Tôi lớn lên không có ba. Giải Phóng, đất nước thống nhất, Mỹ Ngụy đã được quét sạch. Ba tôi là phi công ngày xưa lái máy bay oanh tạc miền Bắc, được Đảng và nhà nước khoan hồng, gửi ra Bắc học tập cải tạo. Ba để lại một căn nhà ba bốn tầng cho chúng tôi. Gia đình chúng tôi gồm bốn người: Bà Nội, Mẹ, anh tôi, và tôi.
Mẹ tôi là một người đàn bà đẹp không ai sánh bằng, và tôi lần
theo mấy cuốn album cũ, phát hiện ra ba tôi cũng đẹp trai hiếm có. Tôi giữ hình
ba mẹ tôi trong cặp táp, đi đâu cũng mang theo bên mình. Tôi chưa bao giờ thấy
ai đẹp đôi như họ. Trong trường học, anh Hai tôi cũng điển trai có tiếng, và
tôi cũng không kém, tôi là hoa khôi của trường từ bé đến lớn, chưa ai giựt được
cái vương miệng vô hình này. Vô hình vì thật sự không có một cuộc thi hoa khôi
trong trường, nhưng khi tôi đi đến đâu, cái vương miệng ấy đã được tất cả những
con mắt từ thầy cô đến bạn bè đặt lên tôi. Tôi rực rỡ trong trường học, dù là
con cái Mỹ Ngụy. Tuy nhiên, tôi vẫn phải thừa nhận rằng mẹ tôi còn đẹp hơn tôi
bội lần.
Mẹ tôi chia căn nhà bốn tầng rất công bằng. Bà tôi tầng một
vì già cả không leo cầu thang, chỉ phía trước mặt tiền được ngăn ra để mẹ tôi mở
tiệm may quần áo. Tầng hai của mẹ, tầng ba của tôi, và tầng bốn của anh tôi.
Chúng tôi mỗi người mỗi giang sơn. Một tầng từ hai đến ba phòng, chẳng thể nào ở
hết, nên phòng còn trống rất nhiều. Căn nhà ốm và dài, sâu hút, chiếm gần một
con ngõ riêng cho nó. Thời buổi mà gần một phần tư gia đình Mỹ Ngụy đi kinh tế
mới mà gia đình tôi, một trăm phần trăm Mỹ Ngụy, vẫn được giữ căn nhà này, và sống
rất ung dung như thế là nhờ vào tài ngoại giao của mẹ tôi, và như một số bạn
bè, các chú các bác hay lui tới với mẹ tôi vẫn nói, là nhờ Đảng không thù oán
cá nhân, đặc biệt chiếu cố đến mẹ con chúng tôi để chúng tôi hiểu Đảng rộng lượng
thế nào. Bố tôi lái máy bay thì bố tôi phải ra Bắc học tập, còn mẹ tôi không biết
lái máy bay, chỉ là một người đàn bà thêu thùa may vá, và anh em tôi là mầm non
của Đảng, thì không có lý gì chúng tôi bị vạ lây.
Chúng tôi sống yên ổn, mỗi người một việc. Mẹ tôi ít có thời
gian với anh em tôi, gần như chẳng có. Nhà rộng, riêng biệt, ít đụng mặt nhau.
Bà tôi thui thủi một mình. Anh tôi cả ngày ham bạn bè, đi suốt. Tôi cũng ham bạn
bè. Tôi có hai đứa bạn thân, một đứa con nhà đại Mỹ Ngụy, một đứa con nhà Cách
Mạng chân chính. Suốt ngày tôi leo tít trên lầu thượng mơ mộng và tâm sự với
hai con bạn. Trường học không lý thú mấy, nhưng những buổi tối là những ngày hội
của tôi, tôi bát phố không ngơi với hai đứa bạn. Sài Gòn ngày càng tấp nập,
chúng tôi ngày càng gần đến tuổi dậy thì, bắt đầu được các cậu con trai huýt
sáo và săn đón. Chỉ một cái nháy mắt của anh chàng lớp trên đi ngang cũng làm
chúng tôi vui và kháo chuyện một ngày ròng. Tôi như một cây cỏ dại, tự lớn lên
và tự động vui với gió mây, mẹ tôi chẳng bao giờ săn sóc và cũng chẳng bao giờ
làm phiền đến tôi. Cuộc sống như một căn phòng thoáng khí, dễ dàng và trôi
nhanh không có gì để giư õ lại.
Cho đến một buổi chiều nọ, bà tôi chặn tôi ở chân cầu thang,
thì thầm vào tai tôi: “ba mày sắp về cháu ạ”.
Tôi ngỡ ngàng. Ba sắp về. Cái ông điển trai trong cặp táp
tôi đây. Bao nhiêu năm không thư từ gì về nhà, và mẹ tôi cũng chẳng một lần
thăm nuôi. Bây giờ Ba đã học tập tốt, lao động tốt, sắp sửa trở về với chúng
tôi.
Bà tôi quẹt nước mắt, mếu máo: “Chẳng thà đừng về. Về làm gì nữa. Con ơi là con”.
Tôi thẫn thờ đi
lên lầu.
Nằm vật xuống giường,
tôi lôi hình ba mẹ trong cặp táp ra nhìn. Trong hình, ba mặc đồ phi công, đẹp
trai và oai dũng. Mẹ như một nàng tiên giáng trần, dựa vào vai ba, đôi mắt long
lanh cười. Cả hai trong hình đang nhìn tôi, sản phẩm của họ. Mười mấy năm rồi
tôi chẳng còn nhớ có lần nào mẹ thăm nuôi ba không. Con bạn Mỹ Ngụy của tôi mỗi
năm viết thư cho ba nó một lần, và mẹ nó cứ ra Giêng là lặn lội mang thức ăn
cùng thư của chị em nó lên thăm nuôi chồng, nghe đâu đường xá xa xôi vất vả lắm,
đi cả tuần lễ trèo đèo vượt suối mới gặp được ba nó mười lăm phút. Lần nào cũng
vậy, hễ nhận được một dòng chữ nào của ba nó là nó đọc cho tôi nghe. Nó thuộc
lòng từng câu, từng chữ, và đọc một cách trân trọng. Tôi tin rằng nó đọc cả
trong giấc ngủ. Tôi chưa một lần viết thư cho ba, và chắc mẹ cũng vậy. Vì sao
tôi chưa một lần nào nghĩ đến ba mình ở trong tù như thế nào nhỉ? Tôi cũng
không hiểu vì sao. Có lẽ vì chính mẹ tôi cũng chẳng nhớ đến ba. Tôi không hiểu
nhiều về mẹ. Mẹ tôi bận rộn và có rất nhiều bạn bè, trong đám ấy có bác Ba, một
đồng chí cán bộ cao cấp thì phải, người được trên dưới kính trọng, là nơi tin cậy
nhất của mẹ. Đêm nào mẹ cũng đi vắng, bước ra khỏi nhà thơm mùi nước hoa, về đến
nhà lại thoảng mùi rượu. Bỗng nhiên tôi ngồi bật dậy. Phải gặp mẹ tôi. Vì sao mẹ
tôi không nhắc đến chuyện ba tôi sắp về?
Rất ít khi tôi dừng
lại ở lầu hai này. Đây là giang sơn của mẹ. Mẹ tôi là một người kín đáo. Kín
đáo cả với con cái. Mẹ để mặc tôi lớn lên với bạn bè. Tôi cần gì thì mẹ cho nấy:
giày mới, áo mới, bút tập mới. So với sự thiếu thốn của lũ bạn có lý lịch yếu
kém như tôi, tôi quá đầy đủ, chỉ duy nhất lúc này đây, tôi mơ hồ cảm nhận được
tôi đã thiếu nhiều thứ mà lẽ ra mẹ tôi phải mang đến cho tôi. Cửa phòng mẹ im ỉm,
có cái gì im lặng khác thường. Tôi mở cửa bước vào, phòng trống không. Lần đầu
tiên tôi để ý đến căn phòng của mẹ. Bàn phấn bừa bộn đồ trang điểm, tủ quần áo
mở toang, và những chiếc áo đầm lẫn áo ngủ rất điệu treo lộn xộn cạnh nhau. Mẹ
tôi thích hoa hồng, loại hoa tôi ghét nhất, lúc nào cũng có một bình to trong
phòng, cạnh cửa sổ.
Trên bậu cửa là
hình mẹ ngồi vắt đôi chân dài lên nhau, không khác gì một tài tử xi nê nổi tiếng.
Tóc mẹ dài, dợn sóng, ôm lấy bờ vai. Mẹ đẹp tuyệt trần. Đẹp đến nổi bình hoa hồng
kia bỗng trở nên tẻ nhạt, được cắm vào đấy chỉ để chờ ngày khô héo, mang vứt
đi, còn mẹ trong tấm hình kia thì trẻ trung sống động, mãi mãi tươi mát.
Tôi bước ra ban
công, ngồi phịch xuống cái ghế còn ướt nước mưa, trông ngóng mẹ. Mặt trời đã lặn
không biết từ bao giờ, bóng tối bao phủ cả khu xóm. Tôi ngồi yên lặng như thế
và lần đầu tiên tôi tự hỏi mẹ tôi đang ở đâu. Vì sao tôi chưa bao giờ thắc mắc
mẹ tôi đang ở đâu, bao giờ về nhà, và ngược lại, mẹ cũng chẳng bao giờ thắc mắc
tôi đi đâu, làm gì, có về nhà hay không. Vì sao nhỉ? Vì sao mấy đứa bạn của tôi
đều đi thưa về trình?
Tôi trở vào phòng
và thả mình xuống chiếc giường của mẹ. Mùi thơm của phấn hoa còn phảng phất
trong chăn gối đưa tôi vào một giấc ngủ kỳ dị.
Khi tôi thức dậy
mặt trời đã lên, nắng buổi sáng chiếu vào cửa sổ, xuyên qua bình hoa hồng, rọi
vào mắt tôi. Thoạt đầu tôi không biết mình đang ở đâu, cảm giác là lạ, phải mất
vài giây tôi mới nhận ra căn phòng của mẹ, căn phòng tối qua tôi đã “đột nhập”
và ngủ quên. Vậy là đêm mẹ không về. Mẹ đi đâu nhỉ?
Trở về phòng
mình, tấm hình ba mẹ vẫn còn nằm trên giường khiến tôi có cảm giác như đêm qua
tôi đã sang phòng khác ngủ, và nhường phòng này cho họ. Nếu ba tôi trở về, họ
có còn nằm với nhau trên cùng một cái giường không nhỉ? Vì sao tôi lại có câu hỏi
này? Có điều gì đó mơ hồ khiến tôi nghĩ là không. Mỗi lần nhìn thấy mẹ, tôi
luôn hình dung đến các đồng chí bạn mẹ. Gọi là đồng chí vì bạn bè của mẹ tôi
toàn cán bộ cao cấp, và tất cả đều là “đồng chí”. Giữa đám đồng chí già và mập
phệ kia, thì đồng chí mẹ của tôi là một đồng chí cực kỳ xinh đẹp còn sót lại từ
chế độ đồi trụy. Những ý nghĩ miên man về ba mẹ cứ như thế trôi qua trong đầu
tôi suốt một buổi sáng. Tôi đánh răng, rửa mặt, thay quần áo, điểm tâm trong một
trạng thái lẫn thẩn như thế cho đến khi mẹ tôi xuất hiện.
Mẹ tôi đứng đó, mệt
mỏi bơ phờ sau một đêm không về nhà. Như một nàng tiên đi lạc, tóc mẹ chải cẩu
thả và quần áo cũng không chỉnh tề như khi mẹ rời nhà. Chắc là tôi đã nhìn mẹ
như thế nào đấy khiến mẹ bực mình. Mẹ quăng cái ví lên giường tôi, và như thường
lệ, mẹ hỏi cho có: “mọi chuyện có ổn không?”. Tôi im lặng. Thật sự có ổn không
tôi cũng không biết nữa. Ba sắp về, dĩ nhiên đó là 1 tin vui, nhưng có ổn
không? Tôi không sao cất lên được một tiếng trả lời. Mẹ nhổm dậy: “Con có cần
tiền tháng này chưa? Tiền ăn sáng, ăn trưa, còn không?” Tôi gật đầu: “còn đến cả
tháng nữa lận mẹ”. Mẹ lại nằm xuống, và cuối cùng, cái câu ấy cũng được bật lên
với ánh mắt hướng ra ngoài cửa sổ như nuối tiếc đời sống ngoài kia: “Ba sắp về”.
Ba tôi trở về. Một
buổi chiều chạng vạng tối, một người đàn ông ốm yếu, gầy gò lay mạnh cánh cửa sắt
nhà tôi. Chị Hằng phụ mẹ sửa quần áo, đang gom lại mớ đồ may dở cho một đám cưới
hàng xóm, lật đật ngó ra. Tiếng mẹ tôi bình tĩnh: Có phải ông ấy không? Tôi chết
sững vì câu hỏi của mẹ, và thêm nhiều năm sau đó, tôi vẫn không tài nào tin nổi
vào câu hỏi ấy. Chị Hằng gật đầu, chắc vậy. Em mở cửa nhé. Mẹ tôi đứng dậy, vuốt
lại mái tóc, bước ra với xâu chìa khóa. Tôi yên lặng bất động. Mẹ kéo cánh cửa
sắt, khi tiếng cửa khô dầu lâu ngày rít lên như một tiếng còi, tôi mới như người
sực tỉnh. Một sự chới với không hiểu ở đâu ra, như khi còn bé tôi tuột tay té từ
bậu cửa sổ rớt thỏm xuống chậu cây, tôi gào to: “Bà ơi! Nội ơi! Ba về”. Tiếng
gào của tôi như một tiếng kêu cứu, tiếng kêu của tuyệt vọng lẫn bất mãn. Tôi
chưa bao giờ kêu bà tôi, gần như chẳng bao giờ buồn chú ý đến bà, nhưng ngay
lúc này, không biết vì lý do gì tôi gọi bà thống thiết đến thế. Tiếng kêu của
tôi khiến cả ba và mẹ đều khựng lại, ngó dáo dác, và bà tôi chạy ra.
Thật là một vị cứu
tinh. Bà tôi ôm chầm lấy ba tôi, khóc nức nở.
Thế chứ. Phải có
một chút tiếng khóc trong ngày xum họp, tiếng khóc mừng tủi. Bà khóc như muốn
trút hết mọi bí mật đã giữ trong căn phòng lúc nào cũng đóng kín cửa kia. Mẹ
tôi đứng lặng lẽ, gương mặt xinh đẹp bỗng trở nên đáng sợ, như từ một cõi âm hiện
về. Mái tóc gợn sóng của mẹ cột lại phía sau lưng, ôm gọn gương mặt, ấp ủ một sự
lạnh lẽo toát ra từ đôi ngươi. Cái ánh sáng đang phát ra từ đôi ngươi ấy chính
là tất cả về mẹ, một người mẹ tôi chưa từng quen biết. Người đàn ông được gọi
là ba nhìn sang tôi, nói một cách miễn cưỡng: con lớn quá. Tôi chưa kịp phản ứng
thì….phựt, cúp điện. Căn nhà chìm trong bóng tối. Có lẽ tất cả chúng tôi đều cảm
thấy nhẹ nhõm vì cái bóng tối đột ngột này. Mẹ tôi gọi chị Hằng thắp đèn, và
như tìm được lối thoát: “Cả nhà ra ngoài ăn nhé. Cúp điện rồi. Anh có mệt
không? Quán ăn ngay đầu đường thôi”, mẹ tôi nói bằng một giọng cố gắng khác thường.
Tôi lợi dụng bóng tối, tìm nắm bàn tay ba. Bàn tay khô và xương xẩu, bất động.
Bàn tay tôi cố nắm thêm chút nữa, cố làm quen, nhưng năm ngón tay ấy không đáp ứng,
hoàn toàn xa lạ. Tôi rút tay về, cho vào túi quần. À, thì ra, bọn họ đều là những
người vô cảm. Hèn gì họ đã thành vợ chồng, và khốn nạn thay, lại cùng nhau sinh
ra tôi.
Mẹ tôi trở lại
làm chủ tình thế, đưa ba tôi lên phòng thay quần áo. Tôi được sai đi gọi anh
Hai khi cả nhà chuẩn bị họp mặt ở quán ăn chị Lý đầu đường. Chạy lên đến lầu
Tư, gõ cửa ầm ầm vẫn không thấy ai mở cửa, tôi lại chạy ngược xuống, đến quán
cà phê sâu trong hẻm tìm. Quả nhiên anh tôi ngồi đấy, ngồi dưới thềm gạch của
quán mà hai chân vắt trên ghế đẩu. Tôi thở hổn hển: “Anh Hai, Ba về rồi”. Lại
thêm một lần nữa tôi sững người vì sự thờ ơ của anh tôi. Anh tôi ngồi im, chẳng
một cử động, điếu thuốc mới học được của mấy thằng bạn mất dạy ngậm trên môi:
“Tao không về. Mày về đi”. Chuyện gì đây? Chỉ mới một buổi chiều, mà cả thế giới
như thay đổi. Tôi ngồi phịch xuống cạnh anh tôi, bỗng nhiên cũng muốn hút một
điếu thuốc, muốn ngồi đây với thằng anh cô hồn này, không trở về “họp mặt gia
đình” ở quán ăn nữa. Tôi rã rời, yên lặng. Bây giờ thì đến phiên anh tôi cử động,
bằng một giọng uể oải, anh tôi nói: “Tao gặp ba rồi. Gặp ở bến xe. Mày không thấy
ổng đang mặc cái quần của tao sao?” Lại nữa, còn thế nữa. Mệt mỏi, tôi mất cả
tính tò mò. Anh tôi tiếp: “Chẳng thà ổng ở mẹ nó trong tù, về làm chó gì. Tao
nói ổng trở lại tù ngồi đi mà sao ổng còn về chi nữa”.
Tôi đứng dậy, rảo
bước, không hề định hướng. Một sự kinh hãi bao trùm thành phố. Bóng đêm như đồng
lõa, như ngầm báo cho tôi biết điều gì đấy rất man rợ đang xảy ra trong thành
phố này, ùa ra từ căn nhà của tôi. Cúp điện, mọi người kéo ghế ngồi trước hiên,
phố xá được quan sát bởi hàng trăm con mắt nhìn ra từ bóng tối. Tiếng chó sủa,
tiếng xe cộ, tiếng chân người, tiếng gió thổi những tấm bạt nơi các quán ăn lề
đường, mùi tanh cuốn lên từ lòng sông Sài Gòn, mùi nhựa nóng của mặt đường sót
lại từ ban ngày, và tất cả những mùi vị từ ký ức, từ những cuốn album gia đình
cũ kỹ, mốc meo nằm trong phòng Nội…Tôi đi về hướng dòng sông, chỗ có tượng ông
Trần Hưng Đạo chỉ qua hướng bên kia sông. Bên kia sông là Thủ Thiêm, bụi đất và
những căn nhà lụp xụp nghèo nàn, chẳng có gì để chỉ chỏ. Tôi ngồi thụp xuống dưới
chân ông. Bức tượng bằng đồng đen, lạnh lẽo, vẫn kiên trì đưa tay chỉ hướng qua
sông.
Đêm hôm đó tôi đã
ngủ lại nhà con bạn Mỹ Ngụy. Tôi nằm chờ trời sáng, và tưởng tượng ra cảnh bà Nội,
ba, mẹ ngồi ở quán ăn chờ anh em tôi. Có chờ không nhỉ? Tôi thắc mắc một hồi và
ngủ thiếp đi. Trong giấc ngủ tôi vẫn còn nghe rất nhiều tiếng động từ buổi chiều
tối sót lại.
Những chuỗi ngày
kế tiếp là những chuỗi ngày khủng khiếp nhất của gia đình tôi. Cả hai đứa bạn
thân của tôi ví rằng gia đình tôi đang trãi qua một cuộc chiến tranh chống Mỹ
Ngụy “còn sót lại”. Hậu chiến tranh. Bố tôi chọn một căn phòng lầu bốn, cùng tầng
với anh Hai. Anh Hai tôi lúc nào cũng lầm lì, chẳng ai hiểu được anh đang nghĩ
gì, làm gì. Anh chẳng bênh bố, cũng chẳng bênh mẹ, thậm chí còn khinh bỉ cả
hai, luôn ném cho họï một cái nhìn miệt thị. Bố đi cửa sau, mẹ đi cửa trước. Thỉnh
thoảng họ đụng nhau trước cửa phòng Nội, chỗ được con bạn Mỹ Ngụy của tôi gọi
là “mặt trận” kèm theo một câu chua chát: “Cuộc chiến cứu nước này Cách Mạng sẽ
thắng. Mỹ Ngụy phải cút. Mày cắm sẵng lá cờ đỏ sao vàng ở đây đi”. Tôi biết, nó
cho rằng ba tôi và bà Nội là phe Mỹ Ngụy, mẹ tôi và những đồng chí bạn mẹ là
Cách Mạng. Còn đứa bạn Cách Mạng chân chính thì im lặng. Chúng tôi cũng đã cãi
cọ quá nhiều về chuyện này, nên nó không buồn nói nữa. Nó vẫn tin vào Bác và Đảng,
vào sự công bằng, và nếu có gì bất công xảy ra, là vì sơ suất. Nó lấy gia đình
tôi ra làm mẫu, một gia đình Mỹ Ngụy có ba đã từng làm phi công, mà theo nó, đã
bỏ bom miền Bắc, được Đảng cho đi học tập cải tạo, trong thời gian “tu học” còn
được nuôi ăn, nuôi ở, vợ con vẫn được sống yên ổn trong căn nhà bốn tầng sang
trọng này. Đó là một sự khoan hồng chỉ có ở Thiên Đường. Con bạn Mỹ Ngụy của
tôi suýt tý nữa đã ném con bạn Cách Mạng từ lầu thượng xuống, tôi phải giảng
hòa và sau trận chiến ấy, chúng tôi hứa sẽ không bao giờ nhắc đến quan niệm
chính trị nữa. Đề tài mới của chúng tôi, rất thích hợp với lứa tuổi đang ngấp
nghé dậy thì, là Tình Yêu. Tình yêu muôn năm, bất diệt.
Nhưng bây giờ,
khi đối diện với ba mẹ, tôi hụt hẫng và nghi ngờ cái tình yêu muôn năm bất diệt
chúng tôi đã thêu dệt, mơ ước. Hình như nó thuộc về cái thế giới xưa cũõ đã được
gói kỹ trong những cuốn album trắng đen chỉ còn lại ở phòng Nội, cái thế giới
mang một vẻ đẹp hão huyền tư sản.…Những tấm hình thời ba mẹ mới quen nhau, đẹp
như tài tử giai nhân, lúc nào cũng tay trong tay, mắt nhìn mắt…Rồi những tấm
hình họ cùng bế anh Hai, rồi bế tôi. Ba tôi ôm vòng qua mẹ, mẹ ôm vòng qua anh
Hai và tôi. Tôi nhớ lại gương mặt xa lạ và gầy gò của ba tôi hôm trở về, và bàn
tay xương xẩu. Chính bàn tay ấy đã ôm cả mẹ và chúng tôi để chụp ảnh, mà hôm
tôi mò lại gần nó, nó hoàn toàn bất động. Còn mẹ tôi, ngoài những lần ôm tôi và
anh Hai trong bức ảnh cũ, bà chưa bao giờ ôm nựng tôi, hay ít nhất là một cái
vuốt tóc. Khi nhận ra điều này, tôi bỗng thấy thèm một cái ôm biết mấy! Từ lúc
tôi có trí nhớ đến giờ, tôi nhớ rằng chẳng ai ôm tôi. Cái ôm có thật sự quan trọng
không? Người ta sống có cần được ôm một cái, bá vai một cái trong tuần không?
Tôi đã hỏi con bạn Cách Mạng của tôi điều này, và đề nghị nó ôm tôi thật chặt,
nhưng nó giương mắt nhìn tôi, bảo: Trừ khi mày đổi giống. Con bạn Mỹ Ngụy kia
thì vẫn sử dụng cái giọng ai oán hàng ngày của nó: “Thời buổi này ôm cũng là thứ
xa xỉ phẩm, thứ Mỹ Ngụy để lại. Chẳng ai ôm để sống hết. Chúng ta lao động để sống.
Lao động là vinh quang, nghĩa trang là kết quả. Gia đình tao sống bằng bo bo”.
Gia đình tôi
không đến nỗi sống bằng bo bo. Chúng tôi sống nhờ căn nhà bốn tầng ba để lại,
và nhờ tài ngoại giao của mẹ. Tôi muốn nghĩ như thế, giản dị như thế, nhưng
trong một buổi tối, sau giờ cơm mọi sự đã được đặt lên bàn một cách trắng trợn.
Bắt đầu từ bà Nội, bà bỗng nhiên cất tiếng, cái tiếng già cỗi run run ít khi có
dịp lọt ra khỏi cổ họng: “Cô muốn mẹ con tôi đi đâu? Cô định chia căn nhà này
như thế nào”. Mẹ tôi, vẫn giữ sự lạnh lẽo cố hữu: “Thưa mẹ, nhà này của mẹ chứ
có phải của con, nhưng giữ được nó đến hôm nay là nhờ con. Bây giờ thì con cũng
không biết có giữ được hay không. Anh Ba và bạn bè đang cố gắng lo giấy tờ,
nhưng con nghĩ nhiều phần là không ổn, khó khăn lắm”. Anh Hai tôi, gương mặt rất
cô hồn, gõ gõ cái muỗng vào mặt bàn, gật gù: “Đúng, hoàn toàn do công của mẹ giữ
nhà”. Bỗng Nội tôi bất thần gào lên: “Do công của cô ngủ với Cán Bộ chứ gì”. Mẹ
tôi hướng cái nhìn về ba tôi, thản nhiên: “Nếu tôi không ngủ với cán bộ, thì
chúng ta sống được như thế này hay sao? Còn anh? Ở trong tù anh cũng đâu phải ở
yên. Không phải anh quen một con đĩ ở đấy à? Thế bây giờ nó ở đâu? Không phải
anh đang giấu nó trên lầu bốn nhà này ư? Anh nói đi! Có không? Tôi phá cửa
phòng anh ngay bây giờ đấy!”
Tôi rụng rời chân
tay, cổ họng như bị nghẹn. Mẹ tôi vẫn ngủ với những đồng chí hay lui tới đây.
Tôi nghĩ ngay đến bác Ba. Còn ba tôi đang giấu một “con đĩ’ trên phòng của ông
ta. Tại sao tôi không hay biết gì, và căn nhà này sắp mất. Tôi chưa kịp định thần
thì mẹ tôi và chị Hằng đã cầm búa chạy lên lầu, ba tôi chạy theo, tôi và anh
Hai cũng nhào theo họ. Mẹ tôi đập cái búa vào ổ khoá, đập muốn nát cả cánh cửa.
Mặt bà méo mó, xanh ngét, đầm đìa mồ hôi. Ba tôi nhào lại, họ vật nhau, cào cấu,
cho đến lúc anh Hai tôi nhảy vào kéo mẹ ra, đẩy vào phòng anh và khóa cửa lại.
Sau cánh cửa, mẹ vẫn rủa xả ba không tiếc lời. Ba tôi lẳng lặng mở cửa phòng
mình và đóng sầm lại trước mặt chúng tôi, không một lời hay ngay cả một cái
nhìn cho con cái.
Tôi vẫn không hết
kinh hoàng, và gần như không chịu nổi, tôi chạy ra khỏi nhà, đập cửa nhà con bạn
Mỹ Ngụy. Nó tiếp đãi tôi bằng một sự im lặng khác thường. Chúng tôi leo tít lên
mái nhà. Tôi bắt đầu khóc. Con bạn Mỹ Ngụy của tôi kéo tôi lại gần, và lần đầu
tiên, nó ôm tôi thật chặt. Đêm đó chúng tôi trải mền, lựa một góc khuất gió và
nằm ngủ trên mái nhà. Nó nằm ngửa, tay gối đầu, nhìn trời nói: “tất cả nỗi buồn
đều có thể chôn vào bầu trời, gửi vào một ngôi sao để bầu trời thêm lấp lánh”.
Nó làm tôi phì cười. Tôi hỏi nó: “lớn lên mày làm gì?’ Nó im lặng một hồi rồi
nói: “Tao muốn thành thi sĩ, như bố mẹ tao. Nhưng thời buổi này không có chỗ
cho thi sĩ, nhất là thi sĩ con nhà Mỹ ngụy như tao, chỉ có thứ Nghệ Sĩ Nhân
Dân. Nhưng không làm thi sĩ thì tao biết làm gì? Còn mày?” Tôi trả lời không do
dự: “Nếu muốn như bố mẹ mình thì tao sẽ thành con đĩ. Mẹ tao chẳng khác một con
đĩ. Tao cũng sẽ thành đĩ”. Nó gật gù: “Cũng không hẳn tệ đâu. Mày có nhan sắc.
Với lại thi sĩ và con đĩ thời nay cũng chẳng khác gì nhau, cùng một vần i”. Tôi
đã quen với lối nói chuyện của con bạn này, và tôi thấy khắn khít với nó cũng
chính vì cái lối xấc xược chua cay ấy. Nó cho tôi nhìn thấy chuyện gia đình
mình cũng chỉ là một chuyện bi đát trong một biển người bi đát, thế thôi. Chúng
tôi ôm nhau ngủ dưới bầu trời và ánh trăng. Lần đầu tiên ngủ trên mái nhà,
chúng tôi nằm co ro, để yên cho bóng đêm và bầu trời sâu thẳm trên kia làm dịu
lại những vết thương trong ngày.
Tôi thức dậy rất
sớm, mà bạn tôi còn sớm hơn nữa. Nó cho tôi biết đêm qua có con mèo hoang đến
đây ngủ chung, rồi nó kết luận: “Thời nay mèo cũng sợ bóng tối”. Tôi không nói
với nó, nhưng tôi cảm thấy mình cũng chính là con mèo hoang đêm qua. Con bạn
tôi giục: “về nhà đi, soạn cặp vở rồi đến trường”. Tôi lưỡng lự: “hay mình ra bờ
sông, tìm cái gì ăn sáng, trưa trưa về nhà. Đi học buổi chiều thôi, buổi sáng
cúp được không?” Nó đồng ý ngay, chẳng một chút do dự. Nó cũng chán trường học,
cũng như chán “thời nay”, cái chữ luôn dính ở đầu lưỡi nó. Chúng tôi đi ra bờ
sông, chỗ tượng ông Trần Hưng Đạo. Tìm một gánh hàng rong nào ra trò đi chứ. Nó
bảo thế nhưng vẫn như mọi khi, đầy vẻ mỉa mai, miệng lẩm bẩm hát bài ca ruột của
nĩ mỗi lần chúng tơi đến đây: “Đây Bạch Đằng Giang sơng hùng dũng của nịi giống
tiên rồng, giống Lạc Hồng giống anh hùng Nam Bắc Trung…”
Cuối cùng chúng
tôi cũng ghé được một xe hủ tiếu lề đường, ngồi xuống. Chưa bao giờ ra bờ sông
sớm như thế, tôi thấy mọi vật đều mới mẻ và yên lành. Ước gì buổi sáng đừng
trôi qua!
Trưa, mặt trời đứng
bóng, chúng tôi rảo bộ về nhà. Sắp sửa đối diện với những gương mặt ấy, và đời
sống thường nhật, lớp học buổi chiều….tôi thấy lòng nặng trĩu. Có lẽ con bạn
tôi cũng thế. Nó có vẻ bất an, chán nản. Trong cặp táp của nó tôi chẳng lạ gì,
không bao giờ có một cuốn tập nào ra hồn, và bài vở chẳng bao giờ làm xong, chỉ
toàn thơ với thẩn. Chẳng hiểu sao nó vẫn lên lớp đều đều cùng với chúng
tôi…Đang miên man suy nghĩ, bỗng con bạn tôi kêu lên một tiếng thảng thốt. Nó
chỉ về hướng nhà tôi, và theo cánh tay gầy gò của nó, tôi nhìn thấy một cảnh tượng
thật khủng khiếp: Ba tôi đang ra sức cởi trói cho một người đàn bà tóc tai rũ
rượi, không một mảnh vải che thân, bị cột chặt vào gốc cây sứ trước nhà. Ông bế
thốc bà ta lên, dùng áo mình và thân người cuộn chặt bà ta, nhảy lên một chiếc
xích lô. Anh Hai tôi giữ chặt mẹ. Các bà bạn mẹ tôi đang đứng cạnh, mặt mày hăm
hở, náo nức. Tôi chạy vội đến. Gốc cây đầy máu, còn lại bó dây thừng. Mẹ tôi ngồi
im, mặt tái nhợt. Chẳng mấy chốc tôi đã hiểu được sự tình: buổi sáng hôm ấy khi
chúng tôi còn ở bờ sông thì mẹ tôi và một số bạn bè, nhân lúc ba ra ngoài mua
thức ăn, đã đập nốt cánh cửa đã sứt mẻ ở phòng ba và lôi người đàn bà kia ra
thanh toán. Họ đánh bà ta tơi tả suýt chết và mẹ tôi chính tay trói bà ta ở cây
sứ trước nhà để cảnh cáo ba tôi.
Ba tôi đi rồi. Bà
Nội chui vào phòng khóa cửa. Đám đông hết chuyện vui, giải tán. Tôi đứng im rất
lâu nhìn mẹ: một cảm giác chán nản và thương hại dâng lên khiến tôi ứa nước mắt.
Vì sao mẹ đánh ghen nhỉ? Mẹ chẳng hề yêu ba, và mẹ cũng đã công khai đi với bác
Ba kia mà. Mẹ ngủ với kẻ thù của ba, với những kẻ thắng trận, những anh hùng
cách mạng, ba trở về ốm o gầy mòn cùng với một người phụ nữ quen được ở trại cải
tạo. Họ đã yêu nhau suốt những năm tháng khổ cực tù đày, mà suốt những năm
tháng ấy, mẹ tôi không ngừng ngủ hết đồng chí này đến đồng chí nọ, và sống như
một bà hoàng trong căn nhà của ba để lại. Tại sao họ không để yên cho nhau sống?
Tôi có cảm tưởng mẹ tôi rất vui lòng để yên cho họ yêu nhau trong ngục tù,
không phải trong căn nhà này. Tôi mệt mỏi trở về phòng, con bạn tôi lẳng lặng
đi theo. Chúng tôi soạn cặp vở, tôi vét hết số tiền còn sót lại cho tháng, lấy
chiếc xe đạp, chở con bạn trở lại bờ sông. Chúng tôi mua hai ổ bánh mì ngồi gặm,
và chẳng nói nổi một lời. Cuối cùng, chúng tơi quyết định đến nhà con bạn Cách
Mạng. Con bạn Cách Mạng của tôi chỉ ở với ba, ba nó lại đi Liên Xô thường
xuyên, nên chúng tôi có hẳn một căn nhà riêng rẽ sang trọng. Tôi giam mình ở đấy
cả tuần lễ, và lần đầu tiên trong đời, chúng tôi uống hết tất cả rượu của ba
nó, cả bình rượu ngâm xác một con rắn nằm cuộn tròn, trừ nồi thịt chó là tôi và
con bạn Mỹ Ngụy không dám đụng vào, chỉ mỗi con bạn Cách Mạng của tôi thưởng thức
một cách “triệt để”. Sau tuần lễ chung sống, tình bạn chúng tôi trở nên khắn
khít tưởng như bất diệt, và con bạn Mỹ Ngụy của tôi có thêm được một kết luận nữa
trong kho tàng kinh nghiệm của nó: “Việt Cộng dù dể thương xinh đẹp đến mấy
cũng ăn thịt chó bạo tàn”.
Một tuần lễ kỳ lạ
trong đời: tôi như thấy mình mất sạch gia đình, cảm giác như vừa chạy khỏi một
căn nhà bốc cháy, và bà Nội, ba mẹ, anh Hai đã mất hút trong đám cháy ấy. Tôi
trở thành mồ côi, vô gia cư, đến đây tá túc và có hai con bạn thân an ủi vỗ về.
Dù vậy, tôi vẫn thấy mình đã cách xa hai đứa bạn thân này quá nhiều. Tôi như
già đi, già hơn bạn bè cùng trang lứa cả thế kỷ, mà không hiểu thế kỷ ấy đã từ
đâu nhảy ra, hay chỉ bắt đầu từ cái ngày xum họp của gia đình, ngày ba trở về.
Quả như lời mẹ
nói, căn nhà tôi ở đang được bàn giao. Nhà nước cần đến nó để phục vụ nhân dân
với giá mua lại phải chăng, do chính bác Ba đứng ra thu xếp. Bà Nội tôi thì cho
rằng đó là âm mưu của mẹ và bác Ba. Mẹ tôi vẫn cười lửng lơ với những câu xiên
xéo của Nội. Tôi cũng chẳng biết đâu thật, đâu giả, chỉ cảm thấy xung quanh
mình ai cũng như đang có âm mưu gì đấy. Chẳng có ai là ngay thẳng, kể cả người
sinh ra tôi. Thời gian này không còn ai màng đến ai. Tôi cũng chẳng màng đến
trường lớp.
Mùa Hạ sắp đến,
cái nóng như thúc dục gia đình tôi tan rã cho nhanh. Đầu tiên là giấy nhập ngũ
của anh Hai. Anh đứng trước mặt mẹ, nghiêng mình chào, và nhe răng thay cho một
nụ cười, mặt anh vênh váo: “Tôi sắp lên đường đi bộ đội, bù cho tội ác của ba với
nhân dân, với Đảng”. Mẹ tôi hỏi lại: “Thanh niên xung phong hay bộ đội?” Anh
đáp gọn lỏn: “Cùng thứ”. Tin thứ hai là giấy tờ xin đi Mỹ của ba tôi. Ba tôi
không muốn mang mẹ tôi theo, đòi làm giấy li dị. Điều này rất hợp ý mẹ tôi, bà
cần ly dị gấp để đi theo bác Ba, người đang lo ráo riết cho sự chia chát căn
nhà này. Ba tôi sẽ mang theo người đàn bà kia đi với mình. Còn lại tôi và bà Nội
hình như chẳng ai quan tâm đến. Nội tôi không còn bao nhiêu ngày tháng nữa, chắc
gì sống đến lúc ba tôi lên máy bay mà lo, nhưng tôi thì còn quá nhiều ngày
tháng, tôi sẽ ở đâu và sống như thế nào? Chẳng ai buồn nghĩ đến. Anh Hai lên đường
đi bộ đội, đến bất kỳ nơi chốn nào đấy, coi như yên dù là sự yên lành đi dần về
cái chết. Còn tôi, tôi đi về đâu? Suýt tí tôi cười rơi nước mắt vì cái câu hù dọa
của mình hôm ngủ trên mái nhà với con bạn Mỹ Ngụy: “Tôi sẽ trở thành con đĩ”.
Gia đình tôi tan
nát. Căn nhà chẳng biết chia chát ra sao, đã thành một đống gạch vụn. Mẹ tôi biến
mất theo bác Ba, hay ai đó tôi không rõ. Ba tôi mang bà Nội và người đàn bà kia
sang Thủ Thiêm, ở tạm nhà họ hàng, tìm đường đi Mỹ. Chẳng bao lâu thì bà tôi mất.
Anh Hai đi bộ đội, biệt tích, không còn liên lạc được. Có lẽ anh cũng có viết một
lá thư về chăng, nhưng chúng tôi đã không còn địa chỉ nữa, hoặc cũng có thể anh
đã trở về, không tìm thấy căn nhà và gia đình, và lại biệt tích. Ba mẹ tôi gửi
tôi ở trọ nhà một người bạn, mẹ tôi vẫn cung cấp tiền hàng tháng đều đặn, khi
thì do người này mang đến, khi thì do người kia, và rất ít khi là mẹ.
Trước ngày ba tôi
đi Mỹ, ông đến thăm tôi, đưa tôi một số tiền và một tấm ảnh của bà Nội, rồi sau
đó là mẹ tôi đến thăm. Lần này mẹ tôi đã thu xếp được cho tôi hẳn một căn nhà
nhỏ sâu trong một con hẻm, của riêng tôi, do tôi đứng tên hẳn hoi. Bà vẫn đẹp,
qua bao nhiêu biến cố xảy ra trong cuộc sống, gia đình, bà vẫn đẹp không suy
suyển. Gần như chẳng có gì, kể cả mất mát và bất hạnh, bao gồm cả sự ra đi của
hai đứa con do bà sinh ra, cũng không thể làm rung động hay hao mòn cái nhan sắc
ấy. Bà làm tôi nhớ đến pho tượng bằng đồng đen bên sông Sài Gòn, mưa nắng và
ngày tháng, đổi thay vẫn đứng yên không nhúc nhích. Tôi vẫn đi học, nhưng gần
như chỉ để gặp hai con bạn thân của mình, trường học không còn quan trọng nữa.
Tôi đón nhận mọi sự bằng thái độ lạnh lẽo mà tôi đã học được từ mẹ, chỉ trừ lần
đưa tiễn con bạn Mỹ Ngụy lên máy bay đi Mỹ với gia đình nó, và con bạn Cách Mạng
đi du học. Đó là hai lần duy nhất tôi khóc đến kiệt sức và cảm thấy mình hoàn
toàn trơ trọi.
Tuổi dậy thì trôi
qua. Tôi trở thành một thiếu nữ, xinh đẹp và thất nghiệp. Cuộc đời đưa đẩy thế
nào mà những lời bé con ngày xưa của tôi và con bạn Mỹ Ngụy đã trở nên linh hiển.
Tôi trở thành mẹ tôi, dần dần sống nhờ vào những đồng chí có tiền và chức sắc,
cũng là những người quen biết của bác Ba. Con bạn Mỹ Ngụy của tôi sang Mỹ, làm
báo, làm thơ, sống đời nghệ sĩ như bố mẹ nó. Ngày xưa, khi ba đứa chúng tôi ở với
nhau nơi nhà con bạn Cách Mạng, nó đã tuyên bố rằng nếu sau này không được ở một
xứ tự do, thì nó không bao giờ thèm trở thành nghệ sĩ, nó sẽ cạnh tranh với
tôi, chọn nghề nàng Kiều. Con bạn chua chát của tôi đã được toại nguyện, trở
thành một người viết lách ở xứ sở tự do, nơi ba tôi đang xây một tổ ấm mới, với
những đứa con mới. Còn tôi, tôi ở lại thay nó hành nghề nàng Kiều, và cũng là
nghề của mẹ tôi. Tôi thích nghĩ rằng những lời chúng tôi nói đêm nào trên mái
nhà, dưới ánh trăng sáng vằng vặc kia, có cả con mèo hoang làm chứng, đã linh
thiêng trở thành sự thật, hơn là nghĩ rằng tôi giống mẹ tôi, rằng dòng máu đang
chảy trong người tôi là dòng máu của mẹ.
Tôi chẳng còn gặp
ba tôi và anh Hai nữa. Hai đứa bạn thân cũng dần dần biến mất, không còn thư từ
qua lại. Mẹ tôi họa hoằng lắm mới đến thăm tôi, còn tôi thì không bao giờ bước
chân đến thăm mẹ. Càng lớn, tôi càng giống mẹ kỳ lạ. Từ gương mặt, dáng dấp, đến
cung cách. Chỉ còn mỗi một thứ tôi khác mẹ là tôi không bao giờ thích được hoa
hồng. Hoa hồng làm tôi nhớ đến ngày xum họp của gia đình, và mỗi khi nhìn thấy
một bó hoa hồng rực rỡ, tôi có cảm tưởng như gương mặt tôi biến đổi dần thành
gương mặt của mẹ, theo mùi hương hoa, tỏa ra một sự lạnh lẽo và độc ác. Song,
vì tôi làm cái nghề trong sạch mà bạn tôi đã đồng ý cùng chọn với tôi, cùng một
vần i với nghề của nó, nên tôi luôn nhận được hoa hồng, chưa bao giờ có một người
đàn ông nào tặng tôi một loại hoa khác.
Một buổi chiều
mưa tầm tả, tôi gặp lại anh Hai. Chúng tôi gặp nhau ở chỗ “làm việc” của tôi.
Anh bước vào tìm một cô, và tôi bước ra đón khách, nên chúng tôi tìm được nhau.
Lại thêm một ngày xum họp. Có lẽ do cả hai đã cùng trải qua cái ngày xum họp đầu
tiên kia, nên chúng tôi cùng mỉm cười. Anh tôi đi bộ đội về, còn nguyên lành
chân tay nhưng đầu óc đã kiệt quệ. Tôi đưa anh về nhà mình, lo cho anh một thời
gian trong lúc chờ đợi chạy chọt cho anh đi Mỹ. Từ ngày gặp lại, anh như một
người khác hẳn. Anh quyết tâm đi Mỹ, và nếu không đi được, có lẽ anh sẽ quyết
tâm chết. Ngày đưa tiễn anh, tôi đưa anh một lá thứ, dặn anh rằng nếu gặp được
hai con bạn của tôi, thì đưa cho nó.
Tôi viết cho hai
đứa bạn thân: “Tao nhớ hai mày lắm, vì ngoài hai đứa mày ra tao chẳng biết nhớ
ai. Tao có rất nhiều khách hàng, nhưng tao chỉ đủ sức nhớ đến cái tên của họ,
mà đôi lúc cũng không hẳn là nhớ đúng. Chúng mày ở đâu? Đừng viết thư cho tao,
nhận được những dòng này để biết là tao còn đây, cả ba chúng ta còn đây, và đứa
nào cũng đều sống được một cuộc sống xứng đáng với mình. Tao mừng vì cả ba đứa
chúng ta đều được hưởng trọn vẹn gia tài từ gia đình để lại: hai đứa mày một đứa
hưởng cái lý lịch con nhà Cách mạng, có điều kiện đi du học và lấy chồng, sinh
con ở đấy, một đứa hưởng được cái nghiệp viết lách của ba mẹ, trở thành nhà báo
ở một xứ sở tự do. Và tao, cũng đã có được một nghề rất xứng đáng với nhan sắc
thừa hưởng từ ba mẹ mình là nghề nàng Kiều. Tao thương ba đứa mình ghê!”
Không biết bạn
tôi có sẽ hiểu lầm rằng tôi chua chát không, nhưng tôi thật sự không chua chát
tí nào. Chua chát đã được con bạn Mỹ Ngụy của tôi độc quyền mua đứt. Tôi viết
những suy nghĩ chân thật từ đáy lòng mình, viết rất vội vàng, vì sợ không có dịp
nào nói được và gửi được cho tụi nó một lời chân thành như thế nữa, bởi tôi
cũng như mẹ tôi, mỗi ngày mỗi trở nên xa lạ, chắc hẳn không bao lâu tôi sẽ trở
thành một người đàn bà tôi chưa từng quen biết.
Chia tay anh Hai
xong, còn lại một mình, tôi bỗng thấy lòng thật nhẹ nhõm và vui vẻ. Tôi quyết định
chiều nay nghỉ làm một buổi, đi ra bờ sông, chỗ tượng ông Trần Hưng Đạo để tìm
một gánh hàng rong, hay gặm một ổ bánh mì, nhìn theo hướng tay ông chỉ. Ông vẫn
như xưa, vẫn kiên trì chỉ hướng qua sông. Biết đâu tôi cũng vẫn như xưa, vẫn ngồi
dưới chân ông, lắng nghe thành phố và con sông đang chuyển động.
Buổi chiều thật đẹp.
Tôi vẫy một chiếc xích lô, và bỗng thấy mình háo hức, nôn nóng gặp lại pho tượng
bằng đồng đen ấy.
Katrineholm, Thụy
Điển 1990
