
đơn nhất phải là chồng cô ấy. Tôi dành vị trí đó cho ông ta. Tôi hoàn toàn
không biết ông ta là người như thế nào. Tôi không biết ông ta bao nhiêu tuổi.
Tôi không có thông tin gì về những việc ông ta làm hay không làm. Điều duy nhất
tôi biết là ông ta có giọng trầm. Nhưng điều đó không cho tôi biết gì thêm. Ông
ta có là một thủy thủ? Hay là một người chống thủy thủ? Nếu là trường hợp sau,
thì ông ta là một trong những người đồng hương của tôi. Còn nếu là trường hợp
trước… thì tôi vẫn cảm thấy thương hại ông ta. Và tôi ước sao mình có thể làm
gì đó để xoa dịu nỗi đau của ông ta.
Nhưng không cách
nào tôi có thể tìm ra chồng của người bạn gái cũ của mình được. Tôi không biết
tên, hoặc chỗ ông ta ở. Có khi ông ta đã mất tên và chỗ ở của mình rồi. Rốt cuộc,
ông ta mới là người đàn ông cô đơn nhất thế giới.
Khi đi dạo, tôi
thích ngồi trước tượng kỳ lân một sừng (công viên có tượng kỳ lân này nằm trên
tuyến đường tôi thường đi), và lúc nhìn xuống dòng nước lạnh trong hồ phun nước,
tôi nghĩ đến người đàn ông ấy. Và tôi tưởng tượng cảm giác khi trở thành người
đàn ông cô đơn nhất trên trái đất. Tôi đã biết cảm giác trở thành người đàn ông
cô đơn thứ hai trên trái đất rồi mà. Nhưng tôi vẫn chưa biết cảm giác trở thành
người cô đơn nhất là như thế nào. Có một vực sâu ngăn cách người cô đơn thứ hai
với người cô đơn thứ nhất trên trái đất. Có thể lắm chứ. Vực ấy sâu, và rộng nữa.
Đáy vực chất đầy xác chim đã cố gắng nhưng thất bại khi cố vượt qua vực ấy.
Đột nhiên một
ngày nào đó, mình trở thành Người đàn ông không có đàn bà. Ngày đó đến với mình
hoàn toàn bất ngờ, không một lời cảnh báo hay ám chỉ nào trước đó. Không có điềm
báo hay điềm gở, không có tiếng gõ cửa hay tiếng đằng hắng. Vừa rẽ qua một góc
đường là biết mình đã đến đó rồi. Nhưng đến lúc đó thì không còn có thể quay lại
được nữa. Một khi đã rẽ qua khúc cua đó, thì đã là thế giới duy nhất từ nay
mình có thể sinh sống. Trong thế giới ấy, mình thuộc nhóm người được gọi là những
người “Đàn ông không có đàn bà”. Luôn luôn là một số nhiều lạnh lùng không ngừng
đông thêm.
Chỉ có những Đàn
ông không có đàn bà mới có thể hiểu được nỗi thống khổ, nỗi đau lòng khi trở
thành một người như vậy. Mình mất đi ngọn gió tây tuyệt vời kia. Tuổi mười bốn
đã bị đánh cắp khỏi bản thân mình vĩnh viễn. (Cỡ một tỷ năm thì
tính là vĩnh viễn được đấy.) Tiếng than thở mệt mỏi, xa xăm của
những thủy thủ. Đáy biển, với những con ammonite và coelacanth. Gọi điện thoại
đến nhà ai đó sau một giờ sáng. Nhận điện thoại sau một giờ sáng từ một người lạ.
Chờ đợi một người ở khoảng lưng chừng không chắc có quen biết ở đâu đó hay
không. Nước mắt rơi trên con đường khô ráo khi mình kiểm áp suất không khí
trong lốp xe.
Lúc ngồi đấy trước
tượng kỳ lân một sừng, tôi cầu nguyện rằng một ngày nào đó chồng cô ấy sẽ hồi
phục. Tôi cũng cầu nguyện thêm rằng ông ta sẽ không bao giờ quên đi những điều
thực sự quan trọng —là bản chất— nhưng sẽ có thể quên mọi thứ khác chỉ là thứ yếu
không quan trọng. Tôi hy vọng ông ta thậm chí có thể quên được cả sự thật rằng
ông đã quên chúng rồi. Tôi thực sự cảm thấy như thế đấy. Hãy tưởng tượng xem,
tôi nghĩ: đây là người đàn ông cô đơn thứ hai trên trái đất cảm thấy thông cảm
—và cầu nguyện cho— người đàn ông cô đơn nhất (một người mà anh ta chưa từng gặp).
Nhưng tại sao ông
ta lại bỏ công gọi điện thoại cho tôi nhỉ? Tôi không chỉ trích gì ông ta vì điều
đó, chỉ là tôi không thể trả lời câu hỏi cơ bản này, ngay cả bây giờ nữa. Làm
sao ông ta biết về tôi? Và tại sao ông ta lại quan tâm đến tôi chứ? Câu trả lời
có lẽ rất đơn giản. M hẳn đã kể với chồng cô về tôi. Đôi điều gì đó về tôi. Đó
là điều duy nhất tôi có thể tưởng tượng ra, đã khiến ông ta gọi điện thoại.
Tuy tôi chẳng biết cô ấy đã nói gì với chồng. Tôi có thể có giá trị gì, có ý
nghĩa gì đối với cô ấy để cô phải kể với chồng về một người bạn trai cũ như
tôi? Phải chăng là điều gì đó quan trọng liên quan đến cái chết của cô ấy? Tôi
có phủ bóng đen nào đó lên cái chết của cô ấy không? Có lẽ M đã kể với chồng cô
rằng dương vật của tôi đẹp như thế nào. Khi chúng tôi nằm trên giường vào buổi
chiều, cô ấy thường âu yếm giữ nó trên lòng bàn tay mà ngắm nhìn như thể đang
chiêm ngưỡng những viên ngọc quý huyền thoại của Ấn Độ. “Đẹp quá chừng”, cô ấy
nói. Cho dù điều đó có đúng thật hay không, tôi chẳng biết.
Có phải đấy là lý
do đã khiến chồng cô ấy gọi điện thoại cho tôi không? Gọi cho tôi sau một giờ
sáng để bày tỏ sự kính trọng đối với hình dáng dương vật của tôi? Làm gì có! Thật
vô lý quá. Dù nhìn theo cách nào đi nữa thì cậu nhỏ của tôi cũng chẳng có gì
hoành tráng cả. Cao lắm thì cũng chỉ có thể nói là khá bình thường thôi. Quan
niệm thẩm mỹ của cô ấy đã thường khiến tôi phải lắc đầu. Cô ấy có một cảm nhận
dị thường về giá trị, không giống bất kỳ ai khác.
Có lẽ (mà tôi
cũng chỉ tưởng tượng thế thôi) cô ấy đã kể với chồng về việc chia sẻ một nửa cục
tẩy với tôi trong lớp học cấp hai. Cô ấy không có động cơ thầm kín nào khi kể với
ông ta, chỉ có ý tốt thôi. Chỉ là một ký ức nhỏ trong quá khứ mà cô ấy tình cờ
chia sẻ. Và tất nhiên điều này khiến ông ta nổi ghen. Việc M cho tôi một nửa cục
tẩy của cô ấy hẳn khiến ông ta ghen tức còn nhiều hơn là nếu M quan hệ tính dục
với một đám thủy thủ ngồi đầy hai chiếc xe buýt. Chỉ là điều bình thường đó
thôi. Hai chiếc xe buýt đầy thủy thủ lực lưỡng thì có ý nghĩa gì đâu nào? Suy
cho cùng, M và tôi đều mười bốn tuổi, và chỉ cần gió tây thổi là tôi có thể
cương cứng. Việc một cô gái bẻ đôi cục tẩy mới tinh của mình và đưa cho tôi một
nửa mới thật là phi thường. Giống như giao cả tá nhà kho cũ kỹ cho một cơn lốc
xoáy khổng lồ vậy.
Sau đó, mỗi lần
đi ngang qua tượng kỳ lân một sừng ấy, tôi lại ngồi xuống đó một lúc mà suy ngẫm
về những Đàn ông không có đàn bà. Tại sao lại là chỗ đó? Tại sao lại là kỳ lân
một sừng? Có lẽ kỳ lân một sừng cũng là một trong những Đàn ông không có đàn
bà. Ý tôi là, tôi chưa bao giờ thấy một “cặp” kỳ lân một sừng cả. Ông ta —phải
là một ông ta chứ, phải không nào?— luôn luôn cô đơn, cái sừng nhọn chĩa thẳng
lên trời. Có lẽ chúng ta nên dùng ông ta làm biểu tượng cho Đàn ông không có
đàn bà, cho nỗi cô đơn mà chúng ta mang theo như gánh nặng của mình. Có lẽ
chúng ta nên may phù hiệu kỳ lân một sừng vào túi áo ngực và mũ của mình, rồi lặng
lẽ diễn hành trên đường phố khắp thế giới. Không nhạc, không cờ, không băng giấy.
Có lẽ thế. (Tôi dùng từ “có lẽ” hơi quá nhiều. Có lẽ.)
Thật dễ dàng để
trở thành Đàn ông không có đàn bà. Chỉ cần yêu sâu đậm một phụ nữ, rồi cô ấy bỏ
đi đâu đó mất. Chỉ cần thế thôi. Hầu hết thời gian (như tôi chắc ai cũng biết)
chính những thủy thủ xảo quyệt đã mang họ đi. Chúng ngon ngọt dụ dỗ họ đi cùng,
rồi mang họ sang tận Marseille hoặc Bờ Biển Ngà. Mà chúng ta hầu như chẳng thể
làm gì được. Hoặc là những phụ nữ ấy đã chẳng liên quan gì đến bọn thủy thủ, mà
tự kết liễu đời mình. Và chúng ta cũng chẳng thể làm gì được cả. Ngay cả đám thủy
thủ cũng chẳng làm gì được nữa là.
Dù sao đi nữa, đó
là cách mình trở thành Đàn ông không có đàn bà. Trước khi mình kịp nhận ra. Và
một khi đã trở thành Đàn ông không có đàn bà, nỗi cô đơn sẽ thấm sâu vào bên
trong thân thể, giống như vết rượu vang đỏ thấm vào tấm thảm màu phấn. Cho dù
có học bao nhiêu sách về kinh tế gia đình đi nữa, thì việc tẩy xóa vết bẩn đó
cũng không hề dễ dàng. Vết bẩn có thể phai đi chút ít theo thời gian, nhưng vẫn
sẽ tồn tại là một vết bẩn, đến tận ngày mình trút hơi thở cuối cùng. Nó có quyền
là vết bẩn, có quyền thỉnh thoảng công khai đưa ra những tuyên bố đặc trưng của
vết bẩn. Và mình phải sống phần đời còn lại với sự lan tỏa dần dần của màu sắc
vết bẩn đó, với đường viền mơ hồ của nó.
Âm thanh nghe
khác đi trong thế giới đó. Cả cách mình thể nghiệm cơn khát cũng khác đi. Và
cách râu mình mọc. Và cách các nhà pha chế cà phê ở Starbucks đối xử với mình.
Các bản độc tấu của Clifford Brown cũng nghe khác biệt. Cửa tàu điện hầm cũng
đóng mở theo cách thức khác lạ và bất ngờ. Đi bộ từ Omote Sando đến Aoyama
Itchome, mình phát hiện ra khoảng cách không còn như xưa nữa. Mình có thể gặp một
phụ nữ mới, nhưng dù cô ấy có tuyệt vời đến đâu (thực ra, cô ấy càng tuyệt vời
thì điều này càng đúng), ngay từ khoảnh khắc gặp cô ấy, mình bắt đầu nghĩ đến
việc mất cô. Cái bóng gợi cảm của những thủy thủ, âm thanh của những ngôn ngữ
xa lạ họ nói (tiếng Hy Lạp chăng? hay tiếng Estonia? hay tiếng Tagalog?), khiến
mình lo âu. Tên của những hải cảng lạ lẫm khắp thế giới khiến mình hoang mang.
Bởi vì mình đã biết ý nghĩa của việc trở thành Đàn ông không có đàn bà. Mình là
tấm thảm Ba Tư màu phấn, và sự cô đơn là vết rượu vang Bordeaux không thể phai
mờ. Nỗi cô đơn đã mang theo từ Pháp, nỗi đau của vết thương từ Trung Đông. Đối
với Đàn ông không có đàn bà, thế giới là một hỗn hợp pha trộn bao la mà sâu đậm,
giống như phía lưng của mặt trăng vậy.
M và tôi đã hẹn
hò với nhau được chừng hai năm. Chẳng phải là một khoảng thời gian quá dài. Thế
nhưng là hai năm đáng kể. Người ta có thể nói chỉ hai năm thôi sao. Hay bảo là
hai năm dài cơ à. Tùy thuộc vào quan điểm mỗi người. Tôi nói chúng tôi “hẹn
hò”, nhưng thực ra thì đã chỉ gặp nhau hai, ba lần mỗi tháng. Cô ấy có lý do
riêng, và tôi cũng có lý do của tôi. Đến lúc này thì đáng tiếc là, chúng tôi
không còn ở tuổi mười bốn nữa. Và chính những lý do như thế đã chia cắt chúng
tôi. Cho dù tôi có giữ chặt cô ấy đến mức nào để cô ấy không thể thoát ra. Và
những bóng đen dày đặc của những thủy thủ vẫn tiếp tục không ngừng rải những
chiếc đinh ghim ẩn dụ sắc nhọn ra khắp nơi.
Điều tôi nhớ nhất
về M là cô ấy yêu loại nhạc chơi trong thang máy đến mức nào. Những Percy
Faith, Montovani, Raymond Lefèvre, Frank Chacksfield, Francis Lai, 101 Strings,
Paul Mauriat, Billy Vaughan. Cô ấy có một tình cảm mặc-định dành sẵn cho thứ âm
nhạc vô hại này, theo tôi nghĩ. Âm vang từ những dây đàn thánh thiện, tiếng kèn
gỗ ngọt ngào, tiếng kèn đồng trầm ấm, tiếng đàn hạc dịu dàng vuốt ve trái tim
mình. Giai điệu quyến rũ không bao giờ sai lệch, những hòa âm như kẹo ngọt tan
chảy trong miệng mình, hiệu ứng tiếng vang hài hòa trong bản thu âm.
Tôi thường nghe
nhạc rock hoặc nhạc blues khi lái xe. Những Derek and the Dominos, Otis
Redding, The Doors. Nhưng M thì không bao giờ cho tôi chơi bất kỳ bản nhạc nào
trong số đó. Cô ấy luôn luôn mang theo một chiếc túi giấy đựng khoảng một tá
băng nhạc thang máy kia, và bật chơi từng băng một. Chúng tôi lái xe vòng
quanh, vô định, trong khi cô ấy khe khẽ ngân nga nương theo giai điệu “13 Jours
en France” của Francis Lai. Đôi môi duyên dáng, gợi tình của cô thoáng màu son
nhạt. Nói gì đi nữa, cô ấy hẳn đã có đâu chừng mười nghìn băng nhạc loại đó. Và
cô biết tất cả những gì cần biết về tất cả những bản nhạc thơ ngây ấy trên thế
giới. Giá như có một Bảo tàng Âm nhạc Thang máy thì cô ấy có thể là người
giám-tuyển chính đấy.
Cũng giống như lúc chúng tôi quan hệ tình dục. Cô ấy luôn
luôn bật nhạc ấy trên giường. Tôi không đếm xuể bao nhiêu lần đã nghe “A Summer
Place” của Percy Faith lúc chúng tôi đang làm chuyện đó. Nói ra điều này thì
hơi xấu hổ, nhưng ngay cả bây giờ tôi vẫn khá hứng tình mỗi khi nghe giai điệu ấy,
thở hổn hển, mặt đỏ bừng. Tôi cá là tìm kiếm khắp cả thế giới cũng chỉ tìm thấy
một người đàn ông —chính tôi— là người duy nhất bị kích thích tính dục ngay khi
nghe phần mở đầu của bản “A Summer Place”. Mà không, có thể chồng cô ấy cũng thế.
Hãy để mở khả-năng-tính đó nữa chứ. Có thể tìm kiếm khắp cả thế giới cũng chỉ
tìm thấy hai người đàn ông (bao gồm cả tôi) bị kích thích tính dục đến rạo
rực, khi nghe phần mở đầu của bản “A Summer Place”. Hãy nói lại cho chỉnh tề
như thế. Được lắm!
Không gian.
“Lý do em thích loại nhạc này”, M từng nói, “là vấn đề không
gian”.
“Không gian à?”
“Vâng, khi nghe loại nhạc này, em cảm thấy như mình đang ở một
nơi rộng mở, trống trải. Một không gian bao la, không có gì đóng khép lại cả.
Không có tường, cũng không có trần. Em không cần phải suy nghĩ, không cần phải
nói gì, hay làm gì cả. Chỉ cần có ở đó là đủ. Em nhắm mắt lại thả mình vào những
dây đàn tuyệt vời ấy. Không đau đầu, không nhạy cảm với cái lạnh, không có kinh
nguyệt hay rụng trứng. Mọi thứ chỉ đơn giản là đẹp đẽ, yên bình, trôi chảy. Và
em chỉ cần có ở đó là đủ”.
“Giống như em đang ở thiên đường vậy à?”
“Đúng thế”, M nói. “Em chắc chắn là Percy Faith đang chơi nhạc
nền trên thiên đường đấy. Anh xoa lưng cho em thêm một chút được không?”
“Được thôi”, tôi trả lời.
“Anh xoa lưng giỏi lắm đấy”.
Henry Mancini và tôi trao đổi một cái nhìn bí mật, và một nụ
cười nhẹ hiện lên môi chúng tôi.
Nhạc thang máy là một mục khác trong danh sách những thứ tôi
đã đánh mất. Ý nghĩ đó ập đến mỗi khi tôi lái xe. Trong lúc chờ đèn chuyển màu,
tôi nửa hy vọng một cô gái mà tôi chưa từng gặp sẽ đột nhiên mở tung cửa xe,
len vào trong, và không nói một lời hay thậm chí liếc nhìn, cô nhét một băng
cassette có bản “A Summer Place” vào radio. Thậm chí tôi còn nằm mơ như thế nữa
đấy. Tất nhiên, chuyện đó thực tế đã chẳng bao giờ xảy ra. Xe của tôi thậm chí
còn không có ổ chơi cassette nữa kia. Khi tôi lái xe bây giờ, thì tôi dùng iPod
có cáp USB. Và chắc chắn là không có Francis Lai and 101 Strings trong iPod của
tôi. Có nhạc của Gorillaz hay Black Eyed Peas thì đúng hơn.
Cảm giác mất đi một người phụ nữ là như thế đấy. Và đến một
thời điểm nào đó, mất đi một phụ nữ có nghĩa là mất đi tất cả phụ nữ. Đó là
cách thức chúng ta trở thành Đàn ông không có đàn bà. Chúng ta mất Percy Faith,
Francis Lai and 101 Strings. Và cả ammonite và coelacanth. Và chúng ta mất đi tấm
lưng xinh đẹp của cô ấy. Tôi đã thường xoa lưng M bằng lòng bàn tay, theo nhịp
ba nhẹ nhàng của phiên bản “Moon River” ban hòa tấu Henry Mancini. Waiting
round the bend, my Huckleberry friend… Đang đợi ở khúc cua, bạn
Huckleberry của tôi…
Nhưng tất cả nay đã tan biến mất rồi. Tất cả những gì còn lại
chỉ là một nửa cục tẩy cũ kỹ, và âm thanh xa xăm bài ai-ca của những thủy thủ.
Và tượng kỳ lân một sừng bên hồ phun nước, chiếc sừng đơn độc chọc thẳng lên bầu
trời.
Tôi hy vọng rằng M hiện giờ đang ở trên thiên đường—hoặc một
nơi nào đó giống như vậy, và đang thưởng thức bản “A Summer Place”. Đang được dịu
dàng bao bọc bởi âm nhạc rộng mở vô biên ấy. Tôi chỉ hy vọng không có âm nhạc
Jefferson Airplane nào đang chơi. (Chắc chắn Chúa không tàn nhẫn đến như vậy
đâu.) Và thật tuyệt vời nếu trong lúc lắng nghe những cây vĩ cầm bật tiếng
pizzicato của bản “A Summer Place”, đôi khi cô ấy nghĩ đến tôi. Nhưng có lẽ như
vậy là đòi hỏi quá đáng. Tôi cầu nguyện rằng, mặc dù cá nhân tôi chẳng phải là
nhân tố gì cả, M vẫn hạnh phúc và bình yên, với nhạc nền thang máy Muzak chơi
mãi cho đến vĩnh cửu.
Là một trong những Đàn ông không có đàn bà, tôi cầu nguyện
điều đó bằng cả trái tim mình. Ngay lúc này, cầu nguyện có vẻ là việc duy nhất
tôi có thể làm. Có lẽ thế.
Murakami
