Thân Tặng Nhà Biên Khảo Nguyễn Duy Chính
Mùa Thu năm nay ở miền Tây Bắc nước Mỹ đẹp quá! Lá đổi màu rất
sớm, cả thành phố màu vàng, màu đỏ, mầu nâu rực rỡ trong nắng Thu. Mưa có đến
nhưng đến thật nhẹ nhàng, vừa đủ để người đi dưới mưa ướt trên vai áo, phủi nhẹ
và thấy mùa thu nằm giữa những ngón tay mình.
Mùa Thu, tôi vừa được bắt đầu bằng bài viết của nhà văn, nhà
biên khảo Nguyễn Duy Chính. Bài ông viết về những con tằm, lá dâu và người dệt
lụa. Bài viết về nỗi buồn của người nuôi tằm, dệt lụa nhìn người khác mặc những
chiếc áo đẹp do chính tay mình nuôi tằm, dệt tơ, trong khi mình mặc một chiếc
áo cũ.
Tôi được đọc bài này hai lần, cách nhau cả năm và cả hai lần
đều làm lòng mình nao nao. Bài viết của nhà biên khảo Nguyễn Duy Chính làm tôi
nhớ lại thời thơ dại rất xa, xa lắm…Khi đó tôi mới lên 5, lên 6.
Gia đình tôi từ Hà Nội chạy loạn về Thái Bình, ở nhờ nhà một
người họ hàng bên ngoại, trong một ngôi làng nhỏ, có tên là Làng Cau (Cái tên
làng rất xa xưa này chắc bây giờ không còn trên bản đồ miền Bắc nữa).
Tằm ăn dâu. Nguồn ảnh: Báo
Nông Nghiệp & Môi trường
Anh lớn nhất lên 10 tuổi, chị tôi lên 8. Anh tôi lo việc
trông em là cô út, lúc đó mới khoảng 2 tuổi. Chị tôi thì đã có thể quan sát việc
hái dâu, chăn tằm và được Mẹ cho tập ngồi vào khung kéo sợi. Ở tuổi lên 5, tôi
chơi được một mình, nhưng chưa được học chăn tằm, hay ngồi vào khung kéo sợi,
nhưng không ai cấm tôi đứng nhìn những nong tằm ăn dâu. Những nong tằm với những
con tằm to như ngón tay của đứa bé, chúng ăn dâu ào ào trong cái mẹt khá to,
nhìn vừa sợ, vừa thích, và tôi được nhìn ngắm: những cái kén vàng óng vớt ra từ
nồi nước bốc khói rất là hấp dẫn cho một đứa trẻ lên 5.
Lớn lên mới biết được câu ca dao:
Không biết một “nén tơ” là bao nhiêu? Dệt được bao nhiêu thước
lụa?
Chị tôi được tập quay những sợi bông với một cái khung gỗ,
được chỉ dạy chọn những lá dâu cho vào nong tằm. Những con tằm nhỏ chủ nhà nhặt
ra bỏ đi, Chị tôi lại đi kiếm cái mẹt nhỏ nuôi riêng cho chị em tôi chơi với
nhau, vì tuy chúng tôi là trẻ con Hà Nội chạy loạn về nhà quê nhưng việc được
xem những con tằm ăn trong một nong dâu đối với chúng tôi rất là hấp dẫn…hơn cả
những đồ chơi của trẻ con thành phố bỏ lại sau lưng.
Bài viết về tằm của nhà biên khảo Nguyễn Duy Chính làm tôi
nhớ lại cả một thời thơ mộng của tuổi thơ ở một quê nhà xa lắc xa lơ đó. Tôi nhớ
ngôi nhà chúng tôi ở trọ trong thời chạy loạn của một người làng khá giả, thấy
người Hà Nội chạy loạn về, họ mở cửa ra đón vào và nhường cái gian tốt nhất cho
khách quý. Nhà có ba gian, gian giữa có đặt bàn thờ ông bà đã qua đời, gia đình
tôi được cho một gian ngay bên cạnh, nghe Ba tôi nói: Họ quý mình lắm mới nhường
cho gian này, lại được nằm ngủ trên một ổ rơm còn thơm mùi rạ. Cái ổ rơm này
còn quý hơn cả cái sập gụ ở Hà Nội của mình. (Chắc là thấy khách tới, họ vội
thay ổ rơm mới.)
Bằng trí nhớ của đứa bé lên 5, tôi nhớ lại ngôi nhà đó có
lưng quay ra ngoài đường làng, có cánh cổng gỗ vào nhà. Mặt tiền của gôi nhà đối
diện với một cái ao đào và bên kia ao là một vườn sắn. Cái ao có chiếc cầu nhỏ
bắc nhô ra ao để người nhà vo gạo, rửa bát và làm đủ mọi việc cần tới nước. Ao
cũng có cá nhỏ và rất nhiều ốc. Tôi nhớ được nhìn người lớn vứt một cái vỏ mít
úp ngược xuống ao chiều hôm trước, sáng hôm sau vớt lên có bao nhiêu con ốc bám
vào đó.
Trước nhà có bậc tam cấp bước xuống một cái sân to lát gạch,
sau này khi nói chuyện “ngày xưa” anh tôi nói: sân đó khi gặt lúa về, thợ đập
lúa ở đó. Cái sân gạch đó cũng là sân chơi của trẻ con trong những ngày có
trăng. Đây là một ngôi nhà khá giả trong làng và gia đình tôi may mắn có liên hệ
với họ hàng bên ngoại và được họ quý mến.
Chị tôi lên 8, được học quay sợi bông trong ngôi nhà này.
Tôi chưa tới tuổi được học quay tơ, kéo sợi nhưng hình như
ngay ở tuổi lên 5 tôi đã biết thưởng thức cái vẻ đẹp của “nhà quê” trên quê
hương mình:
Tôi nhớ bờ ao, nơi anh chị em chúng tôi bắt chuồn chuồn,
trượt chân ngã chới với nhiều lần. Nhớ những lần đứng xem người làng tát ao bắt
cá, đám trẻ quê lội xuống bùn, bắt hôi. (Bắt hôi là không phải ao nhà mình,
nhưng chủ ao cũng cho xuống bắt).
Nhớ những con đom đóm lập lòe buổi tối, trong những bụi
cây. Trẻ con nhà quê còn bắt đom đóm cho vào cái vỏ trứng làm những cái đèn cầm
trên tay, rất hấp dẫn trẻ con thành thị, và tôi nhớ nhất là vào những ngày mưa
bụi, hoa soan rụng tím trên mặt đường đê màu đất đỏ, ngoằn ngoèo trên đường từ
nhà tới nhà thờ. Con đường đất đỏ ẩm ướt những cánh hoa soan tím đó đã vẽ vào hồn
cô bé lên 5 của tôi cho đến bây giờ. Hãy tưởng tượng ra đi: Con đường đê ngoằn
ngoèo, ướt mưa vừa đủ để giữ được những cánh hoa soan màu tim tím rơi trên đó,
thật vô cùng đẹp. Cô bé con lên 5, đã giữ được hình ảnh đó trong tâm cho đến thời
tóc bạc, da mồi…
Tôi kể lại chuyện hoa soan rơi trên đường làng, thì anh chị
tôi chỉ nói: “thế à!”. Anh chị tôi cũng không nhớ được hình ảnh tới mùa Phục
Sinh, trong “Tuần Thánh” có lễ hôn chân Chúa, nhà thờ ở miền quê đó đã rang bỏng
gạo, trộn với hoa soan để ngay dưới chân Thánh Giá, để mỗi lần con chiên lên
hôn chân Chúa, được bốc một nắm bỏng hoa soan đó cho vào túi mình.
Không biết có ai ở làng đó còn nhớ như tôi không?
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái
Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di
tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo
tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa…mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và
người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người
làm nên sản phẩm quý đó.
Hình như những cái đẹp bao giờ cũng đi theo những cái mất
mát, những cái buồn….để dệt thành những giải lụa không phải để may áo mà để bềnh
bồng trong trí nhớ…
