Trước giao thừa vài hôm, anh nhắn tin gửi cô. Chỉ một dòng
ngắn gọn:
“Giao thừa năm nay, anh mời em tới chung vui cùng anh.”
Cô trả lời. Cũng ngắn gọn:
“Dạ, anh.”
Chỉ vậy. Lửng lơ. Nhưng cũng đủ khiến anh nôn nao. Anh mở
xem dự báo thời tiết cho những ngày sắp tới. Bảy mươi phần trăm sẽ có tuyết
rơi. Anh ngạc nhiên. Đã nhiều năm nay, thành phố nầy vào mùa đông, không còn thấy
tuyết rơi nhiều như trong những thập niên một chín bảy mươi một chín tám mươi,
thuở anh còn đi học.
Ký túc xá sinh viên nằm trên ngọn đồi thấp, cách trường đại
học một lũng đất cạn hai mươi phút đi bộ. Lối đi tráng nhựa vắt sóng soãi ngang
trũng thấp. Ven lối trồng một hàng cây chưa tới tuổi dậy thì. Hai bên, ruộng đất
mênh mông. Mùa hè trồng cải dầu. Tháng tám, trổ bông vàng rực. Mùa đông trùng
trùng tuyết phủ. Thời khóa biểu thường nhật mỗi lục cá nguyệt của anh bắt đầu
lúc tám giờ, bốn mùa như nhau. Đúng bảy giờ, chuông đồng hồ báo thức. Anh tỉnh
giấc, nướng níu giây lát, rồi ngáp vắn ngáp dài rời giường, vào bếp bật lò nấu
nước, trước khi vào phòng vệ sinh hoàn tất thủ tục sáng. Điểm tâm vỏn vẹn một
tách cà phê sữa và một lát bánh mì phết bơ mứt. Rồi anh thay quần áo, mùa
đông tròng thêm áo len, quấn khăn cổ, mang giầy đế gai, khoác áo gió đệm bông.
Những hôm tuyết rơi, anh xỏ thêm găng tay, đội nón len. Đất trời bên ngoài chưa
thức. Hàng xe co ro kề cận nhau suốt đêm lạnh trong bãi đậu. Tuyết đổ trọn đêm
qua. Sáng, còn lất phất. Tuyết phủ no nê ruộng đất, ngập trắng lối đi vắt ngang
lũng, chưa hằn dấu chân người. Anh dè dặt từng bước xuống những bậc cấp. Ngẩng
mặt về hướng đông, vệt sáng đầu ngày vừa hắt lên, báo hiệu hôm nay có nắng.
Anh mở máy phát thanh. Chỉ vừa đủ nghe. Giọng nữ xướng ngôn
viên khuấy lên không gian những âm thanh quen. Những mẩu tin trong ngày. Và âm
nhạc. Anh nhẹ tay rửa chùm nho đỏ, đặt vào rây cho ráo nước, lấy khăn giấy chậm
khô, đặt vô dĩa bàn men trắng. Hai trái táo đỏ cũng được anh rửa sạch, sắp nằm
kề bên. Thêm ba trái quýt và nải chuối già bốn trái. Vào đông, tới mùa hồng
giòn, anh mua hai trái về chưng trong dĩa. Xong, anh đổ ít nước vào bình pha
lê, lấy kéo tỉa lá, cắt xéo chân mấy cành cúc vàng, cúc trắng, cắm chung với
vài nhánh ngâu trắng. Trang thờ đón giao thừa bày trên bàn ăn trong phòng khách
có thêm hai tách trà xanh, một chén con đựng gạo dùng cắm nhang và hai chân đèn
cầy nhuộm phẩm đỏ.
Trước đó, anh nhắn tin khoe với cô, chiều hôm qua anh đã nấu
xong nồi thịt ba rọi kho rệu với trứng, đang để qua đêm cho thấm. Món nầy ăn
kèm cải thảo ướp gia vị kim chi, anh làm xong từ tuần trước, ngâm trong thẩu sứ.
Cô ngỏ ý:
“Em thèm canh khổ qua dồn thịt với bún tàu, nấm mèo. Ăn món
canh nầy lúc đầu năm là đúng bài anh ơi!”
Ngày hôm sau, anh nhắn tin trả lời:
“Siêu thị á châu chỗ anh không thấy bán khổ qua tươi. Anh
mua tạm bịch khổ qua dồn cá thát lát đông lạnh nhập từ Việt Nam. Cũng ngon lắm
em!”
“Dạ, anh.”
“Có người biếu anh đòn bánh tét.”
“Vậy à? Mai em đi mua củ cải trắng về làm dưa món, đem tới
anh và em ăn sáng với bánh tét”, giọng cô nghe như reo.
Đêm ấy, giấc ngủ anh như manh áo thơm tho hương vải mới, được
ủi phẳng phiu, không còn những nếp gấp.
Từ dạo tha hương tới nay, mỗi đêm giao thừa, anh thường
xuyên chiêm bao thấy lại cảnh tang tóc đầu năm một chín sáu tám. Rõ mồn một. Với
nguyên vẹn âm thanh và màu sắc… Anh bật thức, dáo dác quanh quất, tưởng
như ác mộng hiện về. Tiềm thức anh váng vất rền vang tiếng động cơ máy bay
trực thăng lần quần trên không. Ánh sáng hỏa châu hắt qua cửa sổ. Chập chờn.
Vàng lóe. Rồi tắt ngúm. Tiếng đại bác từ xa vọng về ì ầm. Sáng dậy, nghe tin, họ
vi phạm hiệp ước đình chiến ba ngày tết, tổng công kích Sài Gòn và những
thành phố lớn, khắp miền Nam. Trưa mồng ba, một trái đại pháo rớt trúng khu lao
động gần nhà, phát hỏa. Mọi người túa ra xem xét. Phía sau dãy nhà cuối đường,
một cột khói đen đủi thốc cao, lửa liếm ngọn nghiến ngấu. Mùi tro than khét lẹt
không gian. Mảnh vụn cháy xém tung tóe theo gió. Còi báo động của đội cứu hỏa
vang dội từng chặp, từng chặp hối hả. Chiều xuống, lửa được dập tắt. Bảy giờ tối,
chương trình truyền hình đài số chín bắt đầu với bản tin thời sự. Những tin tức
giao tranh khốc liệt khắp bốn vùng chiến thuật. Trường học, chợ búa, quán xá
đóng cửa vô thời hạn. Giới nghiêm hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Hết mùng ba,
chợ được phép mở bán vài tiếng, chỉ thấy lác đác vài sạp hàng thịt cá và rau củ.
Huế bị chiếm đóng. Gần bốn tuần sau mới giành lại được.
Đài truyền hình số chín không ngớt tường thuật những tin tức và hình ảnh tang
thương đã xảy ra trong những ngày thành phố bị chiếm đóng. Bản tin được bắt bằng
tấu khúc “Exodus”. Hiện lên trên màn hình là hình ảnh những mồ chôn tập thể, những
quả phụ chít khăn sô, những áo dài trắng, những hình người gẫy gập, vật vã tức
tưởi bên những gò đất vừa được quật xới tìm xác chồng, xác cha, xác thân nhân.
Sọ đầu vỡ giập. Tay cột vào nhau. Những địa danh chưa phai trong trí nhớ anh.
Gò Cát, khe Đá Mài, Gia Hội, Phú Thứ, Bãi Dâu, Chính Hầm, … Mỗi một nơi, một mồ
chôn tập thể vùi lấp vội vàng hàng chục hàng trăm thây người.
Cho tới bây giờ, mỗi khi tình cờ nghe lại giai điệu
“Exodus”, anh không khỏi liên tưởng những ngày đầu năm tang tóc. Thuở ấy.
“Tuyết đang rơi. Em tới trễ. Anh đừng chờ em!”
Tin nhắn của cô hiện lên màn hình. Anh gõ vài dòng vắn tắt:
“Anh đã thắp nhang cúng giao thừa, chờ nhang tàn và chờ em. Em lái xe cẩn thận. Đừng quên đem theo
chìa khóa nhà anh đưa em lần trước, phòng khi anh vắng mặt đâu đó giây lát.”
Nhang tàn, anh mở
bung cửa sổ, xua bớt mùi nhang đèn. Ngoài kia, tuyết phủ trắng phau mái nhà đối
diện. Trên mảnh sân con. Trên mặt đường hiu hắt đèn khuya. Không một tiếng động.
Như ngủ. Hương đêm se se, gợi thức trong anh những năm tháng một mình trắng
toát trong ký túc xá sinh viên. Anh khép cửa, kéo màn, tới lắp dĩa nhạc nằm lẻ
loi bên cạnh vào máy, điều chỉnh âm thanh. Ánh đèn cầy bàn thờ lập lòe tường
vách. Anh nằm xuống ghế sa-lông, đắp chăn bông, khép mắt. Giai điệu và tiếng
hát quen vang lên, như lời vỗ về của người bạn tâm tình.
Năm ấy, anh mười
tám tuổi. Một đêm tháng tám, trước giờ giới nghiêm, anh lái xe loanh quanh vô ý
thức qua những con đường trong phố chính. Từ Duy Tân băng ngang Thống Nhất,
vòng qua nhà thờ Đức Bà, rẽ vào Tự Do. Mưa bất chợt rớt xuống. Tới Lê Thánh
Tôn, mưa trở nặng, anh tạt vào mái hiên La Pagode, chờ tạnh. Cách đấy một khoảng
ngắn, thấy có người đàn bà ngồi bên sạp bán thuốc lá, co ro ngó mưa. Sạp và người
phủ tấm bạt ny-lông trắng. Anh sực nhớ chương kết quyển tiểu thuyết thời danh,
đọc đi đọc lại gần như thuộc lòng.
“Nàng đi ngược
lại Brodard, qua phía Tự Do tìm người mù bán thuốc. Cửa vũ trường bỗng mở nhẹ
nhàng. Trâm nhìn lên. Minh. Trái đất quay một vòng trong chớp mắt im sủng. Dưới
ánh đèn màu khuya, muộn hắt hiu, Trâm nhận ra mái tóc bồng bềnh, hai con mắt thờ ơ,
đôi môi tràn đầy của mùa tình Đà-lạt. Trong bóng dáng tình khuya đó, Trâm
thoáng thấy hình ảnh xa lạ của chính mình chập choạng lung linh. Tia nhìn bỗng
lạc mất nhau. Nàng đi qua, đi qua, đi qua không một bước chân dừng lại…” [i]
Cõi lòng anh chùng xuống, nhớ vu vơ một khuôn mặt và
mùi hương thầm kín của đôi lần dong ruổi bên nhau những chiều cuối tuần. Nỗi
xúc động dâng lên khi nghe tin về những cái chết non trẻ của dăm ba người biết
mặt, quen tên, nhưng chưa một lần ngỏ lời. Tần ngần một đỗi, anh bước lại, hỏi
mua điếu thuốc lá lẻ, mồi lửa đầu ngọn nhang cắm một góc sạp. Hơi thuốc đầu đời
ngầy ngật, tựa như nhát chém dậy thì choáng váng. Chỉ sau vài hơi, anh vất
điếu thuốc ra lòng đường loáng nước. Người đàn bà day mặt ngó, tia mắt dường
như hoang mang. Mưa chỉ còn lất phất, anh mở máy, rẽ hướng Hai Bà Trưng.
Anh đi qua, đi qua. Cứ như vậy. Hết tuổi thanh xuân khi nào không hay. Đèn
xanh đèn đỏ một đêm mưa tháng tám của riêng anh rưng rưng như hoen lệ.
Khuya ấy, anh chiêm bao thấy chiếc bóng của tuổi trẻ mình dang tay ôm siết
như thể che chở trước những biến động của đời sống. Thâu đêm.
Anh thiếp vào giấc ngủ giao thừa khi nào không hay… Và bật
thức khi chuỗi âm thanh văng vẳng trong thính giác anh như những bàn tay đêm
khơi quật những khắc khoải mọc gai trên da thịt. Như những nhát xẻng giáng xuống
lòng đất man rợ một chín sáu tám. Như những đam mê trong anh miệt mài với văn
chương, với âm nhạc, với những riêng tư thầm kín. Đèn lụn tắt từ bao giờ. Tâm
tư anh đắm đuối chìm xuống trũng ánh sáng xanh xao của giấc chiêm bao rơi rớt lại.
Giọng hát, tiếng đàn đằm đẵm mê hoặc nối tiếp nhau, cho tới
lúc khứu giác anh bắt được mùi hương quen. Không phải mùi phố phường phẫn nộ của
trận hỏa hoạn trưa mùng một tết năm nào. Không phải hương mưa đêm choáng váng
hơi thuốc lá dậy thì bên hè phố Tự Do tuổi mười tám. Không phải mùi nhang đèn
giao thừa ngầy ngật và hương khói vàng mã những nỗi niềm quá vãng. Cũng không
phải hương tuyết trắng rạo rực những khát khao không tên gọi trong những lần đi
về qua lũng đất mùa đông thời đi học. Mà là hương tóc và thân thể đàn bà vừa tắm
gội. Của cô vừa chuồi vào chăn, nằm cạnh anh.
“Em xin lỗi anh, bây giờ mới tới. Tuyết rơi nhiều quá, em phải
ghé lại một quán ăn ngoài xa lộ, chờ một lát, mới dám chạy tiếp”, cô dúi mặt, kề
môi bên tai anh, thì thầm. “Em vừa mở máy nghe nhạc, nhằm ngay bài hát anh thường
nghe.”
Anh xoay người, ôm siết lấy cô. Trong khoảnh khắc chia tay
năm, giao thừa âm dương bật thức. Rất nồng nàn.
Ngô Nguyên Dũng
(01.2026)
[i] “Vòng Tay Học Trò” – Nguyễn thị Hoàng –
Tr. 415 -Nxb. Thái Phương – Sài Gòn – 1964.
