(Phóng tác theo “What I Learned in the Shoe Store” của
William M. Hendryx)
Khi ba tôi được thuyên chuyển từ Ðà Lạt về Saigon, gia đình tôi cũng phải theo. Cái hạnh phúc của việc từ một tỉnh lẻ được trở về nơi phố chợ không bù cho tôi những mất mát. Năm ấy tôi mới học lớp 10, vừa nghỉ hè nên cha tôi định hết bãi trường sẽ ghi tên cho tôi vào một trung học tư.
Khu phố tôi ở rất đông trẻ cỡ choai choai nhưng xem ra chúng
khôn lanh hơn tôi nhiều. Trẻ con ở tỉnh làm sao sánh được với dân Saigon. Thành
thử, tôi trở thành một đối tượng để trêu chọc và ăn hiếp. Cha tôi cũng e tôi
theo đám thanh niên lêu lổng, đua đòi nên tìm cho tôi một việc tạp dịch tại một
tiệm bách hóa, vừa giữ chân tôi, vừa kiếm thêm ít tiền phụ việc học. Tôi chán lắm
nhưng chẳng biết sao hơn. Công việc cũng nhàn, ngoài việc dọn dẹp, sắp xếp hàng
hóa, tôi còn đặc trách việc bưng hàng cho những người khách ra xe, rồi ràng buộc
kỹ càng cho họ.
***
Một buổi chiều, khi đang xếp đồ cho khách ở ngoài bãi đậu
xe, nhìn ngay xéo bên kia đường tôi chợt nhận ra có một tiệm giày bề thế, chỉ
cách chỗ tôi làm chưa đầy 50 thước. Mặt ngoài tiệm đánh đá mài màu xám đậm
và bên trong cửa kính, những đôi giày bóng lộn xếp ngay ngắn thành nhiều dãy.
Tôi tự nhủ, làm việc trong một căn phòng mát rượi, máy lạnh chạy vù vù, thơm
mùi da mới hẳn hấp dẫn hơn cái cảnh mồ hôi mồ kê chất hàng. Nghĩ vậy, tôi định
bụng khi có dịp sẽ sang xem thử như thế nào.
Mấy hôm sau, tôi diện bộ đồ “kẻng” nhất, còn thẳng nếp thơm
mùi băng phiến vốn chỉ dám mặc trong ngày tết. Ngập ngừng mãi tôi mới thu hết
can đảm đi thẳng vào trong tiệm giày. Một người đàn ông trọng tuổi, dáng cao gầy,
mảnh dẻ đón tôi bằng một nụ cười tủm tỉm. Mái tóc hoa râm chải lật về phía sau
để lộ vầng trán cao và đôi mắt tinh anh. Ông ta đeo kính trắng gọng vàng, mặc
com lê màu xanh đậm và thắt cà vạt lụa điểm những bông hoa nhỏ. Bộ đồ may cắt
khéo, tuy kiểu chững chạc nhưng vẫn có vẻ dân sành sỏi. Tôi cảm thấy mình “lên
đồ” không đến nỗi uổng công.
– Cậu muốn xin việc phải không?
– Dạ.
Tôi trả lời mà không hiểu tại sao ông ta lại biết. Vẫn từ tốn,
ông ta đưa tay bắt:
– Tôi thấy cậu không đi xem những mặt hàng nên tôi biết cậu
không phải vào đây để mua giày.
Nở thêm một nụ cười ông tự giới thiệu:
– Tôi là Hiệp, Trần văn Hiệp, quản lý tiệm này. Tôi đang cần
thêm người đây. Thế nhưng cậu có thích giao tiếp không?
Câu hỏi làm tôi hơi sựng lại. Từ thuở dọn về đây đã gần một
tháng, tôi đã có đứa bạn nào đâu. Trẻ con ở vùng này có vẻ ngỗ nghịch và phe đảng.
Ðã nhiều lần tôi nhủ thầm “Ông đếch thèm chơi với chúng mày” mỗi khi bị chúng
nó trêu chọc. Tôi di di mũi giày, cúi đầu nói lí nhí trong miệng:
– Dạ, cháu cũng thích chứ ạ!
Tuy nói thế nhưng trong bụng tôi không lấy gì làm chắc những
gì mình vừa trả lời. Ông Hiệp để tay lên vai tôi:
– Xem ra cậu không tự tin lắm. Này em! Bán hàng được hay
không, quá nửa là làm sao cho khách thấy thoải mái. Nếu người ta thấy mình thực
tâm muốn giúp người ta, người ta sẽ đáp lại. Lúc đó, nếu không mua hàng, người
ta sẽ thấy như phụ lòng mình. Còn như nếu khách hàng thấy mình có vẻ miễn cưỡng,
chỉ mong cho xong chuyện, thì chả cần đuổi họ cũng ra khỏi tiệm ngay.
Ông ta đặt vấn đề thật giản dị. Tôi có linh cảm là tôi sẽ học
được nhiều điều hay từ một người xem ra thân thiện được với bất cứ ai như ông
già này.
***
Ông Hiệp bằng lòng nhận tôi vào làm ngay chiều hôm đó.
Suốt một tuần, ngoài việc học tên, học giá các mặt hàng, tôi còn được chỉ dẫn
tường tận những điều nên làm, những điều không nên làm. Ông chỉ tay ra ngoài đường
phố đang dập dìu người qua lại:
– Mình không giống như các tiệm giày khác. Người ta chịu mất
công đi đến tận đây thì mình cũng phải đền bù cái gì cho người ta chứ. Cậu có
làm được không?
Tôi lộ vẻ ngờ vực:
– Thế nhưng mình không có cái người ta muốn thì sao ?
Tôi hỏi xong chợt thấy mình bạo gan quá. Nhìn lên ông Hiệp,
tôi thấy ánh mắt ông có vẻ gì không bằng lòng. Ông gằn giọng:
– Không bao giờ, không bao giờ bảo với khách là mình không
có! Mà phải cho khách coi những gì mình có, hiểu chưa?
– Thế nhưng, nếu như …
Không để tôi nói dứt câu, ông Hiệp ngắt lời:
– Ðừng nói gì cả, chỉ đưa cho khách xem mặt hàng. Không phải
lúc nào mình cũng có hàng mà người ta muốn, nhưng lúc nào mình cũng có thể đề
nghị cho người ta một cái gì. Họ nhận hay không là quyền của họ. Còn như mình
ra tay không, tất nhiên là mình phủ nhận cái cơ hội đó, và người ta sẽ đi nơi
khác. Phải nhớ kỹ rằng luôn luôn lúc nào mình cũng có một cái gì khiến khách
hàng phải quan tâm. Có điều là mình phải tìm cho ra món ấy là món nào.
Ông Hiệp dẫn tôi đi một vòng quanh tiệm và giải thích về
cách trả lương tại đây. Lương căn bản tính theo giờ cộng thêm huê hồng hàng bán
được. Huê hồng cao nhất là các loại kem đánh giày, kế đến là các bóp đầm xách
tay và các loại phụ tùng. Sau đó, tôi phải đóng vai một khách hàng mới đến để
ông chỉ cho các “ngón nghề”.
Khi tôi bước chân vào cửa, ông Hiệp tiến ra cúi đầu mỉm cười
đưa tay bắt:
– Chào ông đến thăm bổn tiệm!
Ông cầm tay tôi rồi tiện thể dẫn đến ngồi trên ghế. Tôi còn
hoang mang thì ông đã nhẹ nhàng cởi ngay đôi giày tôi đang đi, kéo chiếc bàn đo
lại:
– Mời ông đứng lên đây!
Và ông khéo léo đo cả hai chân cho tôi. Khi ngồi xuống, tôi
hỏi:
– Ủa sao bác không hỏi cháu cần mua gì?
Ông Hiệp cười một cách hóm hỉnh:
– Có chứ, nhưng lúc này tôi là người làm chủ tình thế. Cậu
thấy chưa, cậu đang ngồi trong một chiếc ghế êm ái, giày cởi ra rồi. Chẳng lẽ cậu
đứng dậy cậu đi ra à. Ðến lúc này mới là lúc tôi hỏi xem cậu cần gì, nghe chưa?
– Thế sao bác không hỏi cỡ chân của cháu có tiện không, việc
gì phải đo cho mất công ?
Ông Hiệp xua một ngón tay, chậm rãi nhưng đanh thép:
– Không, không bao giờ hỏi cỡ chân ai cả! Lý do tôi đo chân
người ta là cốt để tạo cho người khách một ấn tượng là tôi thành thạo, chuyên
môn. Có thế lúc mình đề nghị này nọ người ta mới tín nhiệm mình chứ.
Tín nhiệm. Tự tin. Xem ra cả hai món này tôi đều kém. Thế
nhưng ông Hiệp thì có vẻ chắc như đinh đóng cột và tôi cũng muốn xem lòng tự
tin của ông làm được gì trong việc tiếp khách hàng. Tôi theo ông như hình với
bóng. Tôi để ý đến việc ông pha trò với những người khách mặt khó đăm đăm. Thường
là ông tự diễu cợt cái nhân dáng gầy như que tăm của chính mình. Ông tự vỗ vào
lưng:
– Lòng khòng như tôi mà không chịu khó kiêng khem thì ngồi gẫy
ghế mất!
Một hôm, tôi xem ông tiếp hai bà khách cùng đi mua hàng. Ông
đem ra cho họ không chỉ một đôi giày họ đòi thử, mà đến bốn năm đôi mỗi thứ một
kiểu. Trong khi hai người đứng ngắm nghía soi bóng mình trong gương, ông đưa
thêm cho mỗi bà một cái ví xách tay.
– Ðể xem các bà cầm tay có hợp không nào!
Ông Hiệp nói một cách ân cần. Ông xếp những đôi giày thành
hình bán nguyệt trước ghế của khách ngồi, cạnh mỗi đôi lại để một kiểu ví đầm.
Không biết hai bà khách khi ra khỏi tiệm nghĩ sao, nhưng mặt người nào cũng
tươi rói, tay cầm một bọc trong đựng hai ba đôi giày, hai ba chiếc bóp. Lúc vắng
người, ông bảo tôi:
– Nếu như mình chỉ bán cho người ta những thứ người ta định
tới để mua thì tức là mình không bán được gì cả. Phải bán cho họ ngoài những thứ
người ta muốn còn thêm những thứ khác nữa. Có thế thì hàng trong kho của mình mới
vơi đi, mà tiền huê hồng của mình cũng gấp bội. Lại có ích cho bản thân mình nữa.
Bán hàng khiến cho mình thêm tự tin, và một khi mình đã tự tin rồi thì nó
là cái vốn mình xài suốt đời. Ðức tính đó mình dùng vào đủ thứ việc, vì ở trên
đời này cái gì cũng là một hình thức mua bán, trao đổi cả.
Vài hôm sau, khi phải tiếp người khách đầu tiên trong nghề,
tôi thấy đánh lô tô trong bụng. Ông Hiệp kéo tôi sang một bên trấn an:
– Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Mình
muốn người ta đối với mình thế nào thì cũng xử với người ta như thế. Mọi việc tự
nó sẽ êm xuôi.
Sau khi tôi mời bà khách và cô con gái ngồi, tôi đo chân rồi
cho họ thử mỗi người một đôi dép da thật tiệp với quần áo. Tôi cũng đề nghị họ
dùng thêm loại thuốc xịt chống thấm nước và bàn chải để bảo trì. Bà khách mua tất
cả không đắn đo. Không biết ai là người sung sướng hơn – tôi hay ông Hiệp.
Lẽ dĩ nhiên đâu phải chỉ ngày một ngày hai mà tôi đủ lông đủ
cánh nhưng từ một đứa trẻ rụt rè, thầm lặng tôi đã trở nên một người bán hàng
khéo léo, nhanh nhẹn, hoạt bát. Ðó cũng là nhờ noi gương ông Hiệp. Không mấy
ngày tôi không học ở ông một vài cách thức mới trong việc phục vụ khách hàng.
Một lần, tôi thấy ông đưa ra cho một bà khách to béo đôi
giày cỡ số chín mà ông khăng khăng là cỡ số sáu theo ý bà ta muốn xem. Nở một nụ
cười hơi bí hiểm, ông xoay đôi giày lại chỉ cho thân chủ:
– Bà xem, thợ cẩu thả đóng số ngược đây mà!
Bà khách xem chừng hoan hỉ lắm, mua ngay đôi giày và còn hẹn
sẽ giới thiệu cho bạn bè lại nữa.
Mấy tháng hè qua thật nhanh. Ông Hiệp không phải là ông chủ
mà giống như một ông chú, ông bác thân tình. Hầu như ông chỉ vẽ cho tôi mọi điều
trong đời chứ không cứ gì chuyện mua bán. Một buổi chiều vắng khách tôi đã cảm
động nói với ông:
– Cháu ước gì bố mẹ cháu cũng được như bác!
Ông Hiệp hơi khựng lại, đăm đăm nhìn tôi dò hỏi, đôi kính để
trễ trên sống mũi. Trông ông như một giáo sư già giờ điểm danh trong lớp. Ông
đã gặp bố mẹ tôi vài lần và vẫn thường khen ngợi gia đình tôi.
– Cháu nói thế là sao ?
– Dạ, bác cháu mình nói về đủ mọi vấn đề mà bác không bao giờ
bực mình với cháu. Còn bố mẹ cháu thì lại khác.
Ông Hiệp nhìn ra cửa một hồi lâu. Sau cùng ông quay lại chậm
rãi :
– Này cháu, vừa là bố mẹ lại vừa là bạn không phải dễ dàng
gì. Cháu đừng khó khăn với cha mẹ quá. Bố mẹ cháu là người biết điều.
Ông Hiệp nói đúng. Tuy học ở ông nhiều điều hay nhưng tôi đã
làm gì được cho cha mẹ đâu. Có lẽ tôi phải tỏ ra mình người lớn một chút, bố mẹ
tôi mới coi tôi như đã trưởng thành. Tôi không bao giờ quên được ánh mắt ngạc
nhiên của hai ông bà khi tôi tình nguyện ở nhà trông em cho bố mẹ đi công chuyện.
***
Sau khi nhập trường, tôi vẫn còn làm việc ở tiệm giày vào buổi
chiều. Khi lên lớp 12, bố mẹ tôi bắt phải nghỉ để chuyên tâm vào việc đèn sách.
Tôi báo tin cho ông Hiệp mà lòng buồn rười rượi. Tối hôm đó, khi mọi người làm
đã về hết, tôi ngập ngừng đến trước mặt ông :
– Cháu không biết nói gì để cảm ơn bác. Bác dạy cho cháu nhiều
điều thật bổ ích.
Ông Hiệp nhìn tôi, đôi mắt ông cũng long lanh, mặt ông ửng hồng:
– Bác chả dạy cháu gì cả. Những cái đó là tự cháu làm đấy chứ.
Tôi đáp lại:
– Thế nhưng bác chỉ cho cháu cách làm.
– Ai cũng phải làm như thế – dù là bố mẹ cháu, thầy cô cháu,
hay các bậc trưởng thượng của cháu. Quan trọng là khi bước chân vào đây, cháu
đã sẵn sàng nghe lời và học hỏi. Những cái đó nằm sẵn trong con người của cháu
chỉ chờ dịp là nảy nở thôi.
Tôi lặng thinh suy nghĩ những điều ông nói. Từ khi làm ở
đây, tôi bỏ được tính nhút nhát. Tôi đã dám nhận lời đóng vai tráng sĩ núi Lam
trong vở kịch nhà trường, lại tham gia vào ban tổ chức hội Xuân. Tôi có thêm
nhiều bạn mới ở học đường cũng như ở ngoài đời. Ðối với ai tôi cũng chí tình, cởi
mở như với người thân. Và chính thế mà ai cũng chân thành đáp lại.
Có tự tin thì người khác mới tin mình. Nói ít mà làm nhiều.
Muốn người ta đối xử với mình ra sao thì phải đối xử với người ta như thế. Chỉ
nghĩ đến cho hơn là đến nhận. Những qui luật đơn giản đó đã trở thành thiên
tính thứ hai của tôi và tôi áp dụng vào mọi nơi, mọi chốn, từ công việc đến nhà
trường, ngoài xã hội.
Ông Hiệp không chỉ dạy tôi nghề bán giày mà còn chỉ cho tôi
một triết lý nhân sinh. Không phải lúc nào mình cũng có những gì người khác
mong mỏi. Nhưng không phải vì thế mà mình không có một cái gì để đáp lại. Không
có giày hay một hộp kem, thì ít nhất cũng có bản thân, tư cách, và lời ăn tiếng
nói của mình.
