Bức chân dung đen trắng không màu mè hoa mỹ của người phụ nữ, trong ngàn vạn phụ nữ vợ của lính, thời đất nước ngã nghiêng, họ đã chiến đấu, không súng, không đạn, không huy chương, không khen thưởng, tất cả cho chồng, lót đường cho con bước lên, để rồi, kết thúc như một vở hài kịch.
Được gặp lại chị, tôi vui mừng ôm chặt vai, vào sáng thứ Bảy,
tại tiền đường nhà thờ các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam, thuộc Tổng giáo phận
Seattle, trước thánh lễ Hôn Phối của người cháu gái gọi tôi bằng Dì, còn Chị,
bên họ nhà trai.
Tôi hỏi:
- Chị lên Oregon mấy ngày rồi, anh đâu hả chị? Để em tới
chào anh một tiếng.
Chị trả lời:
- Ờ! Ờ! Anh không có đây, vào nhà thờ đã.
Câu trả lời của chị có chút chi không tự nhiên. Tôi đi theo
chị vào nhà thờ. Hai chị em ngồi cùng băng ghế dành cho thân nhân. Thánh lễ Hôn
Phối của hai cháu hoàn tất sau chín giờ sáng, tiệc rượu mừng được tổ chức buổi
trưa tại nhà hàng, vì họ nhà trai ở Portland, tiểu bang Oregon lên. Thời gian
còn rất dài, tôi mời chị về nhà tôi chơi, chờ tới giờ ra nhà hàng dự
tiệc.
Tôi mời chị ấm trà hoa cúc. Chị ngồi đối diện tôi ở
góc ghế sofa. Qua loa vài câu thăm hỏi, rồi chị nhập đề, say sưa chiếu lại cuốn
phim, mà chắc bị ức chế nhiều năm chưa cơ hội trình chiếu, bộ phim dài,
nhiều tập, chiếu về anh, về việc khốn khó của chị, và đoạn kết bộ phim,
những hy sinh của người vợ được bù đắp, một nỗi đau xé lòng. Nghe chị kể, mặt
tôi nóng bừng, lòng bực bội, tội nghiệp chị quá.
Tôi xin phép chị cho tôi được viết lại việc làm vợ của chị.
Chị đồng ý, nói:
- Viết xong cho chị đọc với nghe.
Tôi trả lời:
-Dạ Chị.
Bắt đầu câu chuyện.
Tiếng gõ cửa dồn dập, anh Phát nhìn qua khe cửa sổ, rồi
mở hé cánh cửa cho Vũ vào, bầu khí gia đình ngột ngạt nặng nề, chị Oanh đặt
ngón tay lên miệng ra dấu im lặng. Vũ liếc quanh không thấy mẹ, vợ,
và hai con. Đoán được ý của Vũ, chị Oanh nói nhỏ:
- Mạ mới đưa cháu vô dỗ ngủ, em ngoài nớ vô hà? Em đã ăn chi
chưa?
Vũ trả lời:
- Dạ! Ngoài nớ vô, em không đói, mạ trong nớ, rứa vợ
em mô rồi chị?
Anh Phát và chị Oanh nhìn nhau không nói, giác quan thứ sáu
của Vũ báo động, chuyện chẳng vui đang chờ. Vũ mệt mỏi ngã dài trên nền ca
rô phòng khách nằm đợi câu trả lời, trong sự hồi hộp lo âu. Vũ suy nghĩ,
bây giờ chị Oanh nói cũng được không nói cũng được, vì Vũ đoán biết đáp số bài
toán này, chỉ cầu mong là chuyện lành.
Chị Oanh khẽ nói:
- Duyên để lại bé Thơ cho Mạ, ẵm cu Lâm theo gia đình nhà
bên cạnh, ra bến Bạch Đằng đi từ hôm đó, không biết ra răng, một vài người quay
về nói, họ lên tàu thủy đi ngoại quốc cả rồi.
Vũ vui mừng nói:
- Rứa hả chị! Một chọn lựa sáng suốt, tại sao anh chị không
đi ở lại đây làm chi?
Chị Oanh không trả lời câu hỏi mà theo giỏi tâm thái của cậu
em, chị biết miệng nói rứa nhưng chắc Vũ đang buồn lắm. Người ta nói “nước
mất nhà tan” quả không sai.
Vũ đứng lên nhẹ bước vào phòng ngủ, đứng lặng nhìn Mẹ rồi
nhìn con, xót xa suy nghĩ, sáu tháng tuổi, bú mớm thế nào, hai vợ chồng tích
cóp đồng nào đưa vô ngân hàng đồng đó, bây giờ lấy chi trang trải cuộc sống
hàng ngày cho Mẹ và con nhỏ. Thân phận người lính bại trận, nhìn về phía trước
là một khoảng trời mênh mông u tối.
Vũ trở ra phòng khách, anh chị Phát ngồi trầm ngâm nhìn lên
bàn thờ có lẽ đang cầu nguyện, một lát anh Phát nói:
- Lệnh gọi trình diện học tập 10 ngày, mấy hôm nay anh chần
chừ chưa đi, bây giờ có Cậu vào, luôn thể ngày mai anh em mình cùng đi trình diện,
có anh có em an tâm hơn.
Chị Oanh nói:
- Chính sách chung mà, ở đây hay ngoài nớ, mô cũng phải đi học
tập, chỉ 10 ngày thôi, mai Cậu và anh Phát đi trình diện đừng để quá trễ mà rắc
rối, Cậu yên tâm Mạ và bé Thơ chị sẽ lo.
Vũ lấy chùm chìa khóa giao cho chị Oanh nói:
- Đây là chìa khóa nhà ngoài nớ, em chỉ ghé qua nhìn nhà rồi
đi liền, khi đi em đã nhờ bác Hoàng coi giúp, em đưa chìa khóa cho chị, lỡ có
chuyện chi bất trắc mà xoay xở.
Hai anh em ra phường trình diện, cứ nghĩ, họ ghi danh sách,
sắp xếp lớp rồi về đợi ngày tập trung học tập, nào ngờ ghi tên xong là bị
đưa vô phòng đóng kín cửa. Một giờ sau đưa lên xe bít bùng chở về khám, không
biết mình bị giam khám nào, vì lên xe ở cửa phòng, rồi xuống xe đưa ngay vào
phòng, ngồi trên xe bít bùng không biết chạy đường nào. Mấy hôm sau cũng xe bít
bùng đưa ra sân ga, đoàn tàu dài, kéo toàn toa sắt đóng kín. Tất cả bị lùa lên,
tàu xập xình chạy, Sài Gòn không có đường sắt về miền Tây, chỉ có đường ra
Trung và Bắc, tàu ì à ì ạch chạy mấy ngày đêm, đứng lại nhiều ga, người ngồi
trong toa được gọi tên, rải rác xuống dọc đường, Vũ được gọi tên, xuống tàu ban
đêm, không biết ga nào, tàu đứng lại vài ba phút rồi tiếp tục chạy, từ đó hai
anh em mỗi người một nơi, núi rừng miền Bắc xa lạ không biết mình bị
dẫn đi đâu.
Chị Oanh thất thểu chạy nơi này qua nơi khác, dò la
tin tức hỏi thăm người quen, hỏi thăm bạn bè, ai cũng như ai cùng chung đại
họa, nước mắt lưng tròng cay đắng nhìn nhau. Ngày ngày chờ tin trong
khắc khoải âu lo. Cô nữ sinh hoa khôi trường Đồng Khánh, con nhà giàu, xếp sách
vở theo chồng ở tuổi mười chín, chưa khi nào đụng tay bất cứ việc
gì, bây giờ phải xắn cao tay áo, tập tễnh xông vào cuộc chiến kiếm
cơm.
Chồng và em trai được lệnh triệu tập đi học 10 ngày, 10 ngày
đã qua, họ biệt vô âm tín, bao nhiêu gia đình nhốn nháo chạy đầu này, đầu kia,
dò thăm tin tức, nhưng vẫn vô vọng. Thời gian nặng nề trôi, một tháng, năm
tháng, bảy tháng rồi một năm, chị mới nhận được tin nhắn, cậu Vũ ở trại tù
Thanh Cẩm, Thanh Hóa, Chồng ở tù trại Ba Sao, Hà Nam Ninh.
Chị vui mừng báo tin cho mẹ “Hai anh em chưa chết”. Chị chạy
quanh hỏi thăm cách đi thăm tù. Vừa về tới nhà, mẹ đưa tờ giấy của chính quyền
địa phương báo “nhà của chị bị trưng thu”, yêu cầu phải dọn ra trong vòng 30
ngày kể từ ngày nhận giấy báo. Cầm tờ giấy đuổi nhà trong tay, chị không mấy ngạc
nhiên, vì chị đã tình cờ gặp người bạn học cũ tại Sài Gòn, anh ta là một Phật Tử
thuần thành, anh ta lên Chùa Từ Đàm, rồi đi theo Việt Cộng năm Mậu Thân. Bây giờ
trở về không biết anh ta làm chức gì, chỉ thấy vai mang cặp da, người này cho
chị biết, theo chính sách, sớm hay muộn nhà của Sĩ Quan cấp Tá trở lên sẽ tịch
thu. Nghe tin ấy, mấy lâu nay chị đã từ từ thu xếp mọi chuyện, chuẩn bị trở
về quê, về mái ấm, nơi ông bà tổ tiên đã gầy dựng, nơi đong đầy bao nhiêu
kỷ niệm của thời con gái. Chị nôn nóng về gấp để đi thăm hai người tù. Về Huế
thì đoạn đường ra Bắc được thu ngắn hơn hai phần.
Bác Hoàng gái người hàng xóm coi giúp nhà, vui mừng đón mẹ
con chị từ đầu hẻm, bác nói:
- Mệ và Cô về cháu mừng quá, giữ nhà của mệ
không đơn giản, khô rát cổ họng trả lời với người ta, hôm nay đòi mượn, mai xin
cho ở tạm, mốt xin gửi sinh viên ở học. Họ mà vô trong nhà rồi lấy xà beng nạy
cũng không ra, đứa nào thấy nhà mệ cũng nuốt nước bọt. Cảnh sát khu vực, nay
hăm mai dọa. Hai mẹ con chị Oanh chỉ biết cúi đầu tạ ơn bác Hoàng gái. Mới
về ở được hai đêm, chưa dọn dẹp xong đồ đạc, đêm thứ ba Cảnh sát khu vực
đập cửa kiểm tra hộ khẩu, yêu cầu cho coi giấy tạm vắng. Chị trả lời:
- Anh đợi tôi vô lấy.
Chị vào phòng cầm ra tờ giấy nói:
- Giấy tạm vắng họ không cấp, họ đưa cho tôi giấy đuổi nhà,
yêu cầu trở về quê để lao động sản xuất. Chị giới thiệu:
- Đây là bà chủ nhà mạ của tôi.
Người Cảnh sát coi tờ giấy rồi bỏ đi. Vài ba hôm sau một
toán người, đàn ông, đàn bà, đến vận động bán nhà đi kinh tế mới. Chị ấm ớ
không trả lời, họ cho chị thời hạn suy nghĩ, sau một tuần họ sẽ trở lại. Họ đi
rồi chị ngồi xuống ghế, đắng cổ họng. Nhà mới dọn về chưa thu xếp xong, lại phải
đối đầu với những chuyện như thế này, chị quá mệt mỏi, áp lực nặng nề đè
lên người chị. Trong sự tột cùng, chị chỉ biết cầu nguyện, xin ơn trên soi
sáng.
Việc cần phải giải quyết trước nhất, là đi thăm chồng
và em trai, mọi chuyện xếp lại từ từ tính liệu sau. Đơn xin thăm
nuôi chính quyền địa phương trả lời: “Không giải quyết cho người tạm
trú”.
Một tuần đã qua, đoàn người hôm trước lại đến, hôm nay có cảnh
sát khu vực đi theo, chị vui vẻ đón tiếp miệng xuýt xoa:
- Thật xin lỗi nhà kẹt tiền quá phải bán bàn ghế, chưa sắm lại
kịp, để khỏi mất thì giờ của các anh chị, tôi xin trả lời việc bán nhà đi kinh
tế mới, theo chủ trương các anh chị đã thông báo hôm trước. Tôi xin thưa,
tôi không có quyền quyết định, tôi phải hỏi ý của em trai tôi vì đây là
nhà của Tổ Phụ, còn mạ tôi các anh chị đã thấy, bà không còn minh mẫn,
hôm qua tôi lên phường xin giấy phép thăm nuôi, để ra gặp cậu em bàn chuyện
bán nhà, nhưng không được giải quyết, lý do “không giải quyết cho gia đình
tạm trú”.
Sau khi nghe tôi trình bày, Cảnh sát khu vực hứa xem xét lại
giấy thăm nuôi , chị suy nghĩ “cá đã cắn câu”. Mấy ngày
lặn lội, vai xách nách mang, từ rừng núi Thanh Hóa ra núi rừng Hà Nam Ninh,
không cầm được nước mắt. Chỉ hơn một năm mà chị không còn nhận ra họ, tột cùng
khổ đau, hằn ghi lên thân xác khô gầy, trên khuôn mặt bọc lớp da nhăn nhúm, đôi
mắt trắng dẻ thụt sâu trong hốc xương, vòng mi thâm quầng. Chị báo sơ qua tình
hình sinh hoạt gia đình cho hai người biết, nhà ở Sài Gòn bị tịch thu, đã dọn ra
Huế được hai tháng rồi, mạ và ba nhóc đều khỏe, chị không nói chi về việc kinh
tế mới, vì không muốn đem âu lo đến cho chồng và em, chị tự tin sẽ giải quyết
êm xuôi mọi nan đề trước mắt.
Cuộc sống chật vật hơn sau chuyến đi Bắc về, chị đạp xe
quanh thành phố tìm nghề thích hợp kiếm cơm, cảnh sống chụp giật, một nói mười,
không nói có, chị không làm được. Chị chọn nghề đơn giản, ít vốn, học cách luộc
hột vịt lộn, chị bắt đầu bước xuống cuộc sống thành phố này bằng thúng hột vịt
lộn, với mấy bao thuốc lá bán lẻ, leo lét cây đèn dầu, tấm ni lông quấn cổ xoay
quanh người, khi che mưa, khi chắn gió, tại góc ngã ba đường, đêm hè oi bức
cũng như đêm đông mưa lạnh, ngồi còng lưng, tê nhức đầu gối, thâu đêm gà gáy để
bán cho xong 100 cái trứng lộn.
Vậy mà có được yên đâu. Số người hôm nọ lại đến, hoạnh họe đủ
điều, bắt chị phải bán nhà đi kinh tế mới, chị quyết liệt phản đối, vì khả
năng và sức lực của chị không thể phá rừng cuốc đất để nuôi ba đứa con nít và một
bà già, nếu không cho ở đây thì viết giấy trả chị trở lại Sài Gòn.
Họ nặng lời hăm dọa:
- Muốn người thân cải tạo mau về, thân nhân phải chấp hành
triệt để lệnh của chính quyền địa phương, hơn nửa gia đình của chị là gia đình
ác ôn, có nợ máu với nhân dân với cách mạng, chồng Sĩ Quan cấp Tá em là Biệt
kích, theo chính sách bắt buộc phải rời thành phố nếu không đi sẽ cưỡng chế.
Máu nóng sôi lên, chị đốp chát lại ngay:
- Là sĩ quan cấp Tá, bây giờ đang ở tù ngoài rừng núi Hà Nam
Ninh, là Biệt Kích cũng đang ở tù ngoài rừng Thanh Hóa. Nhà này của ba tôi, ông
ấy là một nhà giáo, chuyên dạy học, ông đã mất rồi, ông chẳng nợ nần gì với các
anh hết. Riêng tôi, tôi không tha thiết sống, nhưng không can đảm tự giết mình,
xin giúp giải phóng cuộc đời tôi, tôi sẵn sàng chết nơi đây. Hôm nay các anh chị
không giúp giải quyết mạng sống của tôi, thì ngày mai xin các anh chị hãy quên
tên tôi, đừng lui tới nhắc chuyện kinh tế mới, kinh tế cũ nữa. Còn ngôi nhà này
không phải nhà của tôi, mà nhà của ông thầy dạy học, ông không phải là Sĩ Quan
cấp tướng, cấp tá, nên ông không mắc nợ mắc nần gì với các anh chị hết.
Sau lần nói quyết liệt ấy, chị hồi hộp chờ kết quả, một
ngày, hai ngày, một tuần, một tháng, không nghe họ nói năng chi, vậy là
chặng đường gai góc đã vượt qua.
Cuộc sống đã tụt dốc đến tột cùng, nữ trang, áo, quần,
từ từ ra đi, tất cả dồn vào những chuyến thăm nuôi, mỗi năm thăm một lần, quay
qua quay lại, kỳ thăm nuôi nữa lại đến, một năm một lần thăm, không thể không
đi, chị là liều thuốc bình an của hai người, nhưng biết làm sao đây, nhà không
còn gì để bán, con nít mỗi năm một lớn, ăn nhiều hơn, chị quá vụng về không biết
làm chi ngoài việc hằng đêm ôm thúng trứng vịt lộn, với mấy gói thuốc lá lẻ, có
tối bán hết có tối không, một ngày ăn một bữa chị chịu được, nhưng ba đứa
nhỏ và mẹ già thì không thể, đành phải nhắm mắt ghé lại Trung Tâm Huyết Học đưa
tay vào cho họ lấy máu kiếm ít tiền như lần trước chị đã làm.
Thầy Huỳnh thắng xe gấp chạy nhanh vào Trung Tâm Huyết Học gọi:
- Chị Oanh.
Chị giật mình quay lại, thầy Huỳnh nói:
- Chị ra đây, em chở chị về.
Chị đành phải theo thầy Huỳnh rời nơi bán máu, đưa chị vào
sân, thầy dặn:
- Chị vô nhà đợi em một chút.
Mười lăm phút sau Thầy Huỳnh đưa bác Hoàng gái tới. Thầy
Huỳnh là con trai trưởng của bác Hoàng, bác Hoàng trai cũng đang ở tù tại trại
Bình Điền. Thầy Huỳnh là con đỡ đầu của Ba chị, thầy Huỳnh đang tu tại đại chủng
viện, vì ba đang tù cải tạo, nên chính quyền không cho tiếp tục tu học. Bị đuổi
về, thầy giỏi ngoại ngữ, nhờ người quen giới thiệu, làm công nhân thông dịch.
Bác Hoàng vào tới nhà, ôm vai chị
nói:
- Xin lỗi cô. Tôi nghe thầy Huỳnh nói mà giờ này tim tôi vẫn
còn đập, tôi bận lo quán cà phê, sáng đi sớm tối về khuya, lúc nào gặp cô cũng
thấy tươi cười cứ tưởng cô chống đỡ qua ngày được, đâu ngờ cô túng quẫn đến độ
phải đi bán máu. Người cô xanh xao khô đét như vậy còn máu mô mà đi bán, tội
nghiệp cô quá, cô đã bán mấy lần rồi, cô phải giữ gìn sức khỏe để lo cho ba đứa
nhỏ và mệ, răng cô liều dữ rứa, cần tiền thì nói với tôi, tiền đây cô cầm đi, cần
thêm thì cứ nói, đừng dại dột tới đó nữa nghe chưa.
Bác Hoàng dúi vào túi chị một nắm tiền, bác nói:
- Tôi cho cô mượn, khi nào dư dả thì hoàn lại, cô an tâm
không lẽ suốt kiếp này mình không ngóc đầu dậy nổi hay sao, lúc đó tôi sẽ tính
vốn lẫn lời.
Bác Hoàng nói tiếp:
- Việc bán hột vịt lộn bữa ni cô lấy ít lại bán tới 11
giờ đêm, hết còn chi cũng về nghỉ, bắt đầu ngày mai 5 sáng giờ cô lên quán phụ
giúp tôi, tới 11 giờ, về lo cơm nước cho cả nhà, chiều 2 giờ cô lên lại
phụ tôi một lúc đến 6 giờ cô về.
Chị đứng lên theo bác ra cửa nói:
- Em cám ơn bác đã lo lắng cho gia đình em.
Chuyến đi thăm tù lần này vội vàng hơn, vì khi đi gạo trong
hũ còn quá ít sợ bà cháu ở nhà đói. Vừa trở vô nhà, cu Tâm thỏ thẻ khoe:
- Mạ nờ! Mấy bữa ni bà ngoại cho tụi con ăn hai chén
cơm lận, sướng quá chừng.
Chị hỏi:
-Gạo mô mà bà ngoại nấu?
Cu Tâm nói:
-Mệ Hoàng đem qua cho bà ngoại, còn nửa, mấy đứa con bác Huỳnh
cũng cho kẹo, sướng ơi là sướng .
Hàng tuần đều đặn bác Hoàng gửi gạo. Chiều đi
làm về trên tay thầy Huỳnh lúc nào cũng gói kẹo, hay bao bánh, ngang qua nhà
đôi vô cho mấy đứa nhỏ. Chị không biết làm sao diễn đạt lòng biết ơn với
gia đình bác Hoàng . Họ là chiếc phao cứu tử, cứu gia đình chị sắp chìm.
Hằng đêm chị vẫn bưng thúng hột vịt lộn ra ngã ba ngồi bán, kiếm thêm tiền,
dồn vào việc thăm nuôi, nhờ gia đình bác Hoàng tận tình giúp đỡ, lòng chị
được bình an, đỡ lo lắng, chị lặng nhìn cây đèn dầu sáng heo hắt
bên thúng hột vịt lộn, chị rùng mình suy nghĩ không biết kiếp sống đọa
đày này còn bao lâu. Nhiều đêm bụng đói cồn cào, muốn ăn một cái trứng cho ấm bụng,
nhưng lại thôi, để dành bán kiếm vài ba hào, chắt chiu, dành dụm, thăm chồng,
thăm em.
Rồi chị nhận được giấy báo anh Phát được ra tù, yêu cầu
gia đình ra đón. Theo thông tin bên gia đình anh Phát cho biết, sở dĩ có trường
hợp đặc biệt này là nhờ sự can thiệp của người thân, làm quan lớn ngoài trung
ương, chị suy nghĩ có người thân làm quan to mà mấy năm nay không nghe ai nhắc
tới. Chị đưa tờ giấy báo cho bác Hoàng coi, bác cũng có suy nghĩ như chị, chắc
chắn có vấn đề, nếu bình thường được ra tù thì chạy ù về nhà mắc chi gia đình
phải đi đón.
Bác Hoàng nói:
- Để tôi bàn với Thầy Huỳnh, coi ý của thầy thế nào, nếu được,
nhờ thầy xin nghỉ vài ngày đi với cô, lỡ có chuyện chi, chị em người một tay,
chứ tôi thấy tình hình ni không xong rồi, lỡ chú nớ có chuyện chẳng lành mần
răng mà tính, không chừng ra mang xác về cũng nên.
Hai chị em vào khu thăm nuôi trình giấy ngồi chờ, một giờ
sau, hai người lính xốc nách một người, hay đúng hơn là một sinh vật lạ, đặt nằm
trên sạp tre, một người nói:
- Đây anh Nguyễn Mạnh Phát, chúng tôi giao cho gia
đình.
Chị cầm tờ giấy ra trại coi tên thì đúng là Nguyễn Mạnh
Phát. Nhưng không thể nhận ra con người thật của anh. Anh Phát may lắm chỉ còn
khoảng ba chục ki lô, toàn thân giống như tắm trong thùng sơn vàng kéo
ra, một thứ màu vàng khủng khiếp không dám nhìn lâu, miệng anh mấp máy muốn nói
gì nhưng không nói được. Nhờ có người nhà làm quan to trong trung ương đảng cộng
sản can thiệp, khối vàng này may mắn được đưa xác về chôn.
Đường từ trại tù ra quốc lộ quá xa, mà lại đường rừng,
không phương tiện. Thầy Huỳnh nói:
- Mình phải đi liền thôi cô à, bằng mọi cách đưa chú ra khỏi
đây đã, chú không nặng lắm đâu, hai chị em mình thay nhau cõng, đi được đoạn
nào hay đoạn đó gặp nhà dân tính sau.
Ban đầu thay nhau cõng còn gắng đi nỗi, càng về sau thì
không tài nào nhấc chân lên khỏi mặt đất được, cả ba cùng nằm lăn ra thở, một
bà chị đi ngang qua thấy cục vàng to tướng, nằm thoi thóp, có lẽ bà chị quen chứng
kiến cảnh này, chị mau miệng chỉ tới nhà người có cỗ xe trâu, thuê họ đưa ra
liên tỉnh lộ để đón xe.
Khổ này chưa qua khổ khác lại tới, về Huế Hai chị em mừng
quá sức, cõng cục vàng vô bệnh viện trung ương, trình giấy xin nhập viện, phòng
nhận bệnh lắc đầu từ chối. Cõng về nhà không biết điều trị bằng cách nào, các
nhà thuốc tây bị trận dịch chống tư sản mại bản. Bà con quen biết chỉ thế nào,
làm thế đó, nơi nào có lá thuốc, chị tìm tới đó để mua, chị đã ra tới Tân Ấp
vùng đất cuối của tỉnh Quảng Bình, giáp ranh với Hà Tĩnh. Tân Ấp là làng người
dân tộc Tày, từ ga xe lửa đi bộ khoảng mười cây số đường rừng, trèo lên tụt xuống
hai ngọn đồi, mua hai bao lá, thuốc Nam, còng lưng vác hai bao lá ra ga, ngồi
suốt đêm đợi tàu, cõng về sắc nước cho anh ấy uống, uống mấy ngày không
thấy nhúc nhích, vàng vẫn vàng, người khác chỉ ngoài làng Cùa, Ba Lòng tỉnh Quảng
Trị, có ông thầy người Thượng thuốc Nam rất hay, không có xe tàu gì đến nơi
này, chị nghe người ta nói, đây là mật khu của đảng Đại Việt lúc xưa, chị cũng
băng rừng lội suối đến đó, vác từng bao lá về. Người khác chỉ lên Nam Đông, A
Lưới, chị cũng lên, toàn lá với lá, vàng vẫn cứ vàng không xuống sắc chút nào.
Chị cầu nguyện hằng đêm, xin ơn trên cho chị gặp được thầy,
được thuốc cứu chồng, sức con người có hạn, khi lực tận chỉ biết phú dâng và
bám víu vào Thượng đế. Chất đốt nhà chị dùng trấu “vỏ lúa” nấu ăn. Hôm nay chị
nhắn chú xe kéo, chở cho chị mấy bao trấu, chú xe kéo vác trấu vào bếp, ngang
qua thấy khối vàng nằm thiêm thiếp trên võng. Chú quay lại hỏi chị:
- Ai rứa cô?
Chị trả lời mỉa mai, chua lè:
- Ông xã của tôi ở tù ngoài Hà Nam Ninh, nhờ gia đình, có
thân nhân làm quan to ngoài trung ương đảng cộng sản Việt Nam can thiệp, được
ưu ái, trại tù kêu tôi ra nhận, mới đưa khối vàng khè về đó anh à.
Chú xe kéo hỏi:
- Cô cho chú uống thuốc chi chưa?
- Dạ! Tui chạy thuốc khắp nơi, nơi nào cũng lá với lá,
uống nhiều rồi, không thấy bớt chút mô hết.
Chú xe kéo cười nói.
- Ui cha! Thứ vàng da ni dễ trị lắm, nhiều người quen của
tôi đã được chữa lành, vài ba hôm là đổi sắc, một tuần là lành.
Chú xe kéo nói tiếp:
- Chừ Cô chạy ra chợ, mua một bó “chè lá” và một miếng
gan heo, đem về vằm gan ra nấu chung với lá chè, sắc đậm cho chú ấy uống, rồi
ngày mai cô đi sớm, khoảng gà gáy lên bến Than, đó là bến đò ngang, bến này có
hai bến đỗ, một bến qua điện Hàng Chén, bến này họ ghé ngày rằm và ngày lễ,
còn ngày thường không qua đó, chỉ đưa người đi củi, cô lên đò
theo mấy người đi củi, nhờ họ chỉ cây Nắp Ấm, cây này thân mềm dạng dây
leo, hoa giống như miệng ấm có nắp đậy, nên có tên là nắp ấm, cây mọc vùng đất
trũng, nhiều lắm, tôi đã lên đó hái mấy lần rồi, cô nắm gốc nhổ thì kéo cả
chùm, thân bò dài cô quấn từng nắm, đem về nấu chung với lá chè tươi và gan
heo, bảo đảm chú uống ba ngày là bớt, chừng một tuần là da sẽ trở lại bình thường.
Tạ ơn Thiên Chúa! Phương thuốc đơn giản mà quá hay, uống
ngày thứ ba là bắt đầu đổi sắc, từ vàng ra bạc, uống tiếp gần một tuần
thì như lời chú kéo xe nói, khỏi hẳn.
Anh Phát không ngờ nét tươi vui của vợ chỉ để che dấu một thảm
cảnh đau lòng, nhìn thúng hột vịt anh đã khóc, khóc như một đứa trẻ, xót xa
thương vợ, đã không tiếc thân mình bán máu, để có tiền nuôi anh. Hằng đêm anh
bưng đèn cùng chị ra ngồi ngã ba. Thầy Huỳnh kiếm cho anh Phát một chỗ giữ xe đạp,
anh Phát về được một năm, Chị Oanh chuẩn bị đi thăm nuôi cậu Vũ, thì lễ
Quốc Khánh 2 / 9 cậu Vũ và bác Hoàng ba của thầy Huỳnh được thả về.
Gia đình chị Oanh bây giờ thêm bốn cánh tay của hai người
đàn ông, cuộc sống bớt tất bật, cơm mắm tạm ổn qua ngày, ba đứa nhỏ một đứa
con của Vũ, hai đứa con của chị được gửi vào trường Mẫu giáo của nhà dòng nữ.
Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai. Ba gia đình, bác Hoàng, cậu
Vũ, và gia đình chị Oanh cùng nộp đơn một lần xin xuất cảnh theo chương trình
HO. Ba gia đình phỏng vấn thông suốt, cùng được đến định cư tại Hoa Kỳ. Một sự
ra đi không ai ngờ, chị không dám quay lại nhìn chặng đường đã qua, không bút mực
nào diễn đạt được sự khốn khó đến tột cùng đó, không lời nào xứng hợp để
nói lời tạ ơn gia đình bác Hoàng. Ba gia đình bây giờ đã kết chặt thành một
đại gia đình, dọn về sống gần nhau cùng một thành phố, yêu thương, chăm sóc. Hạnh
phúc hơn Thầy Huỳnh tiếp tục vào Chủng Viện nay đang là Linh Mục phó giáo xứ Việt
Mỹ.
Cuộc sống ở Mỹ. Từ ngày cưới nhau cho tới bây giờ, trải
qua bao cay đắng nhọc nhằn, chịu đựng bao gian nan khổ cực, chị Oanh luôn cố gắng
vượt qua, vui vẻ chấp nhận nghịch cảnh, hi sinh cho chồng, cho con, đó là niềm
vui của người làm vợ, là thiên chức của người mẹ. Mấy chục năm qua chị chưa bao
giờ có ý nghĩ sai lệch về chồng, một mực tôn trọng anh, vì anh là người
có chừng mực, nói năng chín chắn, có trước, có sau, lúc nào cũng ôn tồn, hoàn cảnh
nào cũng bình tỉnh, sống có nguyên tắc, năng nổ và nhiệt tình, chị tin tuyệt đối
sự thủy chung của anh, chị nghĩ nếu trên đời này nếu có ai muốn tìm tấm
gương chung thủy một vợ một chồng, thì anh chị là người đầu sổ
trong số đó.
Mấy tháng nay sau chuyến đi Việt Nam lần thứ hai trở về, chị
cảm nhận ở anh có cái gì khác khác với nguyên tắc sống của anh thường ngày. Chị
không phải là người đàn bà mà thiên hạ ví như con gà mái oang oác tối ngày,
nhưng những sinh hoạt bất thường của anh, tạo cho chị sự chú ý, tò mò, tiếng thở
dài, ngồi tư lự, thì thầm điện thoại, rồi có những lúc hốt hoảng trước mặt chị,
đó là những điểm khác lạ mà mấy chục năm qua chị chưa thấy ở anh, hơn nửa giác
quan thứ sáu của phụ nữ cũng rất nhạy bén.
Chiều thứ Bảy ngày hôm ấy, gia đình bác Hoàng và
gia đình chị, lỉnh kỉnh mang thức ăn, tập trung về nhà Vũ “cậu em trai” để
mừng sinh nhật cháu Thơ. Hai chục năm qua, cậu Vũ, người em tội nghiệp vẫn
ku ki một mình, vừa làm cha, vừa làm mẹ, nhiệm vụ nào cũng chu toàn. Hạt giống
cậu Vũ ươm, xới, gieo trồng, hôm nay đã kết nụ, ra hoa, một cô Nha
Sĩ, xinh đẹp, tràn đầy sức sống, đang vươn lên trong niềm tin yêu của gia đình.
Thành quả tốt đẹp đó cũng không ít công sức của chị, vừa là Cô, vừa là Mẹ và
cũng là Cha.
Tiệc vui bắt đầu, chai rượu lễ của cha Huỳnh mang tới coi
như khai vị, bốn anh em lâu nay ít uống rượu, chiều nay không biết vì quá vui
hay mắc chứng gì mà họ thi nhau cụng, mới chút xíu mà đã thanh toán xong
chai rượu lễ. Rượu lễ chiết xuất từ trái nho, nên rất ngon và nhẹ độ, ba anh em
uống thâm qua chai Cordon Bleu, cha Huỳnh từ chối vì sáng mai phải dâng lễ sớm.
Rượu mạnh thấm vào, họ bắt đầu đổi tông, âm thanh lè nhè nhừa nhựa, ngắc nga ngắc
nghẻo, một lúc rồi cả ba lăn đùng ra ghế sô pha, hai chị và cháu Thơ thu
dọn chén dĩa, rồi cũng ngả lưng, đợi hai ông tỉnh rượu để về.
Tiếng ù ù nho nhỏ ở chế độ rung của điện thoại cầm tay phát
ra, lắng tai nghe thì tiếng ấy từ trong túi quần của anh Phát, bác Hoàng
bảo chị Oanh lấy ra nghe thử, không chừng thằng Tâm gọi có chuyện gì chăng. Chị
Oanh kéo thẳng chân anh Phát, thọc tay lấy cái phone trong
túi quần, một hàng số lạ hiện ra 091 . 5… chị nói nhỏ với bác Hoàng. Số phone lạ
quá, bác Hoàng lấy điện thoại trên tay chị, nhìn số, rồi đi ra ngoài, ngoắc chị
Oanh cùng ra. Chị Oanh thấy khó chịu trong lòng, đáng lẽ chị không nên làm vậy,
chị chần chừ, nhưng trước sự đã rồi chị đứng dậy đi ra theo,
ra tới nơi nghe bác Hoàng nói:
- Được rồi, đợi cậu ấy tỉnh rượu tôi sẽ nói lại giúp cho cô.
Bye cô nghe..
Bấm xóa cuộc điện đàm, bác Hoàng bảo chị, đem bỏ lại như cũ,
chị trở ra bác ngồi tránh một bên ghế xích đu chờ chị. Chị rùng mình ớn lạnh,
không biết do thời tiết về đêm của Cali hay rùng mình vì sắp được nghe bác
Hoàng nói, chị chắc chắn là chuyện không vui, chị nói với bác
Hoàng:
- Mình vô nhà thôi bác, em thấy ớn lạnh quá, hôm nào rảnh em
chạy qua nhà, nghe bác nói chuyện cũng được.
Nhìn sắc mặt của bác Hoàng, chị đoán biết bác sẽ cho chị câu
trả lời về những dấu hỏi chị đặt ra với anh Phát, chị thường tâm sự với bác mấy
lâu nay, chị suy nghĩ, nghe một lời buồn là thêm một gánh nặng, tại sao lại tìm
gánh nặng mà mang vào người, bỏ được cái gì thì bỏ, quăng được cái gì thì cứ
quăng, chị cố né tránh để khỏi nghe. Lòng chị lúc nào cũng bình thản, chị
nhớ một câu trong bài hát của TCS … “ Ai nên khôn không có một lần ... dậy mà
đi ...” quả thật vậy, bản lãnh của con người là tự thắng bản năng, tự thắng
những đòi hỏi tầm thường của thể xác, bản năng yếu đuối không thoát khỏi cám dỗ
bị vấp ngã là chuyện thường, nhưng vấp ngã rồi có biết đứng thẳng người dậy để
mà đi, hay vẫn cứ nằm ỳ ra giãy giụa trong vũng bùn, đó là điều đáng nói, là điều
chị mong đợi nơi anh, tất cả những suy nghĩ của chị chỉ là đoán mò theo trực
giác của phụ nữ, chứ chưa chắc là đúng và chị cầu mong là không đúng. Hơn thế nữa,
đều là con nhà đạo hạnh, mọi chuyện trong cuộc sống đều tín thác vào đức tin,
chị dành thời gian vào việc suy niệm về tâm linh, cuộc sống…
Lại một mùa Chay về, sinh nhật của cháu Thơ cũng đến, câu
chuyện hôm sinh nhật cháu Thơ năm ngoái, đã giáp vòng một năm, chị luôn tránh
nói chuyện riêng với bác Hoàng, chị sợ phải nghe, chị luôn tạo cho gia đình, một
bầu khí ấm cúng vui nhộn như mấy chục năm qua, chị nhắc anh Phát rảnh rỗi không
làm gì thì lấy vé về Việt Nam chơi, mùa này vé máy bay hạ giá, nếu chậm qua lễ
Phục Sinh, vào mùa hè giá vé cao. Để gỡ bỏ gút thắt trong lòng, chị muốn anh về
bên nớ lần nữa, coi như thử lại bài toán, đúng sai sau lần đi này sẽ rõ. Rồi việc
gì đến cũng phải đến, trái bom âm ỉ hai năm, sau chuyến đi VN về đã nổ, bao
nhiêu hy sinh, bao năm gắn bó, tình nghĩa vợ chồng đã kết thúc, đơn giản trên một
trang giấy với hai chữ ký .
Sau hôm tham dự phiên tòa theo lệnh của Tòa án, anh Phát đi
bặt tăm. Chị nghe mấy người bạn về Việt Nam qua nói lại, anh Phát về cưới cô vợ
trẻ, cô ấy là người cùng giữ xe đạp với anh sau khi anh lành bệnh vàng da. Kết
thúc câu chuyện , chị cười rất sảng khoái.
Tôi hỏi:
- Em không thấy chị buồn.
Chị cười nói:
- Cây kim khâu bị rớt mất cũng lấy cục nam châm rà tìm cho bằng
được, một người đầu ấp tay gối mấy chục năm, con người mà mình lấy máu đem đổi
bánh đường, tụm cá khô, con người mà mình vượt núi, băng rừng, tìm thuốc chữa
trị, bây giờ quay lưng lại, không buồn làm sao được. Buồn lắm, đau lắm chứ,
nhưng mà một khi họ đã quyết định quay lưng, đi con đường họ chọn, mình biết
làm sao. Mình không phải là người hư hỏng, trách nhiệm làm mẹ mình làm xong, bổn
phận làm vợ mình cũng chu toàn, mình không có gì hổ thẹn với lương tâm.
Thời gian sau chị gặp mấy người bạn của anh Phát, mấy anh ấy
nói:
- Anh Phát lúc này đã thành ca sĩ rồi, anh trình diễn rất
thành công bài hát “Anh đã lầm đưa em sang đây”.
Câu nói lấp lửng chị không hiểu mấy anh ấy nói gì. Chị nói lại:
- Mấy anh có gặp anh Phát thì xin chuyển giúp lời của tôi. Cửa
nhà tôi luôn rộng mở…
Chị là người vợ tuyệt vời.
