Bìa sách “Màu
Tím Hoa Sim”
Hầu như ai trong chúng ta cũng biết bài thơ “Màu Tím Hoa Sim”. Không đọc thơ cũng nghe hát trong các bản nhạc “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” của Phạm Duy, “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, “Tím Cả Chiều Hoang” của Anh Bằng, “Tím Cả Rừng Chiều” của Thu Hồ, “Chuyện Người Con Gái Hái Sim” của Hồng Vân, ba bài mang tên “Màu Tím Hoa Sim” của Song Ngọc, Duy Khánh & Trọng Khương, và Phạm Anh Ngọc. Tai chúng ta nghe , miệng chúng ta đọc nhưng sâu hơn trong bài thơ này chúng ta ít người biết.
Tôi vừa được một anh bạn gửi cho bản e-book cuốn “Lê Đỗ Thị
Ninh, Nguyễn Hữu Loan, Màu Tím Hoa Sim và Tôi”. “Tôi” là Nguyễn Quốc Bảo, em con dì của Lê Đỗ Thị Ninh, “nàng” trong bài
thơ. Cuốn sách mỏng, chỉ có 80 trang, nhưng tiết lộ được nhiều chuyện, những
chuyện ông phải viết. “Tôi viết những dòng này như một người Mohican cuối
cùng của gia tộc, người còn giữ lại những mảnh ký ức đã bị thời gian, chiến
tranh và nỗi sợ gặm mòn đến tận gốc rễ. Câu chuyện tôi sắp kể không phải được dệt
lại từ truyền thuyết, không phải là phần lãng mạn hóa của văn học, cũng không
phải là những hồi tưởng mong manh của một kẻ đã già. Nó là phần cuối cùng của một
lịch sử gia đình, một bi kịch đã từng thật đến mức người lớn phải tránh nói trước
mặt trẻ con, một nỗi đau từng khiến cả một đại gia đình trí thức ở Thanh Hóa
chìm vào im lặng suốt hơn nửa thế kỷ. Tôi viết những dòng này không phải để làm
sống lại kí ức cho riêng mình, mà để ngăn ký ức ấy chết theo tôi”.
Chúng ta biết Hữu
Loan là một nhà thơ nhưng ít ai biết ông là một người trí thức trẻ, tự học và đậu
Tú Tài Toàn Phần Pháp trước 1945, một điều hiếm xảy ra trong xã hội Việt Nam thời
đó. Hiếm hoi đến mức người lớn trong nhà khi nhắc tới đều hơi hạ giọng, như nói
đến một điều vừa ngưỡng mộ, vừa khó tin. Ông quê quán tại Nga Sơn, tỉnh Thanh
Hóa. “Những năm bốn mươi chín, với đứa trẻ như tôi, Nga Sơn chỉ là cái tên
xa mù, còn anh Loan là hình ảnh rất gần, một chàng trai ăn nói thanh âm trầm,
giọng Thanh Hóa pha chút quê, bước ra bước vào tiệm sách của bác gái tôi ở phố
Thợ Thêu, tỉnh lỵ Thanh Hóa”. Bác gái của tác giả là bà Đái Thị Ngọc
Chất, mẹ của cô Lê Đỗ Thị Ninh. Tiệm gồm sách Pháp, sách quốc ngữ, báo chí, tài
liệu mà các gương mặt ham đọc ùn ùn kéo tới. Hình ảnh những ngày Hữu Loan tới
tiệm sách còn hằn rõ trong trí của tác giả. “Tôi không nhớ lần đầu tiên
anh bước vào nhà là năm nào. Chỉ nhớ hình ảnh đó lắng lại trong trí nhớ: một
người thanh niên mặc áo sơ mi đã cũ, nhưng ủi phẳng, tóc chải ngay ngắn, tay cầm
chiếc cặp da sờn. Anh nói chuyện với bác gái tôi rất cung kính, nhưng ánh mắt tỉnh
và thẳng. Về sau tôi mới biết, chính từ những lần lui tới tiệm sách ấy, bác tôi
nhận ra khả năng đặc biệt của anh và mời anh về dạy học cho các con trai trong
nhà. Từ đó, anh không còn chỉ là khách mua sách, mà trở thành người ra vào thân
thuộc của gia đình Lê Đỗ”. Hai học trò chính của lớp học tại gia này
là Lê Đỗ Khôi, người tử trận chỉ vài giờ trước khi Điện Biên Phủ thất thủ, và
Lê Đỗ Nguyên, sau này là Trung Tướng Hồng Cư, anh em cột chèo với Võ Nguyên
Giáp. Vợ của Lê Đỗ Nguyên là Đặng Thị Hạnh, con gái học giả Đặng Thái Mai.
Mến tài Hữu Loan,
bà…gả con gái cho anh. Khi cưới anh là cán bộ Việt Minh giai đoạn đầu kháng chiến,
một cán bộ trí thức. “Trong trí nhớ được truyền lại của người lớn trong
nhà, anh sống rất chặt chẽ, rất nề nếp. Bộ kaki của anh lúc nào cũng phẳng. Tối
đến, trước khi ngủ, việc đầu tiên không phải là ngả lưng mà là tháo áo quần, vuốt
từng nếp, xếp ngay ngắn, gấp phẳng, rồi đặt dưới gối. Như thể cái gối anh gối đầu
là đồng thời gối lên danh dự của một người cán bộ – không cho phép mình nhăn
nhúm, xộc xệch, dù chỉ trong giấc ngủ. Anh có một cây bút máy Parker màu bạc
silver. Nói như thế bây giờ nghe nhẹ tênh, nhưng vào thời đó, Parker là cả một
thế giới. Một thứ vừa xa xỉ, vừa biểu tượng, vừa là dấu hiệu của một tầng lớp,
tầng lớp trí thức Tây học, biết chữ Pháp, biết làm báo cáo, viết diễn văn, soạn
tài liệu. Anh giữ cây bút như báu vật. Người nhà kể, anh luôn cất nó vào một chỗ
riêng trong ba lô, không cho ai động vào. Bút không chỉ để viết. Bút là cái chứng
từ rằng anh đã từ cậu học trò tự học bên sông Mã, sông Lèn, bước lên thành người
có thể đứng giữa Hà Nội mà thi đỗ Tú tài toàn phần như những con nhà gia thế”.
Đám cưới được tổ
chức thật giản dị, ít nghi lễ. Cô dâu không may áo cưới. “Ngày hợp hôn nàng
không đòi may áo mới”. Cô sống một nếp sống khắc khổ, e thẹn, khép
kín. Khi có người hỏi đùa sao cô dâu mà không đòi may áo cưới, cô chỉ cười trả
lời: “Thời chiến mà, cần chi áo mới”. Chú rể mặc quân phục. “Tôi mặc đồ
quân nhân / đôi giầy đinh / bết bùn đất hành quân / Nàng cười xinh xinh / bên
anh chồng độc đáo”. Sau vài mâm cơm, ít câu chúc tụng, những cuộc trò
chuyện vội vàng, đám cưới kết thúc.
Dưới mắt tác giả
Nguyễn Quốc Bảo, Lê Đỗ Thị Ninh là một bóng hình dễ mến. “Chị là chị họ ruột
của tôi, gần gũi như anh em ruột, và chị thân thiết với chị tôi - Nguyễn Thị Huệ
- hai người bằng tuổi nhau, đi đâu cũng kè kè bên nhau. Tôi còn nhớ rất rõ,
trong đám đông trẻ con năm ấy, chị Ninh lúc nào cũng là người e ấp nhất. Chị
không ồn ào, không nói nhiều, không liều lĩnh như đám con gái tản cư chạy ngoài
bãi cát Sầm Sơn. Chị hiền đến độ chỉ cần một tiếng gọi hơi đột ngột cũng đủ làm
chị đỏ mặt; thẹn đến độ chỉ cần có người lớn nhìn chăm quá vài giây là chị nép
vào vai chị tôi. Mỗi lần gặp, chị luôn cúi đầu chào rất lễ phép, tiếng nói nhỏ,
nhẹ, ngữ điệu như nắng sớm vắt qua bờ giậu. Trong mắt tôi lúc ấy, chị là hình ảnh
của một người con gái chưa hề biết yêu, chưa hề bước ra khỏi chiếc vỏ mỏng manh
của tuổi dậy thì. Chị giống như một búp sen vừa nở được một cánh mỏng đã bị
sương khuya thấm vào, khép lại mãi mãi”.
Cô dâu Lê Đỗ Thị
Ninh là con của ông Lê Đỗ Kỳ và bà Đái Thị Ngọc Chất. Bà Ngọc Chất thuộc một
gia đình coi trọng chữ nghĩa. Bà là chị cả, nghiêm trang, nề nếp, có cái uy tự
phát tiết trong người. Bà là chị ruột của bà Đái thị Kim Chữ, mẹ của tác giả
Nguyễn Quốc Bảo, và nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn. Cha mẹ của họ là ông Đái Xuân
Quảng và bà Đỗ Thị Hiền. Họ Đái gốc Quảng Xương bên Trung Hoa đến An Nam từ thời
Cao Biền. Họ Đỗ của bà Đỗ Thị Hiền cùng tộc với thi hào Đỗ Phủ là một cự tộc
bên Trung Hoa. Cụ Đỗ Các, cố ngoại của tác giả và cô Lê Đỗ Thị Ninh, làm tới Án
Sát tỉnh Thanh Hóa, có 5 vợ. Bà vợ thứ ba là bà Phạm thị Lương sanh ra bà Đỗ Thị
Hảo sau này là vợ đầu tiên của học giả Trần Trọng Kim. Chính cụ Đỗ Các đã tài
trợ cho con rể Trần Trọng Kim du học bên Pháp.
Lê Đỗ Thị Ninh chết
đuối vào năm 1949, thời tản cư. Bữa đó, như mọi ngày, chị ra giặt đồ bên dòng
Nông Giang. Bất thần nước đổ xiết. Những người đàn bà đang giặt hoảng hốt ôm đồ
chạy lên bờ. Chỉ có một người không chạy kịp. Chị trượt chân, dòng nước dữ kéo
chị đi trong chớp mắt. Không ai kịp níu người gặp nạn. Suốt ba ngày đêm, dân
làng chèo bè kiếm xác chị. Họ vớt từ khối rác hay bọt bèo nổi lên mong tìm thấy
xác chị bám theo. “Tôi cũng là một trong những đứa trẻ ấy - vừa tò mò, vừa sợ
hãi, vừa không hiểu vì sao chỉ trong một buổi chiều, một người còn cười nói đã
biến mất như vậy. Khi người ta vớt được xác chị, nước đã làm biến đổi nhiều thứ.
Tôi chỉ thấy người lớn quây quanh, khăn áo sũng nước, mắt đỏ hoe, còn chị thì nằm
im, nhỏ bé, không còn là cô gái mười sáu tuổi e ấp ngày cưới nữa. Thân thể ngâm
nước đã phình lên”. Bà mẹ Đái Thị Ngọc Chất ngồi bên xác con không
khóc, không kêu, không gào thét được. Bà chỉ ngồi bệt xuống đất, hai bàn tay
run run giữ hai đầu gối, mắt mở trừng trừng nhìn vào xác thân con như nhìn một
chiếc bóng vừa tách ra khỏi đời mình. Ba đứa con nhỏ của bà: Lê Đỗ Bình, Lê Đỗ
Thái, Lê Đỗ Như run rẩy đứng sau lưng bà không hiểu chuyện chi đã xảy ra.
Đám tang vội vã đến
nát lòng. Quan tài là vài tấm ván mộc ghép lại, không kèn trống, không cúng kiếng,
được mang ra một miếng đất cao vùi vội xuống một khung huyệt nhỏ. Một ụ đất thấp
được đắp lên, cắm một nén nhang, không có bia, không có tên, chỉ có bình hương
lạnh là chiếc bình hoa ngày cưới.
Khi nghe tin dữ,
Hữu Loan đứng bật dậy, mặt tái như chàm rồi ngồi sụp xuống đất như đôi chân
không còn sức chống đỡ. Suốt đêm hôm đó ông ngồi dựa gốc cây, không nói một lời,
chỉ lặng người nhìn lên trời. Sáng hôm sau ông lặng lẽ trở lại công việc nhưng
từ bữa đó tóc mai ông bạc rất nhanh.
Không còn nhìn thấy
người đã khuất, Hữu Loan cũng không bao giờ được nhìn thấy những người thân của
vợ kể từ khi ông ra khỏi Đảng vào năm 1950. Ngay Đỗ Lê Thái, “đứa em
chưa biết nói”, khi đó là Đại Tá, cũng không bao giờ thăm gặp ông.
Không phải vì oán ghét chi mà vì sợ. Chỉ có Hữu Loan không sợ. Sau những năm cải
cách ruộng đất, chỉnh huấn, đấu tố và Nhân Văn Giai Phẩm, Hữu Loan bị cô lập. Vậy
mà anh lập gia đình lần nữa. Như một chống đối. Không cưới hỏi chi. “Tôi vẫn
nhớ rất rõ câu chuyện về chị Nhu - người vợ sau của anh Loan. Một lần ngồi giữa
gian nhà lợp ngói cũ ở Nga Sơn, chị kể cho tôi nghe giọng nhỏ, mà như ai rót nước
nóng vào tim. Chị bảo, chị là con út trong một gia đình chỉ có vài thửa ruộng
con. Vậy mà Cải cách Ruộng đất xếp họ vào hạng tiểu tư sản. Bố mẹ bị đấu tố, bị
“thất lộc”, nhà cửa mất sạch, ruộng vườn bị chia, cả gia đình tản mác như tro
bay trên đồng mùa đông. Chị trở thành một đứa con gái không nhà không cửa, ban
ngày lang thang, ban đêm ngủ nhờ. Cái nghèo đứt ruột thì người ta còn chịu được,
nhưng cái nhục bị bêu riếu giữa sân đình thì chị nói, “nó theo riết như mùi
khói rơm ám trong áo”. Ấy vậy mà trong những ngày thất thểu ấy, chị vẫn có thói
quen lén đến đứng ngoài cửa ngôi trường dựng tạm ở đình làng. Chị đứng nép sau
cột đình, chỉ để nghe một người thầy trẻ giảng Kiều cho mấy đứa học trò. Chị bảo,
chị không hiểu hết, nhưng mỗi lần nghe đến câu thơ nào anh giảng say mê, chị thấy
như đời mình bỗng đỡ tối một chút. Người thầy ấy chính là anh Loan”.
“Anh Loan” lúc đó
thấy chi? “Anh nói với tôi, lần đầu thấy chị đứng sau cột đình, gương mặt
ngơ ngác mà ánh mắt đầy sợ hãi, anh tưởng chị là người tò mò qua đường. Nhưng
sau nhiều buổi, anh nhận ra sự lặp lại ấy có một nỗi niềm khổ nhục nào đó. Anh
tìm hiểu, hỏi chuyện, biết tận cùng hoàn cảnh của chị. Và theo cách rất Hữu
Loan - anh không sợ chính quyền, không sợ công an, không sợ “tai tiếng” gì hết
- anh đưa chị về nhà nuôi. Rồi hai người thành vợ thành chồng, âm thầm, không
hôn lễ, không họ hàng, không ai dám chúc phúc. Nhưng họ sinh được chín người
con. Chín đứa trẻ lớn lên giữa nghèo khó, kéo đá, thồ vôi, nhưng lớn lên bằng một
thứ mà đảng tịch, chính quyền hay bất kỳ tờ giấy nào không thể cho, sự tử tế của
bố, một người đàn ông từng đứng giữa chiến khu, từng từ bỏ mọi thứ để giữ cho
mình một chút trong veo còn sót lại”.
Chỉ vì chút
“trong veo” mà một nhà thơ của cả một thế hệ, một người thầy được mọi người
kính trọng, một trí thức tự học đậu Tú Tài Pháp, đã phải kéo xe chở đá trên con
đường gập ghềnh trong làng, lưng cong vì sức nặng khi lên dốc. Vợ anh phải buôn
bán lậu ở chợ để kiếm chút cháo nuôi đàn con nhỏ và một ông chồng bị đày đọa vì
muốn đứng thẳng lưng. “Anh Loan đưa mắt nhìn ra vườn, đưa mắt nhìn ra cái
hiên thấp lợp ngói mốc, hai cột tre chống xiêu vẹo, cái bàn gỗ lổn nhổn nồi
niêu chén bát, rổ thau úp ngược, cái sọt nhựa đỏ dựng ở góc, cái bát trắng lẻ
loi trên nền xi măng ẩm mốc. Cả cái gian bếp tăm tối ấy, với cửa gỗ hé mở và đống
bao tải vứt trong góc, chính là phần đời mà người ta đã bắt nhà thơ sống sau
khi đã “đánh” xong anh. Rồi ông bật cười, một tiếng cười nhẹ như tiếng gỗ va
nhau: “Tao nói rồi… tụi kia toàn một lũ hèn. Chỉ có vài người chịu đứng thẳng.
Mà đứng thẳng thì gãy.” Ông nói, nhẹ như thở: “Đảng, Tố Hữu hay Trường
Chinh…cũng không đoạn trường được tao. Tao bị chúng nó đánh đến nát rồi…không
còn đánh thêm được nữa; nên tao nhìn mọi chuyện… rất thảnh thơi.”
Thảnh thơi như những
bụi hoa sim tím thẫm. Hoa sim ở đâu mà bài thơ mang tên “Màu Tím Hoa Sim” khiến
thứ hoa tầm thường trở thành thứ hoa được người đời nhìn như những bông hoa cao
quý của một đời chồng vợ chỉ vẻn vẹn ba ngày. “Hoa sim trong thơ Hữu
Loan không mọc ở đâu xa xôi. Nó mọc tím trên những đồi thấp quanh ấp Thị Long -
đúng nơi chị Lê Đỗ Thị Ninh mất. Từng bụi sim, từng cành hoa tía đậm, từng cánh
hoa rung trong gió đều là nhân chứng câm lặng cho một cái chết thật. Và vì thế,
Hữu Loan không chỉ viết thơ; ông viết nỗi đau thật thành ngôn từ, vật hóa bi kịch
thành câu chữ, làm bất tử một người con gái mới mười sáu tuổi. Tôi viết những
dòng này bằng tư cách một người đã đi qua lịch sử, bị lịch sử xé nát tuổi thơ,
và tình cờ trở thành nhân chứng cuối cùng của một câu chuyện mà cả nước thuộc,
nhưng ít ai biết gốc gác thật của nó”.
Nhiều người đã đọc
bài “Màu Tím Hoa Sim” và hầu như ai cũng đã từng nghe những bài nhạc ăn theo
bài thơ. Tôi nhớ những ngày trong các ngõ hẻm Sài Gòn xưa bản nhạc của Dzũng
Chinh ra rả suốt ngày, nhà nọ dắt díu qua nhà kia. Chúng ta chỉ biết đây là một
chuyện tình bi thảm lấy được nước mắt của mọi người. Biết hơn một chút thì đây
không phải một chuyện tình trong tiểu thuyết mà là một bi kịch có thật xảy ra
trong đời tác giả Hữu Loan. Nhờ cuốn sách của tác giả Nguyễn Quốc Bảo, một người
thân trong gia đình “nàng”, mà chúng ta biết đầy đủ về tấm bi kịch của cô gái
16 tuổi và nhà thơ. Có lẽ bi kịch này đã đẩy tác giả tới việc bỏ Đảng, chấp nhận
cuộc sống của người bị bỏ ra bên lề chế độ. Phong ba bão táp đã đổ xuống suốt
cuộc đời còn lại của tác giả Hữu Loan, không những tách ông ra khỏi xã hội mà
tách ông ra khỏi cả gia đình bên vợ. Chỉ vì họ sống trong nỗi sợ hãi. Chỉ có
ông kiên cường sống bất khuất. “Đảng, Tố Hữu hay Trường Chinh…cũng không đoạn
trường được tao. Tao bị chúng nó đánh đến nát rồi…không còn đánh thêm được nữa;
nên tao nhìn mọi chuyện… rất thảnh thơi.”
Tôi chưa bao giờ
thấy một đóa sim nhưng vẫn mường tượng đó như một vết bầm đọng máu tím tái. Những
vết bầm trên người nhà thơ bất khuất Hữu Loan!
Song Thao
12/2025
