Lời mở đầu : Năm nay lễ Giỗ lần thứ 10 Tiến Sĩ
RUPERT NEUDECK (1939-2016), người tổ chức Uỷ Ban CAP ANAMUR, đã cứu 11.000 thuyền
nhân Việt Nam trên biển Đông vào thập niên 1980, được tổ chức vào cuối tháng
5.2026 tại Troisdorf, Đức. Người viết đoản văn ÉMILE dưới đây là một trong số
11.000 thuyền nhân nói trên. Ơn cứu tử là một trọng ân. Nếu không được Cap
Anamur vớt, thì chắc chắn sẽ vô bụng cá chiều cuối tháng Tư 1982 đó, vì hải tặc
Thái Lan sau khi cướp bóc, đã dùng tàu đâm bể mũi ghe, rồi bỏ đi. Đời tôi sau
1975 còn nhận thêm nhiều ơn sâu khác, nhờ đó mà tồn tại đến nay tới thế hệ thứ
ba trên nước Đức. Xin kể đoạn đời đó qua đoản văn ÉMILE, như lòng biết ơn sâu
xa nhân ngày giỗ Dr. Rubert NEUDECK.
Ta nhìn ngọn cỏ lòng mê mẩn
Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân
(Tô Thuỳ Yên)
Tôi nhờ người phóng viên tờ Hörzu gởi về Paris cho Émile một bức điện tín, lúc
tàu Cap Anamur ghé Singapur, một ngày sau khi vớt ghe chúng tôi trong Vịnh Thái
Lan. Sợ phiền người phóng viên mới quen , tôi chỉ viết vắn tắt bằng tiếng Pháp
mấy chữ : đã đến Singapur,nhờ báo tin về Việt nam. Émile hết sức sốt sắng , đã
đánh đến hai cái điện tín , một về Huế cho Ba Mẹ tôi , một về Sài gòn cho vợ
tôi . Émile còn nói sẽ vận động để Petit Ton ,biệt danh mà Émile vẫn thường gọi
tôi , qua Pháp sớm , như sau này vợ tôi kể lại . Sự thực đã không đơn giản như
vậy .
Lúc ghé cảng Singapur là lúc bản thân Dr.Neudeck bối rối nhất . Trên tàu có
trên hai trăm thuyền nhân . Một trăm rưỡi trong số đó nằm trong Quota 1982 của
chính phủ Tây Đức , sẽ được đưa lên đảo Palawan , chờ đi Đức . Số còn lại gồm
hai ghe , ghe tôi đi từ Rạch Giá , và chiếc kia từ Vũng tàu , tổng cộng trên
sáu mươi người , không biết số phận sẽ ra sao .
Ra sao thì ra . Tôi chỉ biết một điều đơn giản , tôi đã thoát chết. Tất cả những
nỗi lo sợ , ám ảnh vụt biến mất . Tôi thoát xác , như rắn lột da . Tôi trở
thành con người thật sự . Ít ra là một con người , có giá trị ngang với mười
ngàn đô la, như cáo thị của chính quyền Singapur , số tiền phạt tàu Cap Anamur
, nếu như một thuyền nhân tìm cách rời tàu, trốn vào đất đảo . Hơn chút nữa là
một con người có ích trong lúc này trên tàu .
Tôi làm việc hằng ngày trong bệnh xá , thông dịch cho Bác sĩ , Y tá . Buổi trưa
lo việc lãnh thực phẩm cho toán làm bếp . Buổi chiều cùng với Bác sĩ Georg dạy
tiếng Đức cho bà con, thông qua tiếng Pháp, theo kiểu Das Fenster là la fenêtre
, là cái cửa sổ , nghĩa là chẳng theo phương pháp sư phạm nào , ngoài mục đích
cho mọi người làm quen với tiếng Đức . Buổi tối , tôi thường ngồi trên mũi tàu
, nhìn mông lung trời trăng mây nước . Tương lai chưa thể nghĩ tới , vì chưa biết
về đâu.
Chỉ biết đã qua rồi những ngày bấp bênh ở Sài gòn . Những ngày lang bạt , phố
ngược đường xuôi , chưa biết đêm đến sẽ ngủ chỗ nào , vì chỗ nào cũng hứa hẹn sẽ
bị kiểm tra hộ khẩu. Nhớ lại đêm tá túc nhà một người bạn ở cư xá Lê đại Hành ,
dưới Phú Thọ. Nửa đêm Công An ập vào soát nhà . Tôi leo kịp lên cây mít lớn sau
bếp , ngồi lọt thỏm giữa hốc ba nhánh lớn . Tránh được ánh đèn pin quét loang
loáng vào mọi xó xỉnh . Tránh được phiền lụy cho chủ nhà . Nhưng không tránh nổi
bộng kiến lửa có hộ khẩu đã từ lâu trong hốc cây . Kết quả , tôi bị kiến cắn sốt
ly bì mấy bửa, mặt mày , chân tay mọng đỏ từng đám như bệnh đậu mùa .
Qua rồi những ngày đi ghe lên về Sàigòn -Cà Mau làm khách thương hồ . Buôn khóm
, mía từ miệt dưới lên chợ Cầu Ông Lãnh . Mang dầu gió,thuốc rê,kim chỉ...về
bán các xóm dọc theo kinh rạch từ ngã bảy Phụng Hiệp tuốt tới Gành Hào, sông
Ông Đốc. Đi như vậy không sợ ai kiểm tra. Khi bị Công An hỏi,bất quá chỉ khai
là người Huế,đi Kinh tế mới dưới Miệt Thứ, cộng thêm vài điếu Samit là yên
ngay. Nếu bị tra vấn gay go, thì cứ giở giọng đặc sệt Huế ra. Thế nào cũng được
thả, kèm theo vài câu chửi thề bực mình vô cùng theo mấy thằng ngu, nói giọng
trọ trẹ, người nước Huế.
Có những đêm neo ghe trên sông Tiền. Đúng là “tan tác như hoa giữa đường “ như
thân Kiều, vì muỗi đốt. Nằm giữa lòng ghe tứ bề thọ “ muỗi”, nhiều lúc nghĩ lẩn
thẩn, Tiền Giang hay là Tiền Đường đây ?
Qua rồi đêm ra khơi mưa gió bão bùng. Trong màn mưa mờ tối, ghe tròng trành men
theo các hòn Chồng, hòn Nghệ, hòn Khoai...Từng chớp sáng loé lên, thấy các hòn
như những con quái vật khổng lồ lù lù trước mặt. Sợ vướng lưới đáy, sợ Công an
rượt, sợ bị từng đợt sóng cao khủng khiếp đánhchìm ghe. Mãi đến khi trời êm biển
lặng lại gặp hải tặc Thái lan. Những khuôn mặt tô đậm màu trắng kem chống nắng,
nhìn như quỷ sứ, tay lăm lăm búa ,súng tha hồ lục tìm sục sạo, khuân hết mọi thứ
trên ghe về tàu chúng. Chúng cướp hấp tấp, vội vã bỏ đi sau khi đập vỡ máy và ủi
bể mũi ghe. Chừng hai tiếng đồng hồ sau ghe tôi gặp tàu Cap Anamur.
Khi dòng chữ Ile de lumière trên thân tàu hiện ra mờ mờ trong tầm mắt, tôi đánh
Sémaphore tới tấp ba chữ SOS , và hét “sauvez -nous‘ như điên. Sau này Bác sĩ
Georg hay đùa, trên tàu Cap Anamur cứ ngỡ rằng sẽ vớt một ghe người Pháp xin cứu
cấp.
Suốt tháng Năm, Cap Anamur chạy lui chạy tới trong vịnh Thái lan, vớt thêm nhiều
ghe, nâng số người trên tàu lên đến gần ba trăm. Trung tuần tháng Sáu, tàu ghé
lại Singapur, đợi Tiến sĩ Neudeck. Ông quyết định nhổ neo chạy thẳng về Tây Đức,
ví von con tàu như Exodus, vì gần ba trăm người chưa có nơi nào chịu nhận.
Chúng tôi chỉ biết số phận mình, khi tàu qua khỏi Hồng hải, đợi thông đường vô
kinh đào Suez, nhờ quyết định của mười tiểu bang và Tây Bá Linh,chia nhau nhận
số thuyền nhân trên tàu.
Tàu chạy rề rề vì nghe đâu bị hư một máy, gần hai tuần thong thả như một du
thuyền trên Địa trung hải. Ngoài công việc hằng ngày ở bệnh xá, nhận thực phẩm,
tôi còn làm Thẩm phán, xử kiện những xô xát xảy ra do dành nước ngọt, thức
ăn...và trãi qua những buổi tối trên Địa trung hải thật tuyệt vời. Trời êm, biển
lặng, trăng sao vằng vặc. Nhìn ba hòn đảo của Malta, đèn đuốc sáng trưng, như một
xứ thần tiên. Đêm nào tôi cũng có thuốc hút, nhờ quy tụ một số người chịu nghe
những câu chuyện về Sizilien, Sardinien...
Mãi đến khi tàu ra khỏi eo Gibraltar , tôi mới bận rộn, vì phải chuẩn bị cho cuộc
đón tiếp báo chí, dự định tổ chức ở hải cảng Dover, Anh. Một trong những món phải
chuẩn bị, là bài diễn văn thay mặt thuyền nhân, chào mừng ký giả các tờ báo lớn
ở Âu châu. Tôi viết bằng tiếng Pháp. Carina, một cô y tá trẻ trên tàu dịch qua
tiếng Đức và giúp tôi tập đọc. Chúng tôi vất vả với chữ jetzt trong cách phát
âm. Cuối cùng Carina phải thay tất cả các chữ jetzt có trong bài bằng chữ nun.
Bây giờ nhớ lại, tôi không hiểu tại sao lúc đó mình ngu thế, hay tại tính tinh
ngịch cố hữu muốn chọc cô đầm Đức mập mạp, mũm mĩm này một chút cho vui.
Carina đang học năm cuối Y khoa,nói tiếng Pháp trôi chảy, và khám phá ra ngay từ
những ngày đầu mới lên tàu, là chúng tôi có chung ít nhiều vốn liếng văn
chương. Chúng tôi dễ trở nên thân thiết với nhau khi nói về Hölderlin,Eric
Maria Remarque...Carina vấn cho tôi ba điếu thuốc mỗi tối. Đây là một món quà hết
sức quý trên tàu. Nhiều ngày tôi phải hút trà sau bửa ăn vì không đào đâu ra
thuốc lá, mà miệng mồm lại tanh rích theo hộp cá nục sốt cà chua, không kho,
không nấu gì cả. Nhiều tối Carina vì bận chuyện gì đó không xuống hầm tàu được,
tôi đợi nàng hay đúng ra đợi ba điếu thuốc mõi mòn. Mai lại Carina chọc tôi, rằng
tôi đã đóng kịch En attendant Drumo suốt đêm. Nàng nhại vở En attendant Godo của
Samuel Beckett. Drumo do tên loại thuốc lá vấn Drum nàng đang hút.
Gần cuối tháng Bảy tàu vô sông Elbe và đổ chúng tôi lên cảng Hamburg. Từ đây mọi
người được phân phối đi các tiểu bang và Tây Bá linh. Tôi được đưa về Friedland
gần Göttingen.
Lần đầu tiên điện thoại được với Émile ,tôi xúc động đến nói năng lắp bắp.
Émile không biết tôi trôi giạt về đâu sau bức điện tín ở Singapur. Ông cứ ngỡ
tôi đã lên Palawan và đã vận động để phái đoàn Pháp tìm tôi trên đảo. Sau này bạn
bè từ Palawan qua Đức cho biết, tin nhắn tôi phải tìm gặp phái đoàn Pháp, được
đọc nhiều lần trong mấy ngày trên loa phóng thanh. Émile trấn an tôi, rồi thế
nào Petit Ton cũng được qua Pháp. Nhưng trước hết Émile sẽ qua thăm tôi ở
Friedland, lúc nào không báo trước được, vì ông phải thu xếp công việc ở Paris.
Khi ông tới Friedland vào buổi chiều, chúng tôi đã được chuyển lên Norddeich
vào sáng hôm đó. Émile lại lái xe lên Norddeich. Tính ra từ Paris ông đã vượt
hơn nghìn cây số với số tuổi trên sáu mươi, để thăm thằng con nuôi Petit Ton,
đã làm phiền ông phải lo âu nhiều chuyện trong suốt mấy năm nay.
Émile người Saint Malo, vùng Bretagne. Lưu lạc tới Paris từ tuổi thiếu niên vì
cha mẹ mất sớm,kiếm sống quanh quất khu Montparnasse, nơi tập trung người gốc
Bretagne y hệt như người Huế quây quần với nhau ở khu Trương minh Giảng, Sài
gòn. Tuổi thanh niên ông bị động viên, và bị bắt ở mặt trận sông Rhein, mấy
ngày trước khi Đức vào tiếp quản Paris bỏ ngỏ. Cho đến hết Thế chiến thứ hai,
Émile ở tù ở Duisburg . Sau đó ông trở lại Paris học nghề in, và vào ngành xuất
bản sách cho đến bây giờ.
Tôi gặp Émile vào mùa Đông 1973. Dạo đó tôi khá rãnh rỗi. Mấy chứng chỉ về Giáo
dục Toán học trong chương trình tu nghiệp coi như tạm xong. Giờ nghe giảng đã hết.
Chỉ còn đi thư viện, học ôn và chuẩn bị thi. Tôi vừa trãi qua mấy tháng bù đầu
học cho việc khảo hạch công nhận tương đương bằng Cử nhân Toán của Pháp. Dự định
không về lại Việt nam sau khi tu nghiệp mà phải làm Tiến sĩ Đệ tam cấp về Toán
manh nha trong đầu tôi từ lúc mới đặt chân tới Paris. Và tôi đã đi được nửa đường.
Văn bằng đã được công nhận tương đương, đã kiếm ra Patron đở đầu, chỉ còn phải
kiếm tiền đủ cho ít nhất hai năm học.
Paris không thiếu việc làm cho sinh viên : bồi bàn, giữ trẻ, gia sư, khuân vác ở
phi trường Orly, ở các chợ...Chỉ cần giở mục rao vặt ở các báo là kiếm được
ngay. Nhưng tôi cứ chần chờ mãi, vì học bổng tu nghiệp của chính phủ Pháp đã
nhiều, mỗi tháng có đến 900 quan. Tiền phòng chỉ có 120. Tiền ăn mỗi bửa ở quán
cơm sinh viên chỉ tốn 2,5 quan. Nói chung đừng hoang phí, vẫn dư dả được nhiều,
nên thong thả, kiếm việc làm gì vội.
Tình cờ, tôi đọc báo thấy cần một sinh viên làm thư ký đánh máy chữ cho một
trung tâm phân phối sách ở ngay Paris. Tôi xin hẹn gặp ông chủ và được chọn
trong số ba sinh viên cùng đến. Sau này tôi hỏi Émile tại sao không nhận cô đầm
xinh xắn, nhanh nhẹn hay anh chàng Marôc tiếng Tây như gió ; mà lại nhận tôi,
đánh máy hai ngón tay kiểu cò mổ, tiếng Tây còn ấp a ấp úng. Émile cười và nói
rằng tại đêm trước đó ông đã khóc khi coi đài TF1 chiếu lại trận chiến Xuân Mậu
Thân 1968 ở Huế.
Gọi là Trung tâm Phân phối sách cho to tát, nhưng chỉ có một văn phòng để giao
dịch. Sách bán theo lối thư tín, qua Bưu điện, nên không cần cửa hàng. Sau lưng
văn phòng là một phòng lớn dùng làm kho chứa sách, và tầng trên có 3 phòng để
ăn ở. Toàn bộ nằm trong một dãy nhà 5 tầng, nhìn qua nghĩa trang Montmartre,
Khu Clichy, quận 18, Paris.
Dạo đó máy vi tính chưa thông dụng. Địa chỉ khách hàng được đánh bằng máy đánh
chữ trên giấy có keo dán mặt sau. Với khoảng 5000 địa chỉ, tôi phải đánh máy một
ngày hai tiếng mới kịp cho thư quảng cáo hàng tháng. Công việc nhẹ nhàng, không
gò bó bởi giờ giấc. Tôi thường ghé ngang vào xế trưa, đánh máy khoảng vài trăm
địa chỉ, chuyển một số gói sách ra Bưu điện, xếp vào kho số sách mới giao. Nếu
trong tuần bận quá, chủ nhật tôi tới, tự động mở cửa, giải quyết công việc.
Cuối mỗi tháng là lúc nhiều việc nhất, vì phải gởi thư mục mới tới khách hàng.
Émile và tôi hì hục vô bì, dán địa chỉ, rập tem...tới khi Émile hô : “Petit Ton
! Bắt nồi lên “ chúng tôi mới ngừng tay. Émile nói theo giọng Alexis Zorbas buổi
chiều mệt mõi từ mỏ than về. Ông chịu ảnh hưởng Kazantzakis rất đậm. Quan niệm
của triết gia Hy lạp này về đàn bà, cuộc đời, tổ quốc...ấn chứng trên cách sống
của Émile mãnh liệt.
Chúng tôi không bắt nồi lên nấu gì cả cho bửa ăn tối, mà khi thì xuống Quartier
Latin, ngồi ăn ở Tiburce hay Perraudin...,những quán ăn xưa, có nơi để là chổ
Montesquieu từng ngồi soạn De l’esprit de la Lois. Khi thì đến công trường
Bastille,ăn ở quán Collard, ngay bàn Simenon ngồi hư cấu ra viên thanh tra
Maigret nổi tiếng.
Có khi xong công việc, chúng tôi không đói lắm. Ăn qua quýt vài khúc tartine, rồi
lên Montmartre uống rượu. Đứng trong quán Chez Robert chiêu vài ngụm Beaujolais
mùa mới, còn nồng hơi nắng, giữa không khí giang hồ tứ chiếng thiệt thú vị.
Chiêu thêm vài ngụm, đã thấy rung rinh theo ngàn tờ giấy bạc của mọi quốc gia
treo trên trần quán. Quả đất đã hơi nghiêng nghiêng và lung linh muôn ngàn màu
sắc hắt ra từ hàng dãy tranh của đám họa sĩ bốn phương, đang vẽ truyền thần độ
nhật, và mơ ngày thành Toulouse Lautrec.
Émile dẫn tôi nhập vào Paris phong phú. Paris với những nơi ăn chơi thâu
đêm,mãn sáng. Ăn chơi nhầy nhụa ở Pigalle,Saint Denis...Ăn chơi nghệ sĩ ở
Boulevard Saint Michel, Montmartre...Émile cho tôi thưởng thức đặc sản từng miền
nước Pháp. Dạo đó Paris còn quá ít người Việt, tôi tiếc không kiếm đâu ra được
bánh nậm Huế, để trả ơn Émile đã cho tôi ăn bánh Crêpe miền Bretagne. Crêpe từ
món khai vị đến món tráng miệng thơm ngậy mùi lúa mạch.
Gần cuối năm 1974, tôi nhận lệnh gọi đột ngột của Bộ Giáo Dục phải về Việt nam.
Hồ sơ xin học bổng Cao học cần sự xác nhận tôi đã hoàn tất việc tu nghiệp và đã
về trình diện Bộ Giáo Dục. Tin tưởng vào sự giúp đở của Thầy Thứ trưởng mà tôi
có dịp gặp ở Paris , tôi về. Buổi chia tay với Émile không buồn bã lắm, xem như
một chuyến về thăm nhà. Chúng tôi ngồi yên lặng trên bao lơn nhìn qua nghĩa
trang Montmartre tĩnh mịch. Chỉ đến khi chai Bordeaux nhiều tuổi đã cạn, chúng
tôi chào nhau hẹn gặp và nước mắt lưng tròng.
Ngờ đâu về đến nhà, khói lửa đã lan tràn. Hẹn gặp lại nhau chỉ sau vài tháng,
không dè đến mãi tám năm trời. Mà lại còn thêm chuyện éo le. Tôi còn nằm dài
dài trên Norddeich này nghe gió biển hú, biết bao giờ mới về Paris được. Émile
tin vào lá bùa Cheysson,lúc đó là Bộ trưởng Ngoại giao Pháp. Cheysson là cấp chỉ
huy của Émile trong đệ Nhị thế chiến, nên với tình thầy trò cũ, Émile tin là
Cheysson sẽ giúp cho tôi nhập cảnh Pháp. Mà quả tình Cheysson giúp thật, mới có
vụ phái đoàn Pháp tìm tôi ở Palawan. Nhưng đến mười Cheysson cũng không can thiệp
nổi để cơ quan Offra nhận tôi tỵ nạn ở Pháp vì công ước Genève nằm sờ sờ ra đó.
Theo công ước này, đệ tam quốc gia không được nhận một người tỵ nạn, nếu đương
sự đã được quốc gia khác trước đó nhận rồi.
Thôi đành phải từng mỗi ba tháng,xếp hàng trước Sở Cảnh sát thành phố Paris,
xin giấy tạm trú. Sau đó xin giấy cho phép làm việc. Ít ra cho đến khi gia đình
tôi qua Đức rồi hãy tính.
Chuyện rời trại để qua Pháp cũng không đơn giản, nếu không có anh Thông dịch
viên và cô giáo dạy tiếng Đức giúp đở, làm lơ cho. Anh để tôi đi với điều kiện
lúc nào trại cần có mặt là tôi phải về ngay. Cô giáo dạy tiếng Đức lại hết sức
dễ chịu. Cô thấy tôi sau mấy tháng khổ công tự học, đã nói năng được chút chút,
nên không nỡ để tôi ngồi chung với đồng hương, đang vất vã với ba mạo từ
der,die,das...
Mùa Đông 1982 tôi về hẳn Paris và mỗi tháng một lần ca bài “Tàu đêm năm cũ“
Trời đêm mờ mờ ,tôi đến sân Gare ...du Nord, lên chuyến tàu nửa đêm, và sáng
mai khoảng chín giờ đã có mặt ở Norddeich . Công việc ở Trung tâm phân phối
sách bây giờ nhiều gấp năm, sáu lần tám năm về trước. Nhưng nhờ máy móc trang bị
mới, có một bà người Ba lan chuyên lo việc gói hàng, nhận hàng, nên không đến nỗi
vất vả. Émile ở ngoại ô Paris ,vùng Maison Lafitte, với vợ, chỉ lên làm trong
ngày, chiều về. Tôi một mình cai quản cơ ngơi mênh mông, kể cả căn nhà mới mua ở
Saint Ouen, cách chỗ cũ không xa, làm nơi chứa sách.
Bà Madeleine, vợ của Émile, cỡ tuổi năm mươi, là một bà đầm trẻ, đẹp, hao hao
có nét nữ tài tử Catherine Deneuve. Nhưng bà lạnh lùng quá. Buổi tối đi ăn
chung, mừng tôi trở lại Paris, bà không nói một lời, ngoài vài câu thăm hỏi xã
giao. Tội nghiệp cho Émile, luôn kiếm chuyện đùa cho bửa ăn khỏi nặng nề. Tôi
ngờ ngợ có điều gì đó không ổn.
Ba năm trôi qua vùn vụt. Thời gian đánh dấu bằng những chuyến tàu đêm cuối
tháng về Đức. Những đêm trăng, tàu qua Liège. Làng mạc Bỉ ngăn nắp sau những rặng
cây điển điển, đẹp mờ ảo ma quái. Những đêm mùa Đông, tuyết trắng xoá từ Bremen
về Norddeich, tàu lao đi vun vút gợi nhớ đến chuyến tàu của gia đình Bác sĩ
Schiwago về Varikyno lánh nạn. Tôi cũng đang đi tìm nơi ẩn trú cho lòng bình an
trong trận chiến đời trái ngang nhiều chuyện.
Điều tôi ngờ ngợ về bà Madeleine dần dần rõ ràng. Không những không ổn mà còn
trầm trọng nữa là khác.Madeleine dọa sẽ tự tử, ly dị đủ thứ nếu như Émile sang
tên căn nhà ở Saint Ouen cho tôi ,để vợ con tôi sắp qua có chổ cư ngụ.
Gần ngày vợ con tôi rời Việt nam, Émile gầy tọp đi thấy rõ. Tôi biết ông đang
thuyết phục bà Madeleine và trận chiến coi bộ gay go diễn ra từng ngày. Mỗi
sáng ông lên Paris, gượng gạo vui đùa, nhưng không dấu nổi vẻ mệt mỏi trên
gương mặt qua đêm mất ngủ. Tôi cũng qua nhiều đêm thức trắng ,suy nghĩ thử tìm
một giải pháp êm đẹp đôi bề. Tôi không ham những gì Émile dành cho tôi, nhưng bỏ
ông một mình với công việc bề bộn lúc tuổi già, lòng tôi xót xa. Đau đớn hơn là
bỏ một người đã cưu mang mình trong suốt mấy năm vất vơ, khổ cực ở Sài gòn.
Liền ba ngày ,một tuần trước khi tôi về Đức chuẩn bị đón vợ con, Émile không
lên Paris. Ông điện thoại cho biết bị cúm nặng và dặn dò tôi một số công việc.
Tôi linh tính có chuyện không hay và lấy tàu về Maison Lafitte. Émile tiều tuỵ
nhưng không bị cảm cúm gì. Người đang nằm bệnh viện là bà Madeleine. Bà
uống nguyên một hộp Optalidon, sau khi nghe Émile dứt khoát dành căn nhà ở
Saint Ouen cho gia đình tôi và giao công việc làm ăn cho tôi để nghỉ già.
Đến nước này thì tôi chẳng còn gì để suy nghĩ. Tôi không có quyền để cho ân
nhân của tôi đau khổ. Tôi sẽ về Đức đón vợ con, làm lại từ đầu. Émile sẽ hạnh
phúc bên cạnh bà Madeleine. Không có tôi ông sẽ bán cơ sở làm ăn và về căn nhà
xinh xắn bên dòng sông Seine ở Maison Lafitte, sống tuổi già êm đềm.
Lại tàu đêm năm cũ về Đức, nhưng lần này lòng tôi thư thái. Theo nhịp tàu đi,
tôi nghe âm vang tiếng cười sảng khoái của Émile, những đêm ngồi ở bao lơn uống
rượu. Nhìn qua nghĩa trang Montmartre tĩnh mịch, chúng tôi nâng ly mời những
tay đang nằm bên kia, những anh hùng hào kiệt văn nhân thi sĩ nổi tiếng một thời,
rốt cuộc rồi cũng bốn dài hai ngắn, nằm ngay hàng thẳng lối dưới trời sương
Paris lạnh lẽo.
Lê Quang Thông
Frankfurt, Germany
