Tương tự như các thành phố trong thung lũng Hoa Vàng, vào thập
niên tám mươi, thành phố San Jose hồi sinh với các hãng xưởng điện tử vừa được
thành lập và đang tuyển mộ nhân công, con đường mang tên Senter Road còn nhiều
đoạn có “ổ gà” và những khúc đường lồi lõm bong tróc nhựa đường đang được lần hồi
tu sửa, không có những cơ sở thương mại khang trang cũng như các sinh hoạt sầm
uất dọc theo khu phố như hiện nay. Nhưng, như một cái nôi cưu mang nhiều sắc
dân có trình độ văn hóa và kỹ năng chênh lệch khác nhau trong cùng một thời điểm,
nên sự thăng tiến trong đời sống cũng tùy thuộc từng sắc dân. Vì vậy, sau những
năm tháng ổn định đời sống, Cộng đồng người Việt với tinh thần cầu tiến lại được
hấp thụ một nền giáo dục khoa học và nhân bản đã cống hiến cho xã hội rất nhiều
chuyên viên trẻ tuổi, tài năng, có trình độ đại học, hậu đại hoc trong mọi lãnh
vực.
Con đường với những sinh hoạt đa dạng về văn hóa, xã hội qua
những năm tháng đã để lại trong tôi những kỷ niệm của một người tỵ nạn chân ướt
chân ráo, lần đầu tiên đặt chân tới đất nước Hoa Kỳ, ngày ngày lái chiếc xe cũ
lên thành phố Mountain View làm việc với đồng lương căn bản. Tiết kiệm từng đồng
sau khi chi trả mọi thứ, chúng tôi vẫn còn dư chút đỉnh để một vài tháng xuống
tiệm gởi đồ của ông bà Phúc ở đường Santa Clara “đóng thùng”, gởi về cho cha mẹ
và các em. Thùng quà với những yard vải và những nhu yếu phẩm, thuốc men... được
gởi tùy theo thư gia đình cho biết những mặt hàng nào đang có giá trên thị trường
Việt Nam.
Mỗi chiều, rời hãng điện tử ở thành phố Mountain View, tôi
lái xe về San Jose College theo học chương trình Evening Classes. Bù đầu với
sách vở, bài tập và bổn phận, nhưng vẫn thức dậy và tỉnh táo lái xe đi làm lúc
bốn giờ rưỡi buổi sáng mỗi ngày với hai phần cơm hộp mang theo – buổi trưa ăn ở
hãng, buổi tối ăn tại trường. Có lẽ sức khỏe còn trong tuổi sung mãn và hạnh
phúc được sống trong một xã hội tự do, nên dù rất bận rộn và vất vả làm lại cuộc
đời từ con số không sau gần sáu năm tù tội và năm đêm bốn ngày vượt biên trôi dạt
trên biển cả trên chiếc ghe bầu không hải đồ, cạn kiệt săng dầu, cùng với sáu
tháng tạm trú trong trại tỵ Leam Sing, Thái Lan, tôi vẫn cảm thấy vui với đời sống
mới và không cảm thấy mệt mỏi. Bây giờ, dù đang cư ngụ cách xa con đường Senter
bảy tám miles, tôi vẫn cảm thấy con đường với những khu phố thật thân thương và
gần gũi như những năm tháng đầu tiên mới định cư tại thành phố Hoa Vàng.
Mới hơn mười giờ sáng, nhưng các dãy bàn ngoài hiên tiệm Cà
Phê Bên Đường nằm trên đường Senter, chênh chếch với ngôi thánh đường bên kia
đường đã gần như không còn bàn trống. Chỉ còn một hai tuần lễ nữa là tết Nguyên
Đán, nên chợ Tết và các cửa hàng cách tiệm cà phê bốn năm căn phố, nằm cùng một
bên dọc đường Senter đã nhộn nhịp những người đi tới đi lui mua bán hàng tết, từng
nhóm người đi bộ ngang qua tiệm cà phê để đến khu thương mại rộng lớn cạnh ngã
tư đường Senter và đường Lewis, nơi có ngôi chợ mang tên Senter Super Mảrket
bán đầy đủ các mặt hàng Việt Mỹ Mễ và các cửa tiệm với những dịch vụ khác nhau.
Trong dòng người đông đảo đang đi mua sắm tết cũng có nhiều người đứng chờ đèn
xanh ở ngã tư Senter- Lewis để băng qua đường, ghé vào Hội Chợ Tết Giáo xứ của
Cộng đoàn Công Giáo Việt Nam ở bên kia mặt đường Senter.
Ba người chúng tôi ngồi ngoài hàng hiên sáng cuối tuần với
ba ly cà phê sữa nóng và dĩa bánh Pâte Chaud vừa được cô tiếp viên đặt trên
bàn. Bầu trời cuối năm trong những ngày cuối đông giá lạnh với những đám mây
xám và những cơn gió nhẹ. Gặp lại nhau trên đất khách sau những năm dài tản mát
mỗi người mỗi nơi theo từng hoàn cảnh cá biệt, ba chúng tôi - những người bạn học
năm xưa, mất liên lạc từ thời hậu chiến, ngồi bên ly cà phê trong buổi sáng cuối
năm, hàn huyện và nhắc nhớ những chuyện xa xưa, bạn bè kẻ còn người mất với những
ngày tháng qua mau, đã năm mươi năm, nhưng khó quên.
Nâng ly cà phê, nhắp một chút như để thấm giọng, Thái hỏi
tôi: "Sau mùa xuân bẩy lăm “ông bóc lịch” ở ngoài Bắc hay trong Nam?"
- Không phải đi Bắc, nhưng gần sáu năm, tôi cứ loanh quanh ở
mấy trại thuộc khu vực Kà Tum, Đồng Ban, Tân Biên, Tân Hội thuộc miền biên giới
giữa Tây Ninh và Campuchia. Dù ở trại nào cũng vẫn thấy ngọn núi Bà Đen cao sừng
sững với những cụm mây xám chì trôi lững lờ trên đỉnh ngọn núi. Đôi lúc tưởng
chừng một ngày nào đó sẽ đi theo những người bạn tù“đang nằm bên gò mối”. Bây
giờ, ngồi đây nói chuyện ngày tết, ngày xuân mà cảm thấy phảng phất đâu đây
hình ảnh mùa Xuân trong những khu rừng già cùng với các bạn tù, bên cạnh những
cán binh Việt Cộng nét mặt lầm lì, da vàng ủng như màu dưa khú, đang canh giữ với
cây AK trên tay.
Phú ngắt lời tôi, hỏi: "Ông có bao giờ nghĩ sẽ có ngày
sống trên đất Mỹ như hôm nay không?"
- Không biết ngày về, còn nghĩ gì chuyện xa xôi nữa, ngoại
trừ trước một hai năm tan hàng, tôi có dự định qua Fort Benning theo học khóa
Leadership. Lao động mút mùa, đầu óc đâu mà nghĩ đến những chuyện trong mơ. Có
những ngày đi lao động, tôi nhìn những nấm mộ hoang vu ven bìa rừng, thấy những
thân cây cháy nám đứng nằm mà nghĩ đến thân phận của những người tù không tội,
nhớ đến những người bạn tù đang ngủ yên trong cánh rừng già bên gò mối cùng với
tình cảnh người dân quê sống cạnh núi rừng thật nghèo nàn, quanh năm khai
quang, đốt rừng làm rẫy với khoai mì, bắp ngô và vài mảnh lúa xạ, tương tự như
những người Thượng du canh du mục trên cao nguyên vậy. Ngày cận tết, đi sâu vào
trong rừng, cảm nhận được cảnh nghèo của dân quê sinh sống với núi rừng khi
xuân về tết đến, và bắt gặp những bông mai trong nắng sớm, những giò lan đang bị
rêu phong ôm cứng trên các thân cây đã làm tâm tư tôi xao xuyến, liên tưởng đến
thân phận người sa cơ lỡ bước.
Thái và Phú với ly cà phê trên tay, ngồi nghe tôi kể về những
năm tháng đổi đời khi xuân về tết đến, rồi Thái nói:
- Thương hải biến vi tang điền, đất nước tan hoang, dân tộc
phân hóa vì một chủ nghĩa ngoại lai không tưởng, một vết hằn khắc sâu trong tâm
can thật khó phai mờ.
- Đúng vậy, những mùa Xuân trong núi rừng đã đi sâu vào
trong ký ức – tôi nói, rồi đọc lại mấy câu thơ “Vác củi ngày Xuân“ cho hai người
bạn nghe.
Vượt qua con
suối gặp mai
Đường đi không
đến ngày dài thương đau
Rừng già in dấu
chân người
Rêu phong ôm rễ
giò lan trong rừng
Cây khô cháy
nám đứng nằm
Nhìn nhau những
thấy thương đau đoạn trường
Con đường khúc
khuỷu quanh co
Gần xa thúng sắn
rổ khoai trước nhà
Bóng người
xiêu đổ trong sân
Chợt nghe có
tiếng mời chào thân thương
Gởi người một
chút hương xuân
Tương giao
nghĩa cũ tình người dân quê
Nắng vàng mờ
nhạt cuối thôn
Gió rừng lạnh
buốt hồn người đón xuân.
Nghe tôi đọc xong
mấy câu lục bát, Thái nâng ly cà phê lên nửa chừng, nói:
- Người xưa có
câu: Đập vỡ gương xưa tìm hình bóng. Cho dù câu nói chỉ là ẩn dụ, nhưng với những
dấu ấn của một đời đắng cay, một vết hằn đã thành vết thẹo thì không quên được.
Do đó, ông không quên được mấy câu thơ từ ngày đi tù cũng là vậy. Người đời
nói: Không nơi nào đẹp bằng quê hương. Mùa xuân nơi đây cũng chan chứa tình người,
lại sống trong một đất nước tự do có đủ mọi tiện nghi kể cả tinh thần lẫn vật
chất, nhưng khi xuân về tết đến, tôi vẫn nhớ da diết đến những ngày xuân bên
mái ấm gia đình, bên bạn hữu xa xưa. Đôi lúc suy nghĩ mông lung, cảm thấy như
mình đã đánh mất một kỷ vật vô hình, vô giá nào đó trong đời mà không thể tìm lại
được.
Phú, người bạn Xứ
Buồn Muôn Thuở là người rất kiệm lời, thường ngồi nghe nhiều hơn nói, nhắc
chúng tôi ăn bánh, uống cà phê, rồi nói: Chuyện buồn quê hương là chuyện dài
nhiều tập, kể cả đời không hết, cà phê nguội mất ngon. Nước đã qua cầu, lực bất
tòng tâm thì có ai mà không nhớ không thương.
Tôi nhấp ngụm cà
phê trong lúc Thái kể cho tôi và Phú nghe chuyện chuẩn bị Tết của mẹ Thái và
không khí tết trong những năm cha mẹ Thái còn sinh tiền trước mùa Xuân năm
1975, giọng Thái trầm hẳn xuống, nét mặt thoáng buồn.
Gần cuối mùa
đông, giáp tết Nguyên Đán, thời tiết miền thung lũng Silicon giá lạnh hơn mấy
năm qua. Những người quan tâm đến vấn nạn môi sinh thì cho rằng thời tiết khắc
nghiệt, đổi thay bất thường với các diễn biến tiệm tiến đang hủy hoại trái đất
là do tính vị kỷ của con người không quan tâm đến vấn đề bảo quản, mà chỉ biết
khai thác cho lợi nhuận một cách vô thưởng vô phạt. Chỉ còn năm ba ngày nữa là
ông táo về trời dâng sớ táo quân, báo cáo thế sự cho Ngọc Hoàng thánh thượng
theo tục lệ, truyền thuyết.
Tôi ngồi bên hàng
hiên tiệm Cà Phê Bên Đường với hai người bạn học cũ, nói chuyện thế sự xa gần
và những kỷ niệm xa xưa khi xuân về tết đến. Mặt trời khuất dạng sau những lớp
mây chì, những cụm mây xám nhạt trôi lững lờ, thấp dần với những làn gió lạnh
buốt, Hai người bạn tôi đều là những người có hệ lụy xa gần đến chiến cuộc năm
xưa, một người theo cha mẹ vượt thoát được trong chuyến bay cuối cùng của tòa đại
sứ Mỹ, còn một người thất tán gia đình trong đêm thị xã Ban mê thuột bị tiền
pháo hậu xung rồi thất thủ trong thời gian anh đang tu nghiệp tại Hoa Kỳ, còn
tôi đơn thân độc mã, đã dẫn theo người em vượt biên qua những đường dây và thời
gian khác nhau.
Ba chúng tôi vô
tình gặp lại nhau qua một sinh hoạt thiện nguyện sau những năm tháng dài xa
cách và mất liên lạc trong chiến cuộc. Ba đứa với những hoàn cảnh khác nhau,
hàn huyên bên ly cà phê cuối năm, bỏ quên ba ly cà phê uống dang dở và dĩa bánh
đã nguội ngắt. Những hạt mưa vẫn rơi nhẹ, kêu lách tách trên mái hiên quán cà
phê, từng cơn gió phả làn khí lạnh buốt vào những khuôn mặt trầm tư đang ngồi
trên các hàng ghế của hai ba dãy bàn dưới hàng hiên. Một vài người luống tuổi
ngồi ở dãy bàn phía trước hàng hiên thấm lạnh, kéo cao cổ chiếc áo lạnh dầy cộm,
rút trong túi áo lấy cái mũ len đội lên đầu. Bất giác tiếng hát trầm ấm Khánh
Hà với âm thanh vừa đủ nghe từ cái loa cạnh quầy thu ngân đã làm hai người bạn
tôi nhắc đến nhà văn, nhà thơ Nguyễn Đình Toàn với chương trình Nhạc Chủ Đề
trên băng tần số 9 của đài Phát Thanh Sài Gòn trước năm 1975, và nhạc sĩ Vũ
Thành An qua những câu thơ được phổ nhạc.
Tháng ngày đã
trôi qua
Tình đã phôi
pha
Người đã khuất
xa
Chỉ còn chút
hương xưa
Rồi cũng phong
ba
Rụng cùng
mùa...
Tiếng hát nhẹ, trầm
buồn như phà hơi thở trong gió lạnh cuối năm. Không gian thật vắng lặng, bài
hát kết thúc với những làn mưa bụi như sương vẫn bay lất phất ngoài mái hiên
quán cà phê nhắc tôi nhớ đến hai câu thơ của nhà thơ Vũ đình Liên năm xưa:
“Những người
muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây
giờ”.
Những cụm mây xám
như thấp dần, trời bỗng dưng đổ những hạt mưa nặng hạt hơn, giống như cơn mưa
rào, mưa nhanh nhưng tạnh cũng lẹ. Một người từ quầy thu ngân đi tới mỉm cười gật
đầu chào, tôi đứng dậy bắt tay ông và nói vài lời xã giao, chúc mừng năm mới.
Người khách lạ có nụ cười hiền hòa trên môi, nói với tôi như một người đồng
hương đã thân quen:
- Không khí tết ở
Cali vui quá, tôi ở Canada mới qua Nam Cali ăn tết với gia đình “ông con”, tôi
vừa lên đây chiều qua, thăm mấy bạn hiền cùng đơn vị ngày xưa. Thành phố tôi
đang cư ngụ là một thành phố nhỏ miền tây Canada, có ít người Việt mình, nên
không khí tết trầm lắng, không có những lễ hội đông vui như ở đây hoặc như ở
Little Sài Gòn, miền Nam Cali. Tôi thấy không khí tết ở hai miền Nam và Bắc
Cali, không thua kém gì bên quê nhà xa xưa, mọi phong tục tập quán và lễ hội đều
có đủ cả, thời tiết ở đây so với Canada thì quá tuyệt.
Hai chúng tôi
trao đổi qua lại mấy lời trong tình đồng hương, rồi ông khách lạ đi về bàn với
các bạn đang chờ ông. Tôi nhìn bầu trời qua những hạt mưa rơi thưa dần,
nhìn thoáng qua các bàn từ ngoài hàng hiên tới quầy thu ngân - ngày cuối năm,
khách đến uống cà phê phần lớn là những người trung niên, có bàn cười nói rôm rả,
có bàn với những khuôn mặt trầm tư sâu lắng bên mái tóc đã điểm sương đang hàn
huyên bên nhau về nhiều lãnh vực liên quan tới năm hết tết đến. Thái đứng dậy đến
quầy trả tiền rồi trở lại bàn cầm ly cà phê nhấp một hai ngụm. Bầu trời thấp
thoáng từ xa có cầu vồng và những làn mây xanh lạt, Thái bảo chúng tôi nán ngồi
lại chờ cho cơn mưa dứt hẳn, rồi xuống khu Little Sài Gòn thăm các gian hàng chợ
tết, đón xuân với hội chợ Cộng đồng.
Thái nói:
"Tôi rủ hai ông đến Little Sài Gòn để thấy bọn mình vẫn còn Xuân, mùa xuân
với Ly Rượu Mừng của nhạc sĩ Phạm đình Chương mà thày Nghi tập cho bọn mình hát
năm học lớp đệ lục trường Vinh Sơn Liêm đó." Hai đứa chúng tôi mỉm cười,
nhìn Thái, người bạn học vẫn vui tính như ngày nào năm xưa.
