Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này.
Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở
căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã
ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là
hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần
nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố
con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm
sau đổi ngược lại. Cuộc đời xoay vòng là vậy…
Hành trình “lăng quăng” của hai bố con trong một hai năm nay
chỉ khoảng ba dặm, do sức khỏe của bố xuống nhiều. Chủ yếu là quanh block đường
Dale-Chapman-Magnolia-Lampson. Hồi còn minh mẫn, bố đặt tên block đường này là
“Đợi- Chờ- Mặc Nó Líu Lo- Lắm Sự” (theo cách đọc trại sang tiếng Việt tên của bốn
con đường). Bố tỏ ra thích thú với việc đặt tên Việt “tiếu lâm” cho những con
đường mà mình đi qua. Đường Katella có tên Việt là “Kể Tên Lạ”; Bushard là “Bút
Sa Gà Chết”…
Hành trình ba dặm có vẻ ngắn, kéo dài khoảng nửa giờ, nhưng
đủ để bố ôn lại những điều vẫn nhớ ở tuổi 103. Tai gần như điếc, mắt chỉ còn thấy
lờ mờ, những điều hai bố con nói với nhau là những câu chuyện lập đi lập lại
trong nhiều năm qua. Những câu chuyện có liên quan đến một đời người kéo dài
hơn một thế kỷ; sinh ra lớn lên ở một ngôi làng ngoại thành Hà Nội; di cư vào
Nam để viết văn, dạy học; cho đến khi nhắm mắt lìa đời ở miền Nam Cali.
Bố vẫn nhớ làng Cót có cây si đầu làng chứ không phải cây
đa. Đi từ đầu làng vào sẽ qua miếu Chợ, miếu Chùa, mộ Vua, miếu Cả, ao Cậy, ao
Cầu… Đầu làng có con sông Tô Lịch; nay đã thành ruộng rau muống, nên bố đọc lại
4 câu thơ:
Sông xưa giờ đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò…
Rồi từ làng Cót, bố liên tưởng đến làng Láng của mẹ, cách
nhau chỉ khoảng hai cây số, nơi có ngôi nhà với khu vườn bao quanh bốn mặt của
cụ nhạc phụ Tú Mỡ có tám người con:
Năm trai ba
gái tám tên
Trung, Hiền,
Thảo, Dũng, Hùng, Chuyên, Vĩ, Cường
“…Cả tám người đều
ra người thiên cổ cả rồi…Bố con mình không ai nằm mơ thấy mẹ; chắc là mẹ về với
cõi Phật rồi. Người sống hiền đức cả đời thì phải về cõi Phật thôi…” Bố vẫn nói
vậy…
Nhắc đến Tú Mỡ, bố
nhắc Việt Nam có hai nhà thơ tên Hiếu: Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, và Tản Đà Nguyễn Khắc
Hiếu, là người Sơn Tây, nơi có núi Tản Viên, sông Đà Giang, cho nên lấy bút hiệu
là Tản Đà. Rồi bố đọc một lèo bài Thề Non Nước từ câu đầu “Nước non nặng một
lời thề…” cho đến câu kết “…Non non nước nước không nguôi lời thề…”,
và kết luận rằng bài thơ có “…vũ trụ nhân sinh quan trùng trùng duyên khởi…”
Bố nhớ ngày xưa học
trung học ở Hà Nội có thầy là cụ Vũ Đình Liên, nhà thơ nổi tiếng với bài thơ bất
hủ Ông Đồ Già. Bố đọc dõng dạc bài thơ, ngân nga dài giọng ở hai câu cuối: “Những
người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ…”
Bạn bè văn nghệ
thì nhóm Sáng Tạo là nhất. “Thất tinh nay chỉ còn nhị tinh” là Trần Thanh Hiệp
và Doãn Quốc Sỹ. Năm người ra thiên cổ là Mai Thảo, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Thanh
Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế. Trong đó bác Mai Thảo là tếu nhất. “Ngài” có bài thơ bất
hủ là:
Thế giới có
triệu điều không hiểu
Càng hiểu
không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi
đã nằm trong đất
Nhìn ở sao trời
sẽ hiểu thôi
Bố cười đắc chí:
“Bây giờ thì Ngài đã hiểu rồi!...”
Bố rất thích bài
thơ ghép chung với chú Nguyễn Đình Toàn. Bốn câu đầu của chú Toàn:
Lúa Thủ Thiêm
ngọn chìm ngọn nổi
Gió xa lộ lúc
thổi lúc ngưng
Gặp nhau tay bắt
mặt mừng
Vui thì vui vậy
biết chừng nào xa…
Sáu câu sau là của
bố:
Đỉnh trời vằng
vặc gương nga
Long lanh soi
tỏ lòng ta lòng mình
Gương trong
mình lại soi mình
Thấy tình thăm
thẳm, thấy hình phù du
Nẻo đời gió bụi
kỳ khu
Biết ai còn mất
tình thu võ vàng
Sáu câu này được
in lại trong thư cảm tạ trong tang lễ của bố; là tâm tình biệt ly với người đi
xa, như bố giải thích: “…thoạt đầu là lạc quan vì tin rằng người đi xa nhưng
tình thì vẫn luôn còn mãi; nhưng nói vậy chỉ là để dối lòng thôi, chứ kẻ ở vẫn
cứ man mác buồn…”
Bạn bè văn nghệ bố
cũng thường nhắc đến Nhã Ca, Trần Dạ Từ, hỏi tôi giờ đang ở đâu. Khi tôi trả lời
Thụy Điển, bố gật gù “Bắc Âu quanh năm tuyết phủ trắng xóa…”
Bố rất tâm đắc với
nghề đi dạy học của mình. Dạy ở ba trường đại học là Sư Phạm, Văn Khoa, Vạn Hạnh,
nên học trò đông vô số kể. “…Lương nhà giáo thì thanh đạm thôi, nhưng tình thầy
trò là vô giá…”
Bố vẫn thuộc lòng
một số bài ca dao. Khi đọc hết bài:
Hôm qua tát nước
đầu đình
Bỏ quên cái áo
trên cành hoa sen….
…Giúp em quan
tám tiền cheo
Quan năm tiền
cưới lại đèo buồng cau.
Bố dí dỏm kết luận:
“Giúp thế anh là chú rể rồi còn gì! Cô gái sẽ nguýt và mắng là nỡm! Cà chớn!...”
Đi tù 12 năm,
nhưng không nghe bố kể sống trong tù cực khổ ra sao, chỉ thường nói: “… Bố ở tù
cộng sản hai lần, một lần bốn năm, một lần tám năm. Nghiệp nặng đã trả xong,
bây giờ vui với con cháu…”
Hai bố con thường
ghé vào chùa Quán Thế Âm trên đường Magnolia. Một chị làm công quả ở chùa biết
ông già 100 tuổi hầu như ngày nào cũng vào chùa lễ Phật, phục lăn. Thấy bố đến,
chị đon đả ra chào, rồi giới thiệu với những Phật tử viếng chùa, nói rằng hình ảnh
hai bố con dắt nhau đi chùa làm chị rất ngưỡng mộ. Khi lễ Quan Âm, thường thì
tôi đọc trước, bố đọc theo: “Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”. Nhưng có những
ngày như trong tiềm thức vọng về, bố niệm dõng dạc theo cách riêng của mình:
“Nam Mô tầm thinh cứu khổ cứu nạn linh cảm Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát;
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát; Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát”.
Gần 10 năm, hành
trình “đi lăng quăng” và câu chuyện chỉ có thế. Không thấy phiền muộn, chỉ toàn
niềm vui. Nó có thay đổi theo sức khỏe yếu dần của bố. Khi bắt đầu quên nhiều
hơn, bố nghe tôi “nhắc tuồng” vài chữ đầu trong mỗi câu chuyện để nói theo. Vài
tuần trước khi mất, khi bố nắm tay tôi để bước đi, tôi cảm giác được sức tựa
ngày càng nặng hơn.
Một tuần trước
khi mất, một chiều tôi đến để rủ “đi lăng quăng”, bố vẫn nằm trong giường. Tôi
ngồi cạnh hỏi to: “Bố ơi, đi lăng quăng không?” Bố vẫn nhắm mắt, trả lời
“Không!” Hỏi ba lần đều trả lời như vậy, điều chưa bao giờ xảy ra với tác giả của
truyện “Đi”. Tôi biết ngày đó đang tới gần…
Dạo gần đây thỉnh
thoảng bố ôm bụng, nhăn mặt, nhưng hỏi thì bảo không đau. Thứ Sáu 10 tháng 10,
y tá tới nhà khám, không định ra bệnh, đề nghị đưa vào nhà thương để chẩn đoán.
Trưa Thứ Bảy gọi 911 đưa vào bệnh viện West Anaheim. Sau khi CT scan, bác sĩ
cho biết có một khối u ở ruột già có thể làm nghẽn đường tiêu hóa, hỏi gia đình
có muốn chữa trị không? Các con đều đồng ý là không chữa trị, chỉ cần giảm đau.
Chủ Nhật bắt đầu tiêm morphine. Thứ Hai bố bắt đầu thở nặng kiểu người hấp hối,
gia đình dự định mời các sư cô chùa Đại Bi đến vào sáng hôm sau để đọc kinh cầu
an. 9:55 phút sáng Thứ Ba, tôi vẫn còn nắm tay bố niệm Phật, thấy hơi thở của bố
đã nhẹ lắm rồi. Sau đó, tôi đi xuống cổng bệnh viện để đón hai sư cô đến lúc
10:00. Khi đi thang máy lên phòng ở lầu ba, sư cô còn hỏi “Hôm nay là cầu an
hay cầu siêu?” Tôi trả lời “cầu an” vì bố còn sống. Lên đến giường bệnh thì bố
đã ra đi lúc 10:05 ngày 14 tháng 10. Lễ cầu siêu diễn ra ngắn gọn ngay sau
đó.
Lúc đó trời Nam
Cali bỗng dưng đổ cơn mưa như để gột sạch đường trần thế…
Tôi nhớ vào tối
Chủ Nhật ngồi bên giường bệnh, nắm tay bố để niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Thỉnh
thoảng, tôi ghé vào tai bố nói rằng: “Bố sống đời hiền đức, nay bố ra đi bình
an, bố nhớ theo ánh sáng của Phật Di Đà…” Tay tôi nắm tay phải của bố để hộ niệm.
Chỉ ít phút sau, tự nhiên bố đưa tay trái sang nắm chặt tay của tôi. Giống như
cái nắm tay lúc “đi lăng quăng”. Cái nắm tay lúc cận tử thật chân tình. Tôi cảm
nhận được sự bình an truyền sang cho mình…
Trăm năm một đời
người của bố kết thúc nhẹ nhàng như thế. Sống cả đời lo cho con, cuối đời chẳng
làm phiền con cháu, lúc ra đi cũng vậy…
Nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn viết lời ca “…Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”
Nhạc sĩ Phạm Duy
viết trong Rong Khúc về hành trình sau cái chết của mình “…Ta vứt sau ta những
nẻo đường trần, Ta vút bay theo những nẻo đường tiên…”
Bố tôi thì thích
“đi lăng quăng” lúc cuối đời. Đi chỉ để mà đi, thong dong, an nhiên, tự tại.
Sau một ngày làm việc, “đi lăng quăng” không phải là bổn phận của con đối với bố,
mà là những giây phút tôi tìm thấy an lạc cho chính mình.
“Đi lăng quăng”
là cách nói giản dị, khôi hài kiểu của bố. Nhưng cả cuộc đời của bố là một con
đường thẳng tắp, thanh thản đi qua một thế kỷ bể dâu của dân tộc. Tôi nhớ lại lời
bố nói về mẹ: “Người sống hiền đức cả đời thì phải về cõi Phật thôi…”
Tạm biệt bố. Ở một
thế giới nào đó, rồi hai bố con sẽ lại có dịp “đi lăng quăng” với nhau…
Doãn Hưng
