Hương đã rời đi từ lúc nào. Thạch vẫn còn ngồi lại đó, trên những bậc thềm lạnh lẽo dẫn vào cổng chính nhà thờ. Hai cánh cửa gỗ lớn, nặng nề, lạnh lùng khép lại sau lưng Thạch khi giờ cầu kinh buổi chiều vừa chấm dứt. Chiều cuối năm, trời gây gây lạnh vì những cơn gió nhẹ mang theo sự ẩm ướt từ đâu thổi về. Những bọt tuyết trắng chưa tan hết, còn đọng rải rác trên các thảm cỏ sau đợt tuyết đầu tiên đổ xuống thành phố ngày hôm kia. Sân giáo đường bỗng trở nên vắng ngắt, chỉ còn lại mình chàng và người đàn bà quỳ dưới chân tượng Đức Mẹ nơi hang đá có ngôi sao lớn và những chùm đèn màu nhấp nháy. Tuy vậy, Thạch biết chắc rằng chỉ vài giờ nữa thôi, khung cảnh nơi đây sẽ đổi khác, sẽ nhộn nhịp hơn bao giờ hết vì những thánh lễ Giáng Sinh kéo dài đến nửa đêm.
Thạch phải rời khỏi nơi này để tới chỗ hẹn với người bạn.
Chàng biết chắc là Hương sẽ chờ để gặp chàng trước giờ thánh lễ nửa đêm vì nàng
đã nói từ mấy tuần trước là nàng sẽ dành cho chàng một “chỗ ngồi đặc biệt”
trong thánh lễ ấy. Thạch không thể hủy bỏ cuộc hẹn với người bạn, Hương có giận
thì cũng đành chịu. Chàng chỉ nói vắn tắt với Hương là chàng có việc cần phải
đi sau khi đưa nàng tới đây, và chàng sẽ cố gắng về sớm để kịp dự thánh lễ.
“Anh có hẹn hò gì thì đi đi. Em phải vào tập hát, tới giờ rồi.”
Hương nói, làm ra vẻ bình thường, như chẳng có chuyện gì cả
nhưng Thạch hiểu là không “bình thường” chút nào khi nhìn vẻ mặt đóng băng của
nàng và chàng nghe tiếng chân nàng xa dần.
Lát nữa đây, trong lúc Hương đang tập tành hát xướng dưới
basement của nhà thờ thì chàng phải lái xe đến mấy mươi dặm để có cuộc gặp với
người bạn cũ. Chỉ là chuyện bạn bè lâu ngày gặp nhau thôi chứ không có gì là hệ
trọng, nhưng chàng không đến không được. Người bạn tới từ tiểu bang khác và
đang chờ gặp chàng ở nhà người bà con, anh em gì đó cách đây khá xa. Tay bạn
này cũng khá thân, qua Mỹ trước chàng, từng chuyện trò với chàng qua điện thoại
và chàng hẹn sẽ tiếp rước cẩn thận ngày nào anh ta đặt chân tới đây. Ác một nỗi
là Thạch chỉ có một ngày để gặp người bạn vì sáng hôm sau anh ta lại lên đường.
Chàng không tiện giải bày với Hương vì chàng không chắc là nàng sẽ thông cảm
cho chàng. Hương có thể cho rằng chàng coi trọng bạn bè hơn là nàng, hay tệ hơn
nữa, nàng có thể nghĩ, như nàng từng nghĩ, lúc nào chàng cũng tìm ra được một
lý do nào đó để không phải đi lễ với nàng. Nàng vẫn cho rằng chàng có vẻ ngại
ngùng khi phải đặt chân đến nhà thờ vì chàng… không có đạo.
Về điểm này, Thạch cho là không hoàn toàn đúng lắm, hoặc chỉ
đúng trước đây thôi, những lần chàng lò dò theo nàng đến nhà thờ. Bây giờ thì
chàng đã bớt lúng túng, ngại ngùng vì sợ rằng có ai đó phát giác chàng là tên
ngoại đạo, trà trộn giữa bầy chiên lành của Chúa. Vì nàng, chàng sẵn sàng đi tới
đâu, “đi bất cứ nơi nào tổ quốc cần”, như lối nói trong nước, sá gì chuyện đi…
nhà thờ. Kể ra thì chuyện “xem lễ” cũng không khó khăn lắm như chàng tưởng. Vị
linh mục giảng bài thì cứ ngồi nghe thôi, hoặc suy nghĩ vẩn vơ, còn về nghi thức
thì ai làm sao mình làm vậy, chỉ riêng màn rước lễ thì cần nhớ lời nàng dặn dò
là cứ việc ngồi giải lao tại chỗ chứ đừng có đi theo ai hết. Đôi lúc có mệt mỏi
vì thánh lễ kéo dài thì tiếng hát của nàng ít ra cũng giúp chàng… tỉnh ngủ.
Kể cũng buồn cười là quen biết nhau khá lâu Hương mới biết
chàng không có đạo. Nàng như bị hụt hẫng khi phát giác điều bất ngờ này.
“Tại sao anh không nói?” nàng đã hỏi chàng vậy.
“Tại sao em không hỏi,” chàng hỏi lại.
“Tại vì em tưởng anh có đạo.”
Sao lại có chuyện “tưởng” kỳ cục như vậy, chàng nghĩ. Nàng
làm như khi quen nàng là chàng phải có đạo, hoặc nhìn mặt chàng ai cũng biết
chàng là tín đồ ngoan đạo nên không cần phải hỏi. Thực ra, thuở bé chàng có đi
học ở một trường đạo, thế rồi hoặc vì chàng không thuộc giáo lý, hoặc vì không
được ơn kêu gọi, ơn cứu rỗi hay ơn gì gì đó, hoặc vì mấy bà soeur nghiêm khắc
quá làm chàng phát sợ nên bố mẹ chàng phải chuyển con mình sang trường khác.
“Đạo nào thì cũng là… đạo.” Chàng vẫn nói với Hương như vậy,
và nàng cũng sẽ dễ dàng đồng ý nếu chàng đừng có thêm vào “Đạo nào thì cũng là
‘thuốc phiện của nhân loại’, cũng là ‘tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức’.”
Mặc dầu Thạch nhiều lần cải chính là những câu đó không phải của chàng mà của
Lê-Nin, nàng vẫn gọi chàng là “kẻ tà đạo” và cho rằng chàng phải có bà con họ
hàng gì với ông Lê-Nin ấy vì cả hai cùng… họ Lê cả.
“Đạo nào thì cũng… tốt thôi,” sau cùng chàng phải đổi lại,
“đạo em cũng như đạo anh.”
“Đạo anh là đạo gì?” nàng hỏi, giọng ngờ vực.
“Đạo… công bằng và đạo lý làm người,” chàng nói, lên giọng,
để tỏ ra là mình cũng “có đạo” vậy.
“Nói như anh thì dễ quá, khỏi cần đến nhà thờ, chùa chiền gì
cả.”
“Theo anh, đâu có cần phải đến gặp Chúa mỗi tuần, cũng phải
để cho ngài nghỉ ngơi chứ.” Thạch mạnh dạn nêu ý kiến. “Anh thích cảnh trong một
cuốn phim cao bồi. Một tay súng bụi đời trở về ngôi làng cũ sau những năm biền
biệt xa quê, bước vào ngôi nhà thờ vắng lặng, đứng ở một góc khuất ngước mắt
nhìn tượng Chúa đóng đinh, lặng lẽ làm dấu thánh. Chỉ có hai người…”
“Không dám đâu!” nàng ngắt lời khi chàng đang cố tìm những
câu văn vẻ để tả tình tả cảnh. “Anh mà vào đạo chắc cũng như anh chàng đó, mỗi
năm đến nhà thờ một lần.”
“Anh thích thánh ca,” Thạch nói sang chuyện khác. “Nhạc
thánh ca tạo cảm giác lâng lâng, làm cho lòng mình dịu lại, làm cho tâm hồn…”
“Anh biết những bài nào, kể nghe thử?” nàng hỏi.
“Nhiều lắm, đâu nhớ hết được. Silent Night này, Ave Maria
này…”
“Nhạc Việt?”
“Umm… Bài Thánh Ca Buồn.”
“Bài đó không phải là thánh ca,” Hương lắc đầu.
“Vì sao “Bài thánh ca buồn” lại không phải là… thánh ca, Thạch
không hiểu. Hương cũng không hỏi gì thêm.
“Ở nhà thờ có lớp giáo lý và ‘dự bị hôn nhân’ dành cho người
lớn. Anh nên ghi danh học những lớp đó.”
Thạch nhận xét, Hương có một “khuyết điểm” là nàng dành nhiều
thì giờ cho Chúa và những công tác thiện nguyện hơn là cho chàng. Ngoài những
giờ làm việc, những giờ đi học thêm, hầu hết thì giờ còn lại được nàng cho vào
những sinh hoạt của cộng đoàn giáo xứ ở đây như là phụ trách các lớp dạy tiếng
Việt, lớp giáo lý cho trẻ em, chưa kể đến những giờ sinh hoạt và tập hát với ca
đoàn của nàng… Lượng thì giờ nàng dành cho chàng thật ít ỏi, chưa nói là trong
trường hợp cần thiết, nàng sẵn sàng donate một cách rộng rãi và vui vẻ cho nhà
thờ.
“Lấy của người này cho người khác, như thế là trái lẽ công bằng.
Đạo của anh không cho phép làm vậy.” Thạch chỉ phản đối nhẹ nhàng.
“Đạo của em thì… được,” Hương nói. “‘Hãy chia sớt cho kẻ
nghèo khó’, em chỉ làm theo đúng tinh thần phúc
âm.”
“Theo đúng tinh thần phúc âm”, Thạch học được câu ấy ở
Hương. Còn ngược lại là “trái với tinh thần phúc âm”, nghe hay hơn là “trái lẽ
công bằng” của chàng. Thỉnh thoảng chàng cũng học thêm được ở nàng ít câu hay
ho và lý thú khác, chẳng hạn như “Chúa sẽ trả công bội hậu”. (Nàng hay nói mỗi
khi chàng làm “cử chỉ đẹp” cho nàng, như là đeo vào cổ nàng sợi dây chuyền có
tượng ảnh thánh giá, món quà Giáng Sinh chàng mua tặng nàng). Người nào nghĩ ra
được câu này, theo chàng, thật là tài tình, thật là tiện và lợi. Câu nói đơn giản
thế thôi, chẳng mất mát gì mà lại hóa giải được dễ dàng những món nợ hoặc không
trả nổi, hoặc không muốn trả nghĩa là không cần phải bận tâm chuyện đền ơn đáp
nghĩa, và người nhận được câu ấy cũng vui bụng vì tin tưởng là như vậy. “Chúa sẽ
trả công bội hậu”, chẳng riêng gì vị linh mục mà chàng thấy hầu như bất cứ ai ở
nhà thờ cũng đều có thể xướng lên câu ấy một cách thoải mái, và cũng không cần
phải hỏi qua ý kiến Chúa xem ngài có bằng lòng thanh toán giúp món nợ ấy không.
Lần đầu Hương nói với chàng câu ấy một cách tỉnh queo, chàng định phản đối “Đừng
nói kiểu đó, đâu có thể ‘xù’ hoặc bán cái dễ dàng như vậy được”, nhưng sau đấy
chàng thấy câu ấy cũng hay hay và thỉnh thoảng cũng ứng dụng trong một vài trường
hợp.
Có lẽ đấy là lần cuối cùng hai người nói chuyện về đạo giáo.
Thực ra, đề tài này không mấy hấp dẫn đối với Thạch, và chàng cũng tránh không
muốn đề cập thêm nữa. Thứ nhất, chàng hiểu đấy là một trong những đề tài khá tế
nhị, nói năng không khéo dễ xa nhau. Thứ hai, trong mọi cuộc tranh luận về đề
tài này, hầu như kẻ chiến bại luôn luôn là chàng, vì nàng rất dễ dàng đi đến kết
luận gọn gàng và “độc tài đảng trị” là “Yêu em là yêu Chúa” (nghe cứ như “yêu
nước là yêu chủ nghĩa xã hội” vậy) để chấm dứt mọi ý kiến lộn xộn. Dù chàng có
nói gì đi nữa thì phần thắng cuối cùng cũng vẫn thuộc về nàng, vì nàng… thuộc
phúc âm hơn chàng. Lần duy nhất chàng được sự đồng ý của nàng là khi chàng bình
phẩm câu hát Cùng nhau quỳ dưới chân Chúa cao sang.
“Câu này trái với… tinh thần phúc âm,” chàng mạnh dạn phát
biểu. “Nói ‘thấp hèn’ thì ok chứ làm gì có chuyện ‘cao sang’, quyền quý. Chúa
không hề phân biệt giai cấp mà lúc nào cũng gần gũi với những kẻ khốn khổ như…
anh vậy.”
Thừa thắng, chàng phát biểu thêm ý khác.
“Làm gì có chuyện Em hiền như ma soeur. Câu này…
trật (chàng định nói… ‘trái với tinh thần phúc âm’, nhưng kịp đổi lại). Ma
soeur sức mấy mà hiền. Giá mà ngày xưa Chúa cho anh gặp được mấy bà sơ hiền hiền
cỡ em thôi thì anh đã đi tu rồi chứ không phải chỉ vào đạo.”
Hương nói trước đây có lần nàng suýt đi tu.
“Đi tu, đó là thứ hạnh phúc buồn bã,” Thạch nói, “là nỗi vui
gượng gạo của những người thân còn ở lại.”
Hương chỉ mỉm cười, môi hơi nhếch lên. Nụ cười cũng thoáng vẻ
bí ẩn như khi nàng nói là sẽ dành cho chàng “một chỗ đặc biệt” trong thánh lễ
Giáng Sinh. Thạch không rõ khi nói lời ấy nàng có ngụ ý gợi cho chàng nhớ ngày
đầu hai người gặp nhau và quen nhau…
* * *
Thạch nghiệm ra một điều, ở đời có nhiều chuyện ta tưởng rằng
ngẫu nhiên, nhưng thực ra không phải vậy mà có bàn tay kín đáo của định mệnh sắp
đặt đâu vào đấy cả. Chẳng hạn, sao không phải là một lúc nào khác, một nơi nào
khác mà lại rơi đúng vào ngày đó, giờ đó, nơi đó, một quán ăn xoàng xoàng trong
số bao nhiêu là quán ăn ở nước Mỹ rộng lớn này, hai người bạn cũ bất ngờ gặp lại
nhau sau nhiều năm xa cách. Trí, người bạn “tha hương ngộ cố tri” ấy, cũng
chính là người đưa đường dẫn lối cho chàng gặp Hương. Tất cả, như một chuỗi mắt
xích, không phải là đã có bàn tay của định mệnh hay sao?
Nếu không có cái đám cưới tổ chức rất là luộm thuộm đó, Thạch
nghĩ chàng và Hương có đi đến cuối cuộc đời cũng không dễ gì gặp được nhau.
Thạch ít khi nào hăng hái tham gia những vụ đám cưới, đám hỏi.
Vừa mất thì giờ lại vừa vô bổ, vô duyên khi phải vác xác đi dự một cái tiệc cưới.
Phải ăn mặc chỉnh tề, phải chào hỏi trịnh trọng, phải vỗ tay lộp độp, phải ngồi
ăn nhậu cùng bàn với những tay hoặc chẳng quen chẳng biết, chẳng thân chẳng sơ,
phải nghe phải nói những câu chuyện nhạt nhẽo, vô vị và lại còn bị tra tấn thô
bạo bằng âm lượng quá tải của dàn nhạc giúp vui. Trong một khung cảnh bát nháo
như vậy, làm sao có thể enjoy chuyện ăn uống hoặc tiết mục nào của buổi tiệc cưới.
Tốt hơn hết là nằm nhà nghỉ ngơi và giữ gìn sức khỏe.
Thế nhưng đám cưới của Kim, em gái Trí, thì Thạch cũng khó
lòng từ chối. Bố mẹ Trí và Kim đều đã qua đời, và Trí là ông anh lớn nên phải
lo liệu mọi việc, chỉ nhờ một ông bác đứng ra làm chủ hôn. Thạch cũng phải làm
ra vẻ sốt sắng tham gia vào việc tổ chức, dù chỉ giữ một vai phụ trong ban tiếp
tân của tiệc cưới, nghĩa là chỉ việc đứng một chỗ quan sát, thấy vị khách nào đứng
lớ ngớ, không người chăm sóc, thì tiến lại gần chào hỏi, “Xin ông bà cho biết
quý danh” rồi dẫn khách vào ngồi đúng bàn tiệc có đánh số trong tờ giấy ghi tên
tuổi khách mời và số bàn. Có khá nhiều thực khách đứng ngơ ngác giữa đám đông ồn
ào (mặc dầu ban tiếp tân đã được dặn dò cẩn thận là sau màn chụp hình chụp ảnh
phải hướng dẫn khách đến ngay các bàn đã được đánh số sẵn). Thạch cũng chỉ giải
quyết được một số khách, còn một số phải… tự giải quyết, tự phục vụ nghĩa là tự
mình lăng xăng đi kiếm chỗ ngồi cho mình, hơn là cứ đứng mãi một chỗ chẳng ai
thèm hỏi han đến. Các cô phụ trách việc dẫn lối đưa đường cho khách khứa không
hiểu biến đâu mất dạng mà chẳng thấy mặt mũi cô nào cả.
Hương và cô bạn nàng đến hơi muộn, và khi ấy thật khó mà tìm
được một bàn trống. Thạch tiến lại gần cứu bồ giữa lúc hai “con nai vàng ngơ
ngác” đang lộ vẻ bối rối, đảo mắt nhìn quanh quất. Chàng cũng hỏi danh tính, và
sau khi Hương trả lời thì đến lượt Thạch… bối rối vì chàng tìm đỏ mắt trong cái
danh sách dài ngoằng trên tay mà không thấy tên nàng đâu cả.
“Hai cô vui lòng đợi cho một chút nhé…, ba mươi giây thôi.
Xem nào, Kim Hương… bàn số 6, Thu Hương… bàn số 17. Không phải tên cô sao?”
“Thưa không phải, em là Thiên Hương.”
Thạch cũng không tìm thấy tên của Thúy, cô bạn nàng. Chàng
dò lại một lần nữa từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, và bắt đầu thấy hoa mắt…
(“Khách khứa đến mấy trăm mạng, tên tuổi cứ loạn cào cào thế này, không chịu xếp
theo thứ tự abc thì bố ai mà tìm được,” Thạch nguyền rủa cái danh sách thổ tả).
Những bàn quanh đấy cũng không còn chỗ trống. Thạch lúng túng…, chẳng lẽ cứ đứng
mãi giữa ngã ba đường thì cũng bất tiện và kỳ cục.
“Thôi tôi hiểu rồi, hai cô chắc phải là chỗ thân tình, không
kể là khách mời, nên… không có tên trong danh sách này.” Thạch giải thích bừa.
“Như vậy để tôi xem…”
“Không sao,” Hương nói, chắc nàng thấy tội nghiệp chàng.
“Anh cho ngồi đâu cũng được, càng xa ban nhạc càng tốt.” Đến lượt nàng giải
thoát cho chàng.
“Ok, xong ngay. Để tôi đưa hai vị đến bàn đặc biệt của người
nhà vậy, có hơi xa đây một chút nhưng là chỗ an toàn nhất. Tôi cũng từng là nạn
nhân đau khổ của ban nhạc đám cưới.”
Hương mỉm cười, nói cám ơn và theo chân chàng. Ba người luồn
lách giữa những lối đi và đủ loại tiếng động ồn ào. Thạch nghe những tiếng gọi
tên Hương từ một bàn gồm toàn những thực khách trẻ trung và nàng chỉ cười cười,
ngoắc ngoắc tay trong lúc vẫn theo sau chàng, không dừng lại.
Khi màn trình diện hai họ chấm dứt trong những tràng pháo
tay theo phép lịch sự, Thạch bắt đầu thấy mệt mỏi và cũng đã chán ngán vai tuồng
quan sát viên kiêm hướng dẫn viên của mình nên chàng thả nổi, ai muốn ngồi đâu
thì ngồi. Những người khách đến trễ là lỗi tại họ, nhiệm vụ chàng tới đây là chấm
dứt, và ngay đến chàng cuối cùng cũng chẳng có được một chỗ để ngồi. Thạch phải
quay về lại bàn “không có đánh số” của Hương và Thúy, chiếc bàn trống duy nhất
còn lại.
“Hai cô ngồi đây được chứ?” chàng hỏi. “Nếu thấy buồn, tôi sẽ
đổi cho bàn khác.”
“Chỗ này tốt lắm rồi anh,” Thúy nói.
“Tôi là Thạch, bạn Trí, anh của Kim. Hai cô thì tôi đã biết
tên rồi.”
“Tụi em cũng đoán vậy”, Hương lên tiếng. “Anh Trí vui tính lắm.”
Gọi là “bàn đặc biệt của người nhà”, thực ra, đây chỉ là chiếc
bàn được trù liệu kê thêm vào phút chót trong trường hợp không đủ chỗ cho
khách. Thường thì chỉ dư bàn chứ ít khi thiếu. Thạch cũng không hiểu sao khách
khứa lại chịu khó có mặt đông đủ như vậy. Ngoài ba người, chỉ có thêm cặp vợ chồng
người chú hay bác gì đó của Trí và Kim và mấy đứa bé. Lát sau Trí cũng lò dò
tìm đến bàn ấy.
“Tìm mãi, hóa ra lại rúc vào đây tán tỉnh hai người đẹp
này,” Trí nói, quay sang phía Hương và Thúy. “Tối nay hai em đều đẹp cả. Mỗi
người một vẻ mười phân vẹn mười… Nhưng đừng có dại dột mà nghe lời đường mật của
tay này.”
“Sao vậy anh Trí?” Hương hỏi.
“Thì ngọt mật chết ruồi chứ còn trăng sao gì nữa.”
“Ghê quá,” Thúy lè lưỡi. “Anh Trí gọi hai đứa mình là ruồi.”
Từ lúc có thêm Trí, câu chuyện thêm tự nhiên, thân mật. Qua
lời Trí, Thạch biết được hai nàng là bạn của Kim, cùng sinh hoạt trong ca đoàn
của một giáo xứ người Việt ở đây tên là “Cung Chiều” hay “Cung Triều” gì đó và
Hương là một trong những giọng nữ chính của ca đoàn. Lúc sáng ca đoàn có đến
giúp phần hát xướng trong thánh lễ hôn phối ở nhà thờ. Thánh lễ ấy không có Thạch
vì trước giờ chàng vẫn không mấy thoải mái khi tham dự những nghi thức tôn
giáo.
“Bài Hương hát khi sáng ở nhà thờ hay quá phải không anh Thạch?”
Thúy hỏi.
“Vâng, tôi thích bài ấy,” Thạch gật gật đầu phụ họa, dù
chàng chẳng biết “bài ấy” là bài gì.
Hương không phải là bông hoa đẹp nhất trong đêm ấy, và cũng
không phải sắc nước “hương trời” như là tên của nàng để có thể hớp hồn chàng
ngay từ phút đầu, ngoài khuôn mặt thanh tú, trang điểm khéo, hoặc ít trang điểm
khiến nàng có vẻ đẹp tự nhiên và kín đáo. Sau này mỗi lần hình dung lại chàng
cũng không nhớ nổi là đêm ấy nàng ăn mặc kiểu cọ ra sao, màu sắc thế nào. Thạch
chỉ nhớ mang máng là trong đêm ấy chàng nghe được giọng nói thật là êm dịu,
“Thưa không phải, em là Thiên Hương… Anh cho ngồi đâu cũng được.” Giọng nói như
rót mật vào tai ấy làm Thạch nhớ đến người bạn gái năm nào. Hằng, cũng nét mặt
từa tựa như thế, cũng giọng nói dịu dàng như vậy, và chàng đã yêu giọng nói ấy.
Hằng đã lấy một người khác. Lần gặp lại Trí, người bạn cũ, Trí tỏ vẻ ngạc nhiên
khi biết chàng vẫn phòng không chiếc bóng vì tưởng hai người đã lấy nhau. Trong
lúc Trí đã vợ con đàng hoàng thì Thạch vẫn cứ để vuột mất những mối tình. Khi
ngồi gần Hương, nghe nàng trả lời những câu hỏi của Trí và chàng, Thạch tưởng
được nghe lại giọng nói đã từ lâu lắm. Nhưng trước mặt chàng khi ấy là Hương,
và Thúy, chứ không phải Hằng. Thạch tự hỏi liệu có chút liên hệ nào giữa Hằng
và cô gái ngồi cùng bàn, giữa hai giọng nói ấy và chàng kín đáo ngắm nhìn khuôn
mặt lặng lẽ, cử chỉ nhẹ nhàng của Hương để cố gắng tìm kiếm nét gì quen thuộc,
nhưng rồi chàng thấy mình lẩm cẩm và có vẻ giàu óc tưởng tượng. Thạch cũng để ý
Thúy và Trí thỉnh thoảng cố ý đưa đẩy gán ghép Hương và chàng qua những câu nói
đùa đầy ẩn ý.
* * *
Những câu nói đùa đầy ẩn ý ấy thực ra cũng không giúp cho
chàng và Hương xáp lại gần nhau hơn, nếu không có cái party “hậu đám cưới” ở
nhà Kim sau đó không lâu, gọi là “họp mặt thân mật” nhưng chắc là để “đền ơn
đáp nghĩa” những người đã dự phần vào việc tổ chức thành công đám cưới vừa rồi
(chắc là “thành công” về mặt tài chánh nhờ số lượng khách khứa đông đảo, còn việc
tổ chức dẫu có luộm thuộm một chút thì cũng cho qua). Hôm ấy Thạch đến trễ. Vừa
đặt chân vào phòng ngoài, chàng đã nghe tiếng Thúy gọi đến ngồi chung
bàn.
“Em đã dành sẵn cho anh một chỗ đặc biệt,” Thúy nói, chỉ chiếc
ghế trống giữa nàng và Hương, là chỗ của Kim, chủ nhà, nhưng Kim không ngồi đấy
mà nhảy sang bàn khác.
“Ngồi giữa hai cô sao?” Thạch tròn mắt, hỏi. “Thôi cũng liều
mạng, đặt đâu ngồi đấy vậy. Lần này thì cô là người dẫn lối cho tôi đấy nhé.”
Thúy giới thiệu từng người, Thạch bắt tay, nhận ra ít khuôn
mặt quen quen hôm tiệc cưới ở chiếc bàn ồn ào mà chàng nghe gọi tên Hương lúc dẫn
lối cho hai nàng đi ngang qua. Chàng để ý Quang, tay ngồi cạnh Thúy, khá bảnh
trai và có những cử chỉ khá thân mật với nàng, chắc là bồ bịch sao đó.
“Anh Thạch là bạn anh Trí, lớn tuổi hơn đám mình.” Thúy làm
vẻ mặt nghiêm trang, dặn dò. “Mấy bồ phải đứng đắn.”
“Nhưng nếu anh ấy không… đứng đắn thì sao?” một chàng hỏi.
“Thì… tới luôn,” Thạch vừa nói vừa nâng ly mời mọi người.
“Tôi cũng chịu ‘quậy’ lắm, giá nào cũng chơi hết.”
Thạch làm ra vẻ chịu chơi, chàng không muốn tỏ ra là mình
“già” hơn những người ngồi đó, mặc dầu chàng cũng thấy mình có vẻ… già nhất
trong bàn thật, ngoài một chị được giới thiệu là ca đoàn trưởng. Một phần chàng
nhiều tuổi hơn, một phần vì chàng là bạn của Trí, mà Trí thì vẫn được đám này nể
nang.
Thức ăn dọn sẵn trên bàn nhưng có vẻ ít được chiếu cố vì mọi
người nói nhiều hơn là ăn, trừ Nguyệt, chị ca đoàn trưởng, và Hương, chắc vì có
Thạch ngồi cạnh. Thạch có uống chút rượu Quang rót cho chàng, và thấy đầu óc
hơi váng vất. Có một lúc chàng loáng thoáng nghe Thúy nói nhỏ vào tai mình.
“Em biết anh để ý Hương, phải không?”
“Sao cô biết tài vậy?” Thạch hơi giật mình, rồi chàng làm điệu
bộ tròn mắt, ngạc nhiên.
“Làm gì mà không biết,” Thúy nháy mắt. “Trong mắt anh có
tình yêu, làm sao giấu được.”
“Từ nay gặp cô chắc tôi phải đeo kính mát,” Thạch nói. Rồi
chàng đổi giọng, “Anh phải học em mới được, Thúy à.”
“Hương cũng có vẻ… cảm tình đặc biệt với anh.”
“Đừng có an ủi. Anh đâu có đẹp trai.”
“Chị Kim cũng nói em gài độ cho anh. Nhưng mà anh phải lanh
tay lẹ mắt mới được, con gái bây giờ… Ngó anh hiền quá, không như anh Trí.”
“Không hiền thì dữ với ai bây giờ, có nhe răng trợn mắt cũng
đâu có làm ai sợ.”
Thạch thoáng thấy Hương kín đáo liếc nhìn hai người. Chắc
nàng biết Thúy và chàng đang nói về mình, Thạch nghĩ vậy và chàng làm bộ nâng
ly mời hai nàng.
Chút men rượu làm hưng phấn thêm những câu chuyện. Các cô
gái cũng có vẻ dạn dĩ hơn. Thạch cũng thấy Hương lần lần tỏ ra thoải mái hơn
trong những câu nói đùa qua lại với chàng và mọi người. Chàng nghe tiếng cười
ròn rã của nàng bên tai và biết nàng vui nhiều đêm nay. Trong lúc chuyện trò, mỗi
lần hai người chạm mắt nhau Thạch lại nhớ lời Thúy, chàng nhìn kỹ mắt Hương và
tự hỏi liệu có chút tình yêu nào trong sóng mắt long lanh ấy. Thạch không thể
đoán chắc được, tuy rằng lâu lâu chàng lại bị mũi giày nghịch ngợm của Thúy đá
nhẹ mấy cái vào chân ở dưới gầm bàn.
Bàn của Thạch là bàn của những tay chịu “quậy”. Sau phần ăn
nhậu, một thanh niên ngồi cùng bàn, Thạch không nhớ tên, lên mở đầu chương
trình hát hỏng bằng bài hát tên “Kim”, nói là để tặng người cùng tên với bài
hát. Anh chàng vừa hát vừa nhún nhảy, lắc lư theo lời ca và điệu nhạc khá “giựt”.
Bài hát được tán thưởng, và xong phần trình diễn chàng ca sĩ được chính Kim, chủ
nhân buổi tiệc, đến bắt tay và bất ngờ kiễng chân thưởng cho một chiếc hôn lên
má. Nhiều tiếng vỗ tay và huýt sáo. Sau đấy các chàng trai chế ra được một trò
vui: chàng nào nghĩ ra được bài hát nào có tên của một trong những cô gái có mặt
ở đây, và chịu lên hát tặng thì sẽ nhận được phần thưởng là chiếc hôn của cô
gái đó như anh chàng vừa rồi. Đề nghị hấp dẫn được nhanh chóng thông qua nhưng
các chàng còn tiếp tục bàn cãi sôi nổi là hôn thế nào, hôn vào đâu, hôn trán,
hôn tóc, hôn má, hôn môi, hay… hôn tay. Sau cùng, Trí phải đứng ra giải quyết:
hôn kiểu nào là tuỳ thuộc ca sĩ hát hay hoặc dở. Giải xuất sắc là hôn môi, giải
an ủi là hôn má, còn hát tệ quá thì chỉ được giải khuyến khích là… bắt tay rồi
về chỗ.
Thế là sau đó các chàng bèn có một màn thi đua vận dụng trí
nhớ để tìm ra cho được những bài nhạc nào mang tên các cô bạn đáng yêu của
mình, bất chấp sự phản kháng quyết liệt của phái nữ, cho rằng bị đối xử bất
công vì cứ phải hôn hết người này người nọ mà… không được gì cả. Hầu hết những
tên bài hát đều bị các nàng khước từ vì cho là bất hợp lệ. Lan thì nói tên nàng
là Tuyết Lan chứ đâu phải “Ngọc Lan”, và cũng không thể là cô Lan trong “Chuyện
tình Lan và Điệp” vì nàng không có ý định đi tu. Thúy thì nói “Thúy đã đi rồi”
là Thúy nào chứ đâu phải là nàng vì nàng vẫn còn ngồi đây chứ có đi đâu
mà bóng hình em xa khuất trong tôi. Phượng cũng nói “Phượng yêu”
không phải là nàng vì mắt nàng vẫn còn sáng thì không thể có chuyện yêu
mầu rực rỡ, yêu em mù lòa. Thu thì nói “Thu quyến rũ” hay “Hoài thu” cũng đều
nói về mùa màng chứ đâu phải là tên cô gái nào. Hương thì cũng nói như Thu,
“Hương xưa” của Thạch chỉ là… “hương đồng gió nội” (không phải như “Diễm xưa”),
còn “Hát nữa đi Hương” thì nàng chưa nghe khi nào cả, chắc là chàng… “chế” ra.
Chỉ có Nguyệt là tạm chấp nhận “Nguyệt ca” vì nàng thích bài hát ấy, với điều
kiện là người hát phải hát đúng và hát trọn bài. Trí lại phải thương lượng và
dàn xếp để các ca sĩ đều có được cơ hội trình diễn.
“Không nên làm khó nhau quá,” Trí nói, “một hai câu cũng được,
có thiện chí là tốt rồi.”
Sau đấy, những chàng nào trót nghĩ ra cái tên bài hát đều phải
lần lượt trình bày nhạc phẩm của mình. Thạch là người bị đẩy lên sau cùng,
chàng khó mà từ chối vì đã trót tỏ ra chịu chơi. Phần biểu diễn của các nam ca
sĩ trước đó đều thất bại cả. Khán thính giả là các nàng không chê các chàng hát
dở nhưng từ chối không cho hưởng đặc ân vì các ca sĩ đều không thuộc bài. Hầu hết
chỉ được giải khuyến khích, nhiều lắm là cho hôn má. Chung cuộc, các chàng vẫn
không làm sao khôn hơn mấy nàng được. Thạch thấy trước là thua nhưng không thể
rút tên được.
“Hương ơi, sao tiếng hát em nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt
ngào…1 ” chàng chỉ hát được tới đó rồi thôi.
“Anh Thạch hát hay dễ sợ! Phải mời anh ấy vô ca đoàn mới được.”
Thạch không biết mấy cô khen chơi hay khen thiệt.
“Ráng thêm chút nữa đi anh Thạch, có nhiều hy vọng đấy…”
“Hát mãi nghe Hương, cho hồng làn da, kẻo đời chóng già… ”
Khán giả kẻ huýt sáo, người che miệng cười. (Sau này mỗi lần
hát riêng cho nàng nghe câu ấy, chàng đều được Hương thưởng cho… cái nguýt xéo
thật sắc và lời bình phẩm “Vô duyên”. Nàng vẫn nói là chàng “chế” ra chứ làm gì
có câu ấy).
“Thiên Hương đâu rồi? Hát hay như dzậy còn đòi gì nữa mà
không chịu thưởng cho chàng,” các nàng kêu ơi ới.
Thạch nhìn xuống, chàng thấy Hương có vẻ ngượng.
“Cô Thiên Hương nói là bài hát ấy do tôi… sáng tác nên không
chịu thưởng mà còn đòi phạt,” Thạch gỡ thế khó cho Hương, “nhưng có hứa là khi
nào trưng ra được chứng cớ đàng hoàng thì sẽ thưởng gấp đôi. Đó là chuyện về
sau, còn bây giờ thì phải cho nghe giọng oanh vàng chứ, không lẽ cứ bắt tụi này
làm trò cười mãi? Nào, xin mời…”
Nhiều tiếng vỗ tay hưởng ứng. Thạch là người khởi xướng nên
mọi người dành cho chàng đặc quyền mở đầu chương trình “Nhạc yêu cầu”, nghĩa là
thích ca sĩ hát bài nào thì yêu cầu bài ấy. Thạch không nghĩ ra được bài gì nên
chàng đề nghị Hương hát lại bài nàng đã hát trong lễ cưới hôm trước và được nhiều
người khen hay.
“Đây đâu phải là nhà thờ,” Hương lắc lắc đầu.
“Có sao đâu,” Thạch nói. “Vẫn còn dư âm ngày cưới mà, phải
không quý vị?”
Một người nào đó đứng dậy, đến bên chiếc đàn organ. Tiếng nhạc
dạo êm dịu, và tiếng hát cất lên, chậm rãi… Căn phòng rộng lớn bỗng trở nên im
lặng khác thường, như sân khấu vừa chuyển đổi phông màn khác. Mọi thứ tiếng động
ồn ào trước đó đột nhiên im bặt. Chỉ
còn lại tiếng hát. A…ve Ma…ri…í…a… Mối tình xanh mãi mầu. Tiếng hát chầu,
đưa bao duyên lành mới qua cầu… Đây đó ta cùng nép dưới bàn thờ xin cầu lời
thương nhau…2 ”
Đấy là lần đầu Thạch nghe tiếng hát Hương. Chàng thấy mình
như đang chơi vơi ở một nơi nào khác chứ không còn ở trong căn phòng ấy nữa.
* * *
Về sau này, nhiều lần nghe Hương hát nhưng Thạch vẫn cứ
thích bài hát ấy. Còn bài mà chàng hát tặng nàng đêm ấy thì Hương vẫn không chịu
tin là có thực mặc dầu chàng có nói tên người nhạc sĩ. Hương nói nàng có nghe
cái tên đó và cũng có biết một vài bài của ông ấy, “Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng”
chẳng hạn, và “Chuyện một chiếc cầu đã gãy” có mấy câu nàng thích. Ngày
nào cầu đã đưa anh qua phố tìm em / Cầu đã đưa ta sang chỗ hẹn nhau…, Hương
hát nho nhỏ. Có lần Thạch chỉ nàng tấm ảnh người nhạc sĩ trên một tờ báo.
“Trông mặt mũi ông này khắc khổ quá,” Hương nêu nhận xét.
“Phía sau bộ mặt khắc khổ đó là một trái tim giàu lòng nhân
ái, một trái tim biết chia sẻ những khổ đau của đồng loại, biết cảm thương những
số kiếp không may, những mảnh đời bất hạnh…”
Thạch ngừng lại khi bắt gặp ánh mắt là lạ của Hương. Chàng
cũng thấy mình nói những lời ấy như kẻ thuộc bài, hoặc giống những anh chàng
truyền giáo, thỉnh thoảng đến gõ cửa nhà chàng, thuyết giảng làu làu những chuyện
chàng không hiểu gì cả rồi sau cùng hỏi chàng “Có muốn lên thiên đàng?”
“… theo đúng tinh thần phúc âm,” Thạch đi đến kết luận.
Hương vẫn nhìn chàng không chớp mắt như muốn dò xét chàng
nói chơi hay nói thật. Riêng Thạch, chàng tin điều mình nói, và chàng bỗng nẩy
sinh mối thiện cảm đặc biệt với người nhạc sĩ đã viết nên bài hát để tặng cô
gái tên Hương nào đó. Chàng không rõ cô gái ấy và ông nhạc sĩ có quan hệ thế
nào và tình cảm của ông đối với cô ra sao. Có như là chàng với Hương? Ông có
yêu cô gái ấy? Cô gái cũng yêu ông chứ? Thạch cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn ông
nhạc sĩ vì nếu không có bài hát ấy làm sao chàng có được lời tỏ tình hay ho đến
vậy, và lời tỏ tình ấy sau cùng cũng được đáp nhận. Hương, cô gái trong bài hát
ấy, nàng là ca sĩ, hay nàng ở trong… ca đoàn của nhà thờ? Hay nàng không là gì
cả, chỉ là cái tên, chỉ là quê hương, chỉ là “hương đồng gió nội” phất phơ như
Hương từng nói với chàng. Thạch không thể biết được. Chàng nhớ có gặp ông nhạc
sĩ một hai lần. Giá mà ngày ấy chàng chịu khó hỏi han ít câu, chắc sẽ tìm được
câu trả lời.
Về phía Hương, nàng vẫn không chịu tin là đã có một bài hát
như thế. Cho đến một hôm Thạch và nàng nghe trọn bài hát ấy trong một băng nhạc
cũ ở nhà chị ca đoàn trưởng, và Hương đã cười ngặt nghẽo khi nghe Thái Thanh
hát đến câu Hát mãi nghe Hương, cho hồng làn da, kẻo đời chóng già… Khi
ấy vì có Nguyệt ngồi đấy nên nàng không thể thực hiện lời hứa trước đây với
chàng được.
“Lâu nay ông ấy có viết thêm bài nào mới nữa?” Hương hỏi.
“Không,” Thạch trả lời, “người nhạc sĩ ấy đã qua đời.”
* * *
Sau cái bắt tay vội vàng, Thạch đi như chạy về phía parking,
không kịp quay lại trả lời câu chúc “Merry Christmas” của người bạn sau lưng.
Chàng nhìn đồng hồ. Không kịp nữa rồi, thánh lễ sắp sửa bắt đầu. Thạch tính
toán, nếu không bị kẹt xe, may lắm chàng có thể về đến nhà thờ khoảng giữa
thánh lễ. Ra tới freeway, Thạch tăng tốc độ, đổi lane rồi đổi lane, qua mặt các
xe khác. Nhưng rồi chàng cũng không chạy nhanh hơn được vì lane nào cũng là những
hàng dài xe cộ. Sau cùng thì điều chàng lo ngại đã xảy ra. Kẹt xe. Xe Thạch phải
nhích từng chút, từng chút một cho đến khi dừng lại hẳn. Thạch để ý là cái số của
chàng thật đen đủi, hầu như cứ mỗi lần chàng có việc khẩn cấp là mỗi lần… kẹt
xe. Và lần này cũng vậy. Chàng nóng ruột nóng gan nhưng không biết phải làm
sao. Nếu chàng đến nơi khi đã tan lễ và không gặp được Hương thì quả là một…
tai họa! Chàng giận người bạn ở xa sao không đến chơi vào dịp nào khác, quên rằng
anh ta phải cày bừa suốt năm và phải đợi tới Noel và Tết tây mới lấy được
vacation. Chàng cũng tự giận mình đã không chịu dứt khoát kiếu từ để ra về sớm
hơn mặc cho người bạn cố giữ chàng lại vì nói mãi vẫn chưa hết chuyện. Rồi
chàng lại thẫn thờ nhìn dòng xe cộ dài ngoằng trước mặt. Thạch cảm thấy bất lực.
Chàng chẳng biết làm gì hơn, ngoài việc… cầu xin Chúa giúp chàng vượt qua khổ nạn
đêm nay.
Để đỡ sốt ruột, Thạch lục lạo tìm thuốc lá, châm hút, gói
thuốc mà chàng thường phải giấu ở một chỗ kín trong xe, không để Hương trông thấy,
vì nàng đã nhiều lần bắt chàng phải từ bỏ, và chàng cùng đã nhiều lần hứa sẽ từ
bỏ, như là từ bỏ sự cám dỗ của ma quỷ vậy. Thạch nghĩ ngợi lan man. Chàng cố
hình dung Hương đang làm gì trong lúc này. Có thể là nàng đang quỳ lặng lẽ ở
hàng ghế đầu của dãy ghế dành cho ca đoàn, và nàng đang đang lẩm nhẩm những lời
kinh nguyện. Trong những lời nguyện ấy, biết có lời nào dành cho chàng. Có thể
là nàng nguyện cầu cho chàng kịp về dự thánh lễ không chừng. Vậy mà giờ này
chàng đang kẹt cứng ở đây, không cựa quậy không nhúc nhích gì được. Cũng có thể
ca đoàn đang hợp xướng một bài gì đó và Hương, một trong những giọng nữ chính,
sẽ solo ít câu nhạc nào đó. Làm sao biết được nàng hát bài gì nhỉ? Tuần trước
Hương hỏi chàng muốn nàng hát bài gì.
“Ave Maria,” Thạch
trả lời.
“Bài ấy em đã hát
Noel năm ngoái rồi.”
“Thì hát lại có
sao đâu. Một bài hát hay không bao giờ cũ.”
“Nhưng… thiếu gì
bài hát Noel khác.”
“Nhưng… anh thích
bài đó. Giọng em thích hợp bài đó.”
Trông vẻ mặt nàng
không được vui lắm. Thạch cũng thấy mình có vẻ hơi độc tài, nhưng vì nàng đã hỏi
nên chàng phải trả lời. Thực ra, trước giờ nàng muốn hát bài gì thì hát, có khi
nào nàng thèm hỏi ý kiến chàng. Nàng cứ việc… tự chọn bài hát, chàng đâu có ý
kiến gì được. Lúc này nghĩ lại, chàng thấy mình có vẻ kém hiểu biết về tâm lý
phụ nữ, nàng hỏi vì nàng muốn chiều chàng, muốn biết chàng thích bài nào, và
cũng muốn nghe chàng khen nàng hát hay những tên bài nào đó. Có điều nàng không
thích hát đi hát lại mỗi một bài, cũng như là phụ nữ vẫn thích thay đổi trang
phục chứ đâu có chịu mặc đi mặc lại một bộ cánh, dù có đẹp cách mấy. Thạch cũng
biết vậy, nhưng chàng vẫn có lý do để đề nghị nàng hát lại bài ấy, bài hát đầu
tiên chàng nghe nàng hát và cũng gắn liền với kỷ niệm ngày tình yêu đến với hai
người.
Như vậy cũng có
thể vì chiều chàng, nàng sẽ hát lại “Ave Maria”. Không rõ trong lúc hát nàng có
kín đáo đưa mắt tìm kiếm chàng trong số đông đảo giáo dân bên dưới, vì nàng muốn
tặng riêng chàng bài hát ấy. Cũng có thể là nàng đang kính cẩn ngửa mặt đón nhận
bánh thánh từ tay vị linh mục, hoặc đang khép hờ đôi mắt trong lúc nâng ly nhắp
ngụm rượu nho từ tay một bà soeur. Không thể được…, như vậy thì hỏng mất, không
còn kịp nữa rồi. Tình thế đã xấu đến mức không thể cứu vãn.
“Lỗi tại tôi mọi
đàng,” Thạch nhớ câu kinh ấy. Sau cùng, giữa lúc chàng đang đứng chênh vênh bên
bờ tuyệt vọng thì như một phép lạ, đoàn xe từ từ chuyển bánh. Không rõ có phải
vì Chúa nghe được những lời thống hối thành khẩn của chàng mà ra tay cứu độ. Nếu
quả vậy, ngài cũng đã rộng lòng thứ tha những lời lẽ mạo phạm lâu nay của
chàng. Thạch lại liếc nhìn đồng hồ. Chàng mất gần mười lăm phút chôn chân tại
đây.
Chưa hết, đến được
nhà thờ, chàng lại mất thêm gần mười lăm phút nữa chạy lòng vòng tìm chỗ đậu
xe. Chưa có lúc nào khu vực này lại lắm xe cộ đến vậy, đến cả những lề đường ở
xa nhà thờ cũng không còn chỗ trống đủ cho xe chàng chen vào. Đánh thêm vòng nữa
cũng không tìm ra được bãi đáp, Thạch chịu thua, đành phải quay trở lại parking
ở sân sau nhà thờ, đậu ngay giữa lối đi và ngồi chờ… tan lễ. Dù sao chàng cũng
yên tâm khi biết là thánh lễ vẫn chưa kết thúc, nghĩa là Hương của chàng vẫn
còn đấy, chứ nếu sân trong sân ngoài chẳng còn xe nào mới là điều đáng sợ. Đã lết
được về tới đây mà phải bỏ cuộc thì thật oan uổng, đành xem như định mệnh đã an
bài.
“Chạy trời không
khỏi số,” Thạch thở ra. Chàng cũng không có ý định khẩn cầu Chúa thêm điều gì nữa
vì không thể lợi dụng lòng tốt của ngài. Tuy nhiên, Thạch nghĩ bụng, giá mà được
Chúa chiếu cố thêm chuyến nữa thì chàng sẽ phải nghiên cứu cẩn thận đề nghị của
Hương về việc tham dự một lớp học giáo lý xem thử thế nào. “Đạo nào thì cũng… tốt
thôi,” chàng nhớ đã nói với Hương như vậy.
Thạch lại rút
thêm điếu thuốc, hạ thấp cửa kính xe, tắt máy xe. Hơi gió từ ngoài lùa vào. Bây
giờ chàng mới thấy lạnh. Bỗng chàng mơ hồ nghe trong gió vẳng lại tiếng chân
người và tiếng cười nói lao xao. Thạch quay nhìn, chàng không lầm. Một đôi vợ
chồng trẻ, hay một cặp tình nhân, dắt tay nhau đi về phía chàng và dừng lại
ngay trước mũi xe chàng. Thạch nghe thấy tiếng cười khúc khích của cô gái. Rồi
chàng thanh niên mở rộng cửa xe cho cô và hai người đứng hôn nhau khá lâu trước
khi cô gái khom người bước vào xe. Chắc là chàng trai phát giác Thạch ngồi ở
trong xe nhìn họ và nói nhỏ câu gì đó với cô gái nên cô quay lại nhìn về phía
Thạch, mỉm cười với chàng trong bóng tối lờ mờ. Thạch tưởng nhìn thấy được ánh
mắt tinh nghịch, nụ cười hóm hỉnh ẩn hiện trong bóng đêm. “Lucky guy!”, nụ cười
như ngầm nói với chàng. Nụ cười đẹp nhất trong số những nụ cười chàng bắt gặp
ngày hôm nay, Thạch nghĩ vậy. Chàng ném điếu thuốc, chờ nghe tiếng xe rồ máy để
biết chắc là cặp này dứt khoát ra về chứ không phải chỉ ra xe lấy thứ gì đó rồi
lại quay vào nhà thờ. Thạch nổ máy xe, chăm chú ngó chiếc xe từ từ lui ra, và
chàng nhanh chóng lấp vào chỗ trống như sợ người lái xe đổi ý, trong lúc giơ
tay ngoắc ngoắc tỏ dấu cám ơn. “Chúa sẽ trả công bội hậu,” chàng muốn nói với họ
như vậy (như Hương vẫn nói với chàng mỗi khi chàng làm “cử chỉ đẹp”), mặc dầu họ
đã bỏ Chúa mà ra về sớm.
“Lời nguyện cầu nửa
đêm” của chàng như vậy là đã được Chúa nhân từ chấp thuận. Những khổ nạn chàng
trải qua trong đêm nay cũng có thể là những thử thách của Chúa không biết chừng.
Tắt máy, đóng mạnh cửa xe, Thạch phóng những bước dài về phía nhà thờ. Người ra
sớm nhất phải là cặp vừa rồi, như vậy thánh lễ chắc cũng gần kết thúc… Thạch
trông thấy những chùm đèn màu nhấp nháy giăng mắc quanh những ngọn thông nơi
sân trước giáo đường và quanh hang đá, nơi có ngôi sao lớn tỏa sáng, nhưng
chàng không có nhiều thì giờ để ngắm nhìn. Chàng không thể để mất thêm một giây
nào nữa.
Từ ngoài bước vào
nhưng Thạch lại tưởng như từ trong bóng tối bước ra, lạc vào vùng ánh sáng chói
lòa của một thế giới nào khác. Trước mặt Thạch, chỉ có người và người. Những
hàng rào người che chắn, lấp kín các khoảng trống ở cuối nhà thờ, đến không còn
một chỗ đứng. Chàng cố lách vào, lách vào… Trong lúc vội vàng, Thạch khẽ chạm
vai một người đàn bà, chàng vội nói xin lỗi. Người đàn bà khẽ nhíu mày, không
nói gì, nhưng rồi bà ngó chăm chăm vào mặt chàng như thoáng nhận ra nét gì quen
thuộc, và Thạch cũng ngờ ngợ như đã gặp bà ta ở đâu đó. Nhưng Thạch không muốn
lục lọi trí nhớ, chàng lại cố tìm lối đi trong lúc nói “Xin lỗi, xin lỗi…” luôn
miệng, làm như có chuyện gì khẩn cấp lắm vậy. Rồi lần lần chàng cũng luồn lách,
len lỏi được về phía trước, gần cung thánh hơn. Quanh chàng, đâu đâu cũng người
và người, chật các hàng ghế, kín các lối đi. Chàng kiễng chân, hướng mắt về
phía cánh trái của bàn thờ, nhưng không thấy ca đoàn đâu cả. Nơi đó bây giờ là
những hàng ghế đầy kín người. Chàng đoán có lẽ ca đoàn phải dời đi nơi khác để
có thêm chỗ cho giáo dân. Thế nhưng cũng phải có một chỗ nào cho ca đoàn chứ.
Thạch nhìn sang bên cánh phải, cũng những hàng ghế đầy kín người. Chàng đưa mắt
tìm kiếm dọc theo các lối đi chính và hai bên để mong tìm thấy khuôn mặt nào
quen thuộc trong ca đoàn, nhưng không thấy một ai cả.
Thạch trông thấy
những người rước bánh thánh cuối cùng đi về lại các hàng ghế. Vị linh mục cầm
chén thánh đứng giữa lối đi, chờ đợi thêm một lát để biết chắc là không còn ai
lên xuống nữa, rồi quay lại phía bàn thờ. Có một khoảng im lặng khá lâu giữa
lúc ấy… Gần cuối lễ, linh mục chủ tế lên tiếng, nói mọi người cùng dâng lời
nguyện, rồi lại tiếp tục nói những lời gì đó trong lúc làm cử chỉ ban phép lành
cho giáo dân. Thạch chỉ nghe được câu cuối “Chúc anh chị em một đêm Giáng Sinh
an lành”. Chàng lại hướng mắt về những dãy ghế bên cánh trái bàn thờ lần nữa,
nơi trước giờ vẫn dành cho ca đoàn. Thạch hình dung thấy chị ca đoàn trưởng
đang đứng nơi đó, dang rộng đôi cánh tay điều khiển dàn hợp xướng. Những cử động
thật mềm mại thật uyển chuyển, nâng lên hạ xuống, mở ra khép lại, vươn tới kéo
về, nhấp nhô như ngọn sóng, chập chờn như cánh bướm, chờn vờn như điệu múa của
các vũ công xứ ngàn lẻ một đêm. Rồi tất cả biến mất, rồi lại hiện ra, rồi lại
biến mất… Thạch thấy hoa cả mắt, chàng nhìn đâu đâu cũng thấy lung linh những
quầng sáng, cũng thấy lô nhô những người và người. Nơi ấy, những hàng ghế đầu
bao giờ cũng là các cô gái. Các chàng trai đứng phía sau. Luôn luôn là như vậy.
Nhưng sao chàng không thấy gì cả, không thấy các cô gái, không thấy Hương đâu.
Tất cả đều biến mất.
Rồi bỗng nhiên,
giữa khoảng không thinh lặng Thạch nghe mơ hồ những nốt nhạc dạo. Thạch nghĩ
chàng không nghe lầm. Tiếng nhạc vẳng lên từ đâu đó, thoạt tiên thật nhỏ, thật
êm dịu, rồi lớn dần, lớn dần. Tiếng dương cầm, phong cầm, và cả tiếng vĩ cầm nữa.
Rồi tiếng hát, rồi những giọng phụ họa, những bè chính bè phụ nối tiếp, nối tiếp
như từng con sóng dập dềnh đẩy xô nhau, đuổi bắt nhau, cuồn cuộn trào dâng, lớp
lớp tràn bờ. Tiếng hát như từ trên không rót xuống, như từ ngọn thác đổ tràn.
Thạch nhìn thấy vẻ phấn khích trên từng nét mặt những người đứng quanh chàng.
Những đôi mắt mơ màng, những đôi môi mấp máy, những tiếng hát khe khẽ, rồi lớn
dần lớn dần, rồi tràn lan tràn lan cùng khắp giáo đường… Thạch như cũng bị cuốn
hút theo trong cảm giác ngất ngây kỳ lạ, nhưng chàng còn muốn tìm kiếm xem lời
ca tiếng nhạc ấy ở nơi nào phát ra nữa. Thạch chăm chú lắng nghe thêm lần nữa,
và chàng hiểu ra. Những thanh âm nhã nhạc kỳ diệu mà chàng tưởng là nghe
trên không trung, tiếng hát thiên thần vang lừng… ấy không phải từ tầng
trời nào rót xuống, không phải từ mạch suối nào chảy tràn, mà ở ngay trên đầu
chàng chứ có đâu xa. Chàng ngoái lại, ngước cổ lên nhìn. Không thấy gì cả,
nhưng chàng biết chắc là ca đoàn đang ở trên ấy. Hương của chàng đang ở trên ấy,
ở trên bao lơn hình vòng cung lơ lửng giữa mái vòm cao trong ngôi giáo đường.
Thạch nhớ lời
Hương nói hôm trước là nàng sẽ dành cho chàng một “chỗ ngồi đặc biệt” trong
thánh lễ đêm nay, bây giờ chàng đã hiểu ra. Lẽ ra thì giờ này chàng cũng đang ở
trên tầng cao ấy, nơi dành cho ca đoàn và những người thân (và chàng hẳn cũng
có được một “vé” trong số ấy). Chàng sẽ ngồi gần ca đoàn, sẽ ngồi gần Hương, sẽ
thả tầm mắt nhìn xuống cung thánh đèn nến sáng lòa và toàn cảnh giáo đường rộng
lớn bên dưới với hàng hàng lớp lớp giáo dân trong lúc thánh lễ trang trọng cử
hành. Chàng sẽ thưởng thức những bản thánh ca Giáng Sinh hay nhất, sẽ nghe âm
nhạc chảy tràn như suối. Vậy mà!… Tội nghiệp Hương, chắc nàng đã mỏi mắt trông
chờ chàng.
“Chúc anh chị em
ra về bình an,” vị linh mục nói câu sau cùng. Thạch chỉ chờ nghe câu này để biết
chắc là thánh lễ kết thúc, và cũng như mọi lần, chàng đứng lên đi về phía lối
ra ở cửa hông, nơi chàng vẫn đợi Hương những khi tan lễ như lời nàng dặn dò,
trong lúc nàng và ca đoàn còn lục tục thu dọn những tập nhạc, những thùng đàn,
những nhạc cụ lỉnh kỉnh… Hương không muốn chàng ngồi nán lại để chờ nàng trong
nhà thờ ra dáng một con chiên ngoan đạo, vì chàng không phải là… con chiên
ngoan đạo. Chợt Thạch nghe như có tiếng gọi nhỏ tên mình. Chàng quay lại và bắt
gặp cái nhìn của người đàn bà chàng vô tình đụng phải khi nãy. Bây giờ chàng đã
nhận ra bà hàng xóm ở cách chàng một block, thỉnh thoảng gặp nhau cũng có chào
hỏi qua loa, nhưng chàng không nhớ tên. Bà lớn tuổi hơn Thạch, vóc người đẫy đà
và cũng không có nét gì đặc biệt lắm nên chàng không mấy để ý, nhưng bà lại biết
tên chàng.
“Cậu cũng có đạo
sao?” người đàn bà hỏi. “Lâu nay tôi không biết.”
“Vâng…, thỉnh thoảng.”
Thạch ngần ngừ, nói bừa.
“Cậu nói sao?”
người đàn bà hỏi lại.
Thạch không hiểu
vì sao bà ta lại phải thắc mắc chuyện có đạo hay không có đạo. Bà ta tưởng chỉ
mình bà có đạo thôi sao. Thiếu gì những chuyện khác đáng quan tâm hơn. Thêm hay
bớt một người có đạo thì cũng đâu có làm thay đổi cục diện thế giới… Khi ấy vài
người đứng quanh chàng vui vẻ bắt tay nhau, nói những lời chúc Giáng Sinh, Thạch
cũng chìa tay trước mặt người đàn bà.
“Cũng chúc bà một
đêm Giáng Sinh an lành.”
Người đàn bà do dự,
nhưng rồi cũng nắm lấy bàn tay Thạch, lỏng lẻo, trong lúc vẫn nhìn chàng chằm
chằm. Giống như là hai kẻ bất đồng ngôn ngữ, Thạch nghĩ. Bà ta dễ nghĩ chàng là
tay gàn dở, nhưng cũng chẳng sao. Thạch nheo mắt, mỉm cười với người đàn bà rồi
vội quay đi, theo dòng người lần ra phía cửa.
Đến ngưỡng cửa
bên hông nhà thờ, Thạch dừng lại. Vài người đi qua bắt tay chàng, người thì nói
“Merry Christmas”, người thì nói “Giáng Sinh an lành”, và chàng cũng mỉm cười,
lập lại những lời ấy như cái máy. Cuộc đời sẽ đẹp biết mấy nếu mọi người đều chịu
khó hành xử với nhau vui vẻ và thân thiện như là trong đêm nay. Thạch nghĩ vậy
và bất chợt chàng nghe… Chúa sẽ đến trong đêm nay, câu hát vụt qua
tai như tiếng vọng, như lặp lại điều chàng vừa nghĩ trong đầu. Thạch lắng tai
nghe kỹ hơn. Tiếng nhạc dạo vẫn như từ trên không rót xuống, dìu dặt, khoan
thai. Chúa sẽ đến trong đêm nay / bởi loài người còn đọa đày…3 Thạch
nghe trọn câu hát. Hương! Chàng muốn kêu lên. Chàng đã nhận ra nàng, nhận ra giọng
hát nàng. Chắc chắn là nàng, Thạch không thể lầm được. Giọng hát thật êm dịu
như giọng nói nàng êm dịu. Và câu hát ấy nữa, chàng có nghe đâu đó một vài lần.
Cùng lúc ấy, Thạch bỗng như phát giác được điều gì lạ lùng. Người nhạc sĩ ấy,
đúng vậy, chàng đã một lần nghe ông hát bài hát ấy. Những nốt nhạc ấy, những lời
hát ấy do chính ông viết ra… Người nhạc sĩ có “vẻ mặt khắc khổ” (như lời Hương
nhận xét) nhưng có trái tim giàu lòng nhân ái. Chàng chăm chú lắng nghe, những
nốt nhạc rót xuống thật mềm mại, thật thong thả, như lời thì thầm âu yếm, như
bàn tay vuốt ve dịu dàng.
Có phải Hương đã
muốn gửi cho chàng bài hát ấy, đã muốn mang đến cho chàng, mang đến cho mọi người
bức thông điệp ấy, “Chúa sẽ đến trong đêm nay”.
Bỗng dưng Thạch nẩy
ra ý nghĩ cần phải mở rộng mọi cánh cửa cho tiếng hát thoát ra ngoài, cho tin mừng
được lan truyền đến khắp mọi người, mọi nơi, mọi chốn.
Thạch đẩy mạnh cửa,
bước hẳn ra phía ngoài. Đêm lạnh. Chàng vẫn nghe tiếng dương cầm thánh thót, tiếng
vĩ cầm réo rắt, và tiếng hát ngọt ngào. Chàng bước thêm ít bước, tiếng hát vẫn
theo sau chàng. Có lúc chàng lại nghe như tiếng hát ở đâu đó phía trước. Có lúc
chàng lại tưởng như tiếng hát ở ngay bên cạnh chàng. Rồi có lúc tiếng hát nghe
nhỏ hẳn lại như muốn rời khỏi chàng, bay đi nơi khác, nhưng chàng vẫn cứ nghe
văng vẳng đâu đây…
Thạch đứng im lặng
một lúc. Chàng nghe gió thổi mạnh nhưng không thấy lạnh, và chàng nghe được tiếng
hát lẫn trong tiếng gió. Chàng tưởng như tiếng hát được gió mang đi xa lắm, bay
qua đầu chàng, qua nóc giáo đường, bay trên những ngọn thông, trên những tàn
cây cao nhất, bay mãi tới ngọn đồi phía xa kia, tới những thung lũng chìm khuất
sau ngọn đồi ấy… Nhưng rồi Thạch nghĩ tiếng hát không tài nào bay xa đến thế được,
chỉ có trí tưởng tượng của chàng là bay bổng. Tiếng hát thực ra ở trong đầu
chàng. Thế nhưng, không hiểu sao đầu óc chàng phút ấy vẫn cứ lâng lâng và như
chìm đắm trong một thứ ảo giác thật kỳ lạ.
Bây giờ thì Thạch
không nghe gì nữa hết. Không còn tiếng hát, cũng không có tiếng đàn. Đêm bỗng
trở nên yên tĩnh. Trước mắt chàng là những chùm đèn nhấp nháy đủ màu sắc và
ngôi sao lớn treo lơ lửng trước hang đá Đức Mẹ, tỏa ánh sáng màu xanh dịu. Xa
hơn nữa là những đốm sáng lập lòe của các bóng đèn nho nhỏ hình quả trám trên
những cành thông kia, khi chớp khi tắt, khi ẩn khi hiện như những ngôi sao lấp
lánh trên nền trời đen thẫm.
Thạch trở vào, ngồi
xuống hàng ghế trống. Quanh chàng lúc ấy là những hàng ghế trống trơn. Mọi người
hầu như đã về hết, chỉ còn Thạch, vài ông già bà cả còn nán lại, lặng lẽ đọc
kinh hay cầu nguyện gì đó bên những pho tượng nhỏ bày biện trong hang đá Giáng
Sinh bên cánh phải bàn thờ. Vắng ngắt, im lìm. Thạch lại nhớ đến cảnh trong cuốn
phim mà chàng có lần kể Hương nghe. Chàng cao bồi lừng khừng trông bộ dạng chán
đời, lững lững bước vào một nhà thờ trong ngôi làng nhỏ, đứng ở một góc khuất
ngước nhìn tượng Chúa đóng đinh. Thạch thử so sánh để tìm ra những điểm giống
và không giống giữa chàng và anh chàng cao bồi ấy. Điểm giống nhau là, cũng như
chàng cao bồi, lúc này chỉ còn Chúa và chàng trong ngôi giáo đường vắng lặng,
và chàng cũng ngước nhìn tượng Chúa đóng đinh, cũng mặt đối mặt với chính mình.
Điểm khác nhau là, chàng… ăn mặc lịch sự đàng hoàng chứ không bụi đời như chàng
cao bồi ấy. Điểm khác nữa, chàng không rõ anh chàng cao bồi có định tìm kiếm
hay chờ đợi điều gì, còn chàng thì đang chờ đợi để… gặp Hương. Về điểm này
chàng thấy mình quả có may mắn hơn anh ta vì lát nữa đây chàng còn có Hương,
trong lúc chàng cao bồi trong phim cô đơn đến tội nghiệp, đến lúc rời khỏi ngôi
nhà thờ ấy vẫn cứ trơ trụi một mình một ngựa.
Đúng là lúc này
chỉ còn Chúa và chàng, là lúc khá thuận tiện để chàng mặc sức mà thưa gửi, cám
ơn, xin lỗi hoặc giải bày tâm sự cùng ngài. Nhưng Thạch nghĩ chàng… chẳng còn
gì để nói, chẳng còn lời khẩn cầu hay thỉnh nguyện thư nào nữa. Chàng không muốn
tỏ ra tham lam. Nói gì nữa bây giờ. “Chúa sắp đặt mọi việc,” Hương đã chẳng hơn
một lần nói với chàng như vậy hay sao. Nếu quả là Chúa của nàng đã sắp đặt hết
mọi chuyện thì chàng còn có ý kiến gì được nữa bây giờ. Cái mà chàng vẫn cho là
“bàn tay của định mệnh” có khi là bàn tay của Chúa không chừng.
Nếu được phép, có
lẽ chàng sẽ chỉ xin Chúa “trả công bội hậu” cho Hương vì nàng đã sốt sắng mang
tin vui đến cho mọi người qua bức thông điệp của người nhạc sĩ ấy. Chúa
sẽ đến trong đêm nay / mở rộng vòng tay bao dung… Không phải nàng đã
hát như vậy sao! Làm sao mà nàng còn có thể giận hờn trách móc gì chàng được nữa
khi đã cất cao những lời hát ấy. Chẳng biết ý Chúa thế nào, chắc là ngài sẽ bằng
lòng thôi, vì lời thỉnh cầu ấy là chính đáng và cũng đúng với… tinh thần phúc
âm nữa.
Nếu được phép, có
lẽ chàng sẽ…
Thạch sẽ còn tiếp
tục có thêm một hai ý kiến nữa nếu không có bàn tay đặt nhẹ lên vai chàng và giọng
nói quen thuộc rót vào tai chàng từ phía sau lưng. Giọng thì thầm chỉ đủ mình
chàng nghe thôi.
“Ra ngoài giùm
cái đi… Đừng có ngồi đấy nữa, người ta cười cho.”
Thạch quay lại,
Hương đứng đó từ lúc nào. Nàng nhìn Thạch chằm chằm, rồi khẽ bật cười, rồi ra dấu
cho chàng đi theo nàng. Thạch đứng bật dậy, bước theo sau như cái máy. Khi cánh
cửa nhà thờ khép lại sau lưng, Thạch ngước nhìn bầu trời đêm lấp lánh những vì
sao, hít vào sâu và thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Sao Hương lại cười mình nhỉ,
chắc mặt mũi mình trông buồn cười lắm… Thạch mỉm cười, lẩm nhẩm một mình trong
bóng đêm.
“Anh nói gì?”
Hương quay lại, hỏi.
“Không,” Thạch
nói. “Anh hát, Chúa sẽ đến trong đêm nay...”
Lê Hữu
1 Bài
hương ca vô tận, Trầm Tử Thiêng
2 Ave
Maria, Gounod/Phạm Duy
