Sáng nay, má tôi lại ra đứng tần ngần ở chợ Ba Bảy Chín,
ngiêng ngiêng ngó ngó một hồi, biểu con nhỏ chèo đò chèo dài dài chợ nổi. Chợ
rao bán rau trái dậy động cả một khúc sông, má tôi thấy ghe nào cũng lần xuồng
lại, dòm mặt chủ rồi đi. Con nhỏ chèo đò chắc là chèo mối, nó biết bà già định
đi đâu, định làm cái gì nên nó biểu:
- Hỏng hỏi thăm thì vô phương kiếm ra, ngoại ơi.
Má tôi ngẩn ngơ. Hỏi chớ, chú ơi, thím ơi, tôi muốn hỏi thăm
một người quen. Tên gì? Ghe bán gì? Hai Giang. Ghe bán hàng bông. Trời đất, ở xứ
này có tỉ tỉ ghe bán bán hàng bông, cũng có biết bao nhiêu người tên Giang, vậy
tướng tá người đó ra làm sao? Bây giờ đâu có biết ra làm sao, gặp được một lần
mười sáu năm trước, nhớ sao tả vậy nghen. Đàn bà, chừng sáu mươi, trạc tuổi
tôi, tóc dài, da ngăm ngăm, không đẹp không xấu. Mới đầu đi với chồng, sau chồng
bỏ lên bờ vì cơ cực quá trời, hồi trẻ có đứa con gái đầu lòng chừng bảy tháng
tuổi thì rớt xuống sông chết.
Vậy thì đông lắm, người sống trên chợ này hể mười thì có năm
người y chang hoàn cảnh vậy, dân Ba Bảy Chín mà, "ba chìm, bảy nổi, chín
lênh đênh", chị hỏng nghe sao ?
Má tôi chẩng hẩng :
- Vậy ?
- Ừ, người đó quen sao mà tìm coi bộ cực dữ ?
- Quen. Chà, hỏng biết nói sao bây giờ, dài dòng lắm, vợ của
chồng tôi.
Nếu vậy thì dài dòng thiệt, chuyện tình tay ba mà phim dính
vô chuyện nầy cũng năm bảy tập trở lên, còn cải lương lâm ly không biết bao
nhiêu là nước mắt.
Má tôi cũng khóc nhiều rồi.
Má tôi nói hoài, ba mươi tám năm bà về làm dâu nhà chồng, cực
có, sướng có, chưa bao giờ nội tôi khắt khe, nhỏ nhặt, khó chịu với dâu, nhưng
má tôi vẫn hận nội tới chết mới thôi. Hỏi sao kỳ vậy, má tôi kéo chéo khăn lên
chậm chậm vô đôi mắt, "Bộ hết người rồi sao mà nội bây cưới tao cho ổng,
đó, bà chỉ tay ra bến, gần hết đời rồi tao có được vui đâu".
Đó là lúc "ổng", tức ba tôi chống cây gậy khật khừng
lang thang xuống bến. Ông dừng lại chỗ mấy cây tra, lấy tay rờ rẩm, săm soi từng
cái lá, cái bông như tay bắt mặt mừng thằng bạn lâu năm mới gặp. Rồi ông lần ra
tới đầu bến, đứng dưới hàng mấm già ngày xưa ông trồng để giữ đất cho khỏi lỡ,
để mặc cho mấy cái hoa nắng vàng xơ rơ đậu xuống cái đầu húi cua, bạc trắng của
mình, ông già thao thiết nhìn ra sông. Chỉ vậy thôi rồi khật khừng quay lên,
cái chân trái yếu ớt như tựa hẳn vô cây gậy, cứ mỗi lần chân bước, đầu gậy lại
xoáy sâu vô đất một lổ tròn tròn.
Cảnh thì quen lắm, thì ngày nào, buổi nào ba tôi chẳng làm vậy
nhưng cứ tụm cả nhà lại, rồi ngồi lặng lẽ dòm, ai cũng nghe đau đau xót xót như
ai lấy cật tre cứa tới cứa lui trong lòng. Bởi cái lúc này là lúc sum họp đây,
vậy mà sao vẫn thấy thiếu một người, mà thiếu đúng cái người đang lững thững đi
dưới nắng kia mới chết.
Sau đợt tai biến mạch máu não lần thứ nhất, nửa người bên
trái ba tôi yếu hẳn đi, tưởng chỉ vậy thôi, đến lần thứ hai bỗng dưng tâm trí
ông già nhớ quên, ít nói, lẩn tha lẩn thẩn. Nhưng còn sống, còn tự mình đi đứng
được là may lắm rồi, ai cũng nói vậy. Lúc đó cả nhà đang ở chợ, ba tôi càng lúc
càng buồn, hay chống gậy đi, mấy lần cả nhà bỏ tiệm may đi kiếm ông tở phở. Sau
này chỉ cần một mình tôi, vắng ông, tôi chạy xe dọc theo con đường về vườn cũ
là gặp. Thấy tôi, ông già khựng lại, không nói gì, nhưng cặp mắt khẩn cầu, da
diết, tôi làm như không biết, cầm gậy, đỡ ông lên xe chở về, có lần, ba tôi
khóc, ông khóc rưng rức, nước mắt nước mũi nhểu nhão, lòng thòng.
Sau lần ấy, cả nhà quyết định đưa ông về sống trong vườn nhà
nội. Vườn bỏ lâu nay, nhưng nhờ cô dượng Ba ở kế bên nhà trồng trọt, trông coi
nên chỉ cần dựng căn nhà lên là ở được. Chuyện cắt cử người ở lại với ba tôi
thì khỏi phải bàn bởi chừng nào mà má tôi bỏ ông được, "làm gì làm má cũng
phải giữ ba", tôi đùa. Má tôi xua tay :
- Ổng còn nguyên đó chớ có đi đâu, trước không mất giờ còn sợ
mất mát gì nữa, mà, giọng má chợt cay đắng, hồi đó giờ ổng có phải của tao đâu
mà giữ.
Ba tôi là người của sông. Không phải ông nhớ vườn xưa mà chống
gậy về, ông nhớ sông, một ngày ba bốn lượt lủi thủi chống gậy ra bến, đôi mắt
như đang nhìn da diết, mà không biết nhìn ai, chỉ thấy mông mênh vậy thôi. Chơ
vơ, cô độc. Tựa như ông đang ở đây nhưng tâm hồn ông, trái tim ông, tấm lòng
ông chảy tan vào dòng nước tự lâu rồi.
Và cũng y như má tôi, ba cũng không sống được mấy ngày vui,
vui thật, vui đúng nghĩa. Hồi tôi còn nhỏ, còn sống chung với bà nội, đêm đêm cả
nhà đi ngủ, ba tôi ngồi hút thuốc trên bộ vạc kê trước nhà, chống rèm lên, ngó
ra sông. Kiểu ngồi một chân xếp bằng, chân kia dựng lên, rồi tì cái tay cầm điếu
thuốc lên cái đầu gối, đêm này qua đêm khác, kiểu ngồi không đổi. Nửa đêm, má
tôi đi ém mùng lại, tôi thức giấc, ngó ra chỉ thấy đốm lửa lập lòe, lúc đỏ rực,
lúc lại tắt thiu thiu. Má tôi ngồi trong mùng lặng lẽ nhìn ba, còn ba thì nhìn
ra sông. Sông cách nhà một cái bến dài chẻ ngang đám dừa nước. Nếu không vướng
tầm mắt vào đám ô rô mọc lởm chởm chồm từ mé lá lên, không vướng mấy bụi ráng,
bụi lức dại có thể thấy lồng lộng một khúc sông. Đêm sáng trăng, ngồi trên nhà
có thể thấy một dòng chảy líu ríu, sáng loáng. Ban đêm, con sông trước nhà tôi
không ngủ, nó thức theo những chiếc tàu rầm rì trảy qua, theo tiếng mái chèo quẩy
chách bụp rất đều. Dài từ ngã ba Vàm đến đây, nước chảy êm, khuất gió, những
chiếc ghe đi đêm hay đậu lại, nghỉ ngơi. Lâu lâu, có chiếc ghe hàng bông lặng lẽ
neo lại ngoài bến nhà tôi, treo ngọn đèn chong lên cây đước chơm chởm những cái
nhánh con, mỗi nhánh lủng lẳng trái khóm, trái bầu dầm nắng mưa đã teo héo.
Không thấy bóng người, chỉ nghe tiếng gàu tát nước cọ vô xuồng xao xác. Hừng
đông chạy xuống bến thì ghe đã đi rồi. Những đêm đó, ba tôi hút thuốc dữ, cứ
nhìn chong chong ra ngọn đèn đỏ ối, nhỏ nhoi, buồn hiu ngoài kia. Ba tôi thở
dài. Má tôi thở dài, chạy qua buồng bên khóc với bà nội tôi, không biết nói cái
gì, chỉ nghe lỏm bỏm, tiếng nội làu bàu, "vậy ra má đã làm sai cái gì
?" và má tôi tuyệt vọng "Kiểu này biết chừng nào ảnh mới quên chuyện
xưa hả má ?".
Ngày xưa ba tôi cũng yêu thương một người. Tự ba tôi chọn. Nội
tôi dứt khoát không chịu (nội có tỉ tỉ lý do, nhưng cái lý do lớn nhất là người
phụ nữ đó đã có một đời chồng), ba tôi mới dắt díu người ta bỏ nhà đi, sống kiếp
thương hồ. Hai người trãi qua biết bao nhiêu cơ cực, nào là gặt mướn, làm cỏ
lúa, đắp bờ... mới có được một ít vốn, ba tôi sắm cái máy Koler xuống rẫy bán
hàng bông. Họ sống nghèo lắm. Mỗi lần đi ghe đi ngang qua nhà, ba tôi khắc khoải
ngó lên, vừa nhớ, vừa đau vì cãi nội. Rồi hai người có với nhau đứa con, nhưng
chị bạc mệnh chết đuối, tận cùng đau khổ, ba tôi bỏ về nhà, được về, ba tôi
cũng phải đáp ứng vài điều kiện của nội, vậy là ba tôi bỏ người ta giữa dòng bơ
vơ. Tôi biết được có bao nhiêu đó thôi, kể ra cũng mấy dòng vậy thôi. Mà, cũng
phải đợi tới năm mười lăm tuổi, cả nhà mới cho tôi biết. Tôi bật ngửa, chuyện xảy
ra lâu rồi, nhưng người ta vẫn còn nhớ, vẫn còn cắm sào trước bến nhớ ba tôi, vậy
mà biểu ba tôi quên cái rụp thì làm sao quên được.
Mà, cũng vì ba tôi quên không được má tôi mới thương ông nhiều,
sau nầy, lớn lên, biết yêu thương rồi, tôi mới ngộ ra. Con người ta, nhất là
đàn ông thương ai mà vì nỗi gì đó quay lưng lại quên mất tiêu thì đúng là không
tử tế, không đáng tin chút nào. Với tôi, ba tôi thì quên hay không cũng được,
ba đã sống tốt với cả nhà tôi lắm rồi. Ông sống tử tế đến vô cùng, đến thừa, dường
như ông gởi gắm tình thương yêu đến cả những người vắng mặt. Ông ít nói, hiền
lành, từ tốn với má tôi, những lần má tôi bệnh, ba chèo một hơi mười mấy cây số
vừa đi vừa về đưa má tôi ra trạm xá, không than mệt, không thở ra, tận tụy. Lúc
nào cũng mình mình tôi tôi, mấy bà hàng xóm nghe tủi cho mình mà khóc, má tôi
cũng òa khóc theo, cảnh mỗi người tự người đó biết, người ta hay đứng núi này
trông núi nọ vậy mà.
Mơ hồ dường như mình mắc nợ ai đó, cả nhà tôi lúc nào cũng cảm
thấy không vui, dù hạnh phúc (hai thứ nầy sao lại không thể đi chung). Không thấy
ai đòi nhưng nợ vẫn cứ là nợ, nó rờn rờn quanh quất trong chái bếp ngày ngày
khói tỏa, trong mấy chiếc giường ngủ con con, trong hai bữa ăn mỗi ngày. Ngồi
quây quần như vầy trong bụng cứ nghĩ, có một người nào đó cô độc, bơ vơ. Mà tội
nhất là nội tôi, vốn mê cải lương, nhưng bữa nào ti vi chiếu mấy tuồng có bà mẹ
chồng ác nghiệt chia rẽ duyên của con, dâu là thấy nội tôi rầu. Cho tới lúc cuối
đời, chắc nội tôi vẫn băn khoăn trong lòng câu hỏi : " Vậy ra, mình giống
mấy bà già trong đó thiệt sao ?"
Má tôi thấy nội bứt rứt cũng không tỏ ra phiền muộn nữa, cốt
để an ủi nội tôi lúc cuối đời. Khi nội tôi vừa khuất, má quyết định gặp đối thủ
một lần, chỉ định nhìn vậy thôi, chưa biết làm gì mà cũng không biết làm gì người
ta, nhưng chắc chắn phải biểu người ta buông tha ba tôi ra, còn gì nữa đâu mà
neo ghe trước nhà ngó mong hoài.
Chờ đợi, rình rập hụp hửi mấy lần, chiếc ghe nhỏ với ngọn
đèn đo đỏ lại về đậu trước bến nhà tôi, như mong đợi của má. Bữa đó, má nói với
ba tôi chèo xuồng về chơi bên ngoại một đêm. Gà gáy chập đầu, bà trở lại, trên
xuồng chất đầy mấy thứ rau đồng, bà giả đò làm người đi chợ sớm.
Ngang qua, má tôi tấp xuồng lại kế bên chiếc ghe, than :
- Tính đi chợ cho sớm mà gió quá, chèo không lên, bậy thiệt.
Má tôi tin rằng, người đàn bà kia, cũng như ba tôi, những
đêm như vầy không bao giờ ngủ. Mà thật, dì đang chong đèn ngồi thêu áo gối,
nghe tiếng má tôi, dì quay lại, dường như sững sờ, bất ngờ một chút, dì cười :
- Dà, đêm nay nhiều gió thiệt - Dì vẹt mớ quần áo ngổn ngang
trên cái sạp tre - Chị vô mui ngồi cho ấm, chờ bớt gió rồi đi, ngồi ngoài đó cảm
sương chết.
Má tôi không từ chối, bà buộc dây xuồng lại, bước qua ghe.
Bà cao người nên ngồi trong cái mui lợp bằng lá chầm đóp phải khom một chút. Họ
ngồi đâu mặt với nhau. Má tôi thấy lòng mình bình lặng lạ lùng, hồi ngồi dựng
cái cảnh gặp mặt nầy, cứ tưởng là phải làm một cái gì ghê gớm lắm.Có thể vì người
đàn bà của ba tôi hiện lên rất hiền, dì mặc chiếc áo cộc tay màu cau khô ở
trong, khoác thêm chiếc áo bà ba ở ngoài, mỏng te, nhiều mụn vá. Tóc đã bạc nhiều,
lơ thơ vài cọng rủ xuống mặt. Sương gió đã làm cho khuôn mặt dì đen sạm, nhăn
nheo. Má tôi nghĩ thầm trong bụng, "xấu hơn mình nhiều". Má tôi sợ cứ
nhìn chằm chằm người ta hoài cũng không phải nên má ngó lơ chỗ khác. Đồ vật
trên ghe món nào cũng nhỏ nhắn, tuềnh toàng. Ngay sau lưng chỗ má tôi ngồi, bỏ
khoang tát nước có một cây ớt hiểm, một cây sống đời đang trổ bông trồng chung
trên miệng cái khạp bể. Dì lúi húi dẹp miếng vải đang thêu dỡ, vói lấy bình thủy,
châm nước vô cái bình trà sứt vòi, ho khúc khắc. Má tôi chép miệng, "Cha,
có trà uống thì còn gì bằng, mà, chị bịnh hả, mấy lá sống đời nầy ngậm với muối
cũng đỡ ho lắm". Dì ngước lên cười, "Dà, lúc nầy trở gió, cũng nhờ
nó...". Má tôi hỏi :
- Chị đi ghe một mình à, một mình cũng được sao ?
- Dà, cũng được, chị.
- Ủa, chồng chị đâu ?
- Dà, dì bối rối, ảnh... đi xa lắm.
- Còn chồng tôi thì theo vợ bé mất rồi, má tôi nói luôn.
Dì nhìn sững má, dường như để xem xem nỗi đau mất chồng của
má với dì có giống nhau. Hồi lâu, dì chợt cúi mặt :
- Uống trà, chị, hoàn cảnh của chị cũng buồn thiệt. Nhưng thể
nào rồi ảnh cũng quay về. Thiệt đó, chị, đa số đàn ông đều tốt.
Tốt sao ? Người ta bỏ cô để cưới tôi mà là tốt à, má tôi ngồi
lặng, tự hỏi, mà không biết nói gì nữa, cái câu quan trọng nhất chắc không phải
nói lúc nầy. Má tôi ngồi ngó quanh, một ánh đèn nhỏ nhoi thôi cũng đủ hắt sáng
vài xâu cốm gạo treo trên vách, mấy hủ kẹo, bánh ngọt, tiêu tỏi để bên này,
trái cây như khóm, bí rợ, khoai lang thì chất thành hàng bên kia. Sát bên hông
dì, dưới tấm vải trắng thêu dỡ là hai xấp quần áo cũ, người lớn có, trẻ con có
được xếp ngay ngắn, nhưng hết thảy đều củ kỷ, bạc màu. Má tôi vọt miệng :
- Ủa, chị có cháu nhỏ à ?
Sau nầy, má tôi nói, đó là cái câu tàn độc nhất mà má lỡ miệng
đánh ngay vào nỗi đau của dì. Dì nhìn trân trân vào ngọn đèn, cái nhìn đau lặng.
"Con bé Phước nhà tôi vô phước lắm chị à, tại tôi không cẩn thận nên cháu
vừa mới biết bò đã té sông, trôi mất. Cũng mười mấy năm rồi, bây giờ, nó còn sống,
chắc tôi thêu gối cưới cho nó cũng vừa. Tôi... tôi chiêm bao thấy cháu nó hoài,
chiêm bao lãng nhách hà, tự nhiên tôi thấy con tôi biết nói, nó biểu má đừng bỏ
con, trời ơi, tiếng nó thấy cưng lắm kìa, vía tôi trả lời, mẹ sẽ sống trên sông
hoài, hoài hoài với con, vía tôi thấy nó cười..." Dì nói một hơi dài, giọng
dì hơi nghẹn lại, "trời ơi, chị có chuyện buồn lòng mà tôi lại kể chuyện
buồn lòng nữa, chắc chị phiền tôi lắm. Mớ đồ nầy tôi cất lâu rồi, sợ mốc, cứ mấy
tháng là tôi đem ra giặt lại, của con bé con tôi có, của chồng tôi có. Chồng
tôi... tôi chỉ còn giữ lại bao nhiêu đây thôi. Chị coi, tôi khùng hôn, không giặt
thì không được mà giặt hoài, tới hơi chồng cũng bay, tôi cũng quên mất rồi..."
Dì cười quay quắt. Má tôi chút nữa đã bật khóc, bà cố nén
nghẹn ngào :
- Đàn bà mình sao khổ vậy ?
Tiếng gà gáy xa xa, con nước đêm nay mau lớn quá, mới đây
thôi đã ngập nửa cây sào neo ghe rồi. Lúc nầy, nước lớn không nghe bìm bịp kêu,
mà, nhờ không có, chứ nghe bìm bịp kêu càng buồn nữa. Má tôi ngồi bình tâm lại,
vậy thì mình nhỏ nhen gì mà dành với người ta chút nầy nữa. Năm nầy qua năm
khác mình được sống chung với ảnh, ban ngày ngoài ruộng, ban đêm chung giường.
Ngó mặt nhau ăn cơm, ngủ cũng đâu mặt lại ngủ... Còn người ta, nhớ thương đứt
ruột cũng đành ngồi đây ngó lên, giữa đường gặp nhau chỉ nhìn vậy thôi mà không
chào hỏi tiếng nào. Đau lắm chớ. Má tôi nhìn ra ngoài trời, vẫn còn khuya lắm,
nhưng đã thấy mấy chiếc xuồng đi chợ sớm lướt qua, tiếng mái chèo quẫy chủm
trên mặt sông ngọt, nhẹ, cứ tưởng từng lát nước xếp lên nhau như những lát đất
cày. Dường như trời bớt gió nhiều rồi. Dì nghiêng đầu ra ngó trời, chừng như nuối
tiếc, thảng thốt :
- Trời đất, đêm qua lẹ thiệt. Chắc tôi phải đi bây giờ.
- Sớm vậy sao ?
- Dạ, tôi thường đi... trước lúc người ta thức...
- Tại tôi nhiều chuyện làm chị thêu không xong...
- Không, người đàn bà cười, nét mặt thốt nhiên buồn bã, tôi
thêu cho hết đêm, xong rồi lại tháo chỉ ra, tôi sợ, nếu không làm gì, tôi...
tôi sẽ nhớ chồng con tôi rồi mắc... khóc, cầm lòng không được. Mà, đàn ông chịu
cực khổ nhiều lắm rồi, lấy nước mắt trói buộc họ nữa, tội họ lắm, chị à.
Vậy rồi hai người chia nhau đi. Ghe nổ máy rồi, khói xịt tơi
bời, dì còn dặn lại : "Nếu ảnh có quay về, chị đừng giận ảnh nghen. Người
ta có đi đâu làm gì thì cũng thương mình chị thôi". Má tôi không nói, quay
đi và khóc.
Tháng sau, má tôi quyết định gom mớ của cải cả nhà có được
ra chợ, mua cái nhà. Ba tôi ít chút ít nghề mộc nên nhận đóng tủ, bàn ghế ở
nhà, má tôi chiên đậu hủ bỏ mối, chị tôi mở tiệm may, tôi vào Đại học. Mọi thứ
được sắp đặt lại, mới mẻ, gọn gẽ. Má tôi bứt ba phải xa sông, nhưng chính bà
cũng biết, những dòng nhớ vẫn tiếp tục chảy mãi trong hồn ông. Mà, chính má tôi
cũng không quên cái hình ảnh cái rổ úp chén đan bằng nan tre đã xỉn màu, trên
đó có cái dĩa, cái tô và ba cái chén, ba đôi đũa như thuở người đàn bà trên ghe
còn nguyên một gia đình.
... Tới bây giờ má tôi vẫn chưa tìm được dì. Tôi hỏi má tìm
làm gì, má tôi nói để cho hai người gặp lại, coi thần trí ba mầy có đỡ hơn
không. Bây giờ thì ba tôi cũng nằm xuống, ông nằm ở lớp mả thứ ba trên cái liếp
chôn cất ông bà. Má tôi vẫn không ngừng tìm kiếm dì, hỏi để làm gì, má tôi nói
để cho dì hay và nói với dì, nếu sống mà không gần được, chừng nào chết, mời dì
lên nằm trên đất vườn tôi.
