Truyện Kiều còn có tên là Đoạn Trường Tân Thanh, đây là tác phẩm văn học cổ điển nổi tiếng và phổ biến sâu rộng nhất ở Viêt Nam. Có lẽ không ai là không biết, cho dù đó là trí thức hàn lâm hay bình dân lao động, ngay cả những người không biết chữ cũng biết và thuộc dăm ba câu thơ Kiều, thậm chí nhiều người thuộc làu làu nhiều đoạn hoặc thuộc lòng cả tác phẩm.
Truyện Kiều là tác phẩm phóng tác, chuyển thể từ tác phẩm
Vương Thúy Kiều của nhà văn Trung Hoa, Thanh Tâm tài nhân (còn gọi là tài tử).
Cái tài tình của cụ Nguyễn Du là sử dụng ngôn ngữ một cách nhuần nhuyễn, điêu
luyện, mượt mà…để chuyển thể một tác phẩm văn xuôi thành thơ, đưa thể thơ lục
bát lên đến độ phát triển hoàn thiện nhất. Truyện Kiều in sâu vào tâm thức của
bao thế hệ người Việt yêu văn chương, thơ ca. Nội dung truyện Kiều có lẽ ai
cũng biết nên không cần phải nói làm gì. Trong phạm vi bài viết này chỉ tản mạn
chút về cái ghen của người đàn bà. Cơn ghen của nhân vật Hoạn Thư trong Truyện
Kiều như thể đã là hình tượng tiêu biểu cho máu ghen của đàn bà: “Nổi máu Hoạn
Thư”.
Hoạn Thư và hình ảnh “sư tử Hà Đông” là điển cố văn học, là
biểu tượng cho cái sự ghen tuông của người đàn bà. Thật sự thì cái ghen của Hoạn
Thư khác hẳn với cái ghen của phần đông đàn bà ở thế gian này. Cái ghen của Hoạn
Thư nó “văn hóa” hơn, “cao cấp” hơn và cũng “nghệ thuật” hơn hẳn cái ghen của hầu
hết nhi nữ thường tình. Những người đàn bà ở thế gian này hễ thấy hay nghi ngờ
chồng mình quen, cặp bồ hay ăn ở với người khác là lập tức lồng lộn lên, làm ầm
ĩ, đánh ghen và làm bao nhiêu việc khác. Chuyện đó rất bình thường, bởi vậy mà
Hoạn Thư cũng từng nói: “Ghen tuông thì cũng người ta thường tình” hoặc là “Chồng
chung đâu dễ ai chìu cho ai”. Đọc truyện Kiều ta thấy cái ghen của Hoạn Thư
khác hẳn với cái lối ghen tuông thường tình kia, không dễ gì có người đàn bà thứ
hai nào ghen một cách “thượng đẳng” như thế. Có lẽ do sự giáo dục trong gia
đình, do hấp thụ văn hóa trong môi trường của nhà quan lại bộ thượng thư, một
dòng dõi trâm anh thế phiệt. Hoạn Thư ghen nhưng không hề lồng lộn, la mắng, chửi
rủa, đánh ghen ồn ào…Hoạn Thư tuyệt nhiên im lặng, biết rõ chân tơ kẽ tóc nhưng
giả tảng như không có gì (mặc dù trong lòng như lửa đốt), thậm chí còn bịt kín
mọi tin tức về cuộc tình vụng trộm của chồng. Khi có kẻ mách tin để lập công.
Hoạn Thư lập tức:
“Vội vàng xuống lệnh ra uy
Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng”
Thât bản lãnh cao tay, không dễ có người đàn bà thứ hai nào
có thể làm được. Hoạn Thư biết rõ từng cử chỉ hành vi của cuộc tình Thúc
Sinh và Thúy Kiều nhưng vẫn đóng vai người vợ thủ phận an thường, không hay biết
việc gì. Khi Hoạn Thư ra tay thì vượt lên trên lẽ thường tình, cứ như thể một
tay trùm chính trị ra tay với đối thủ của mình. Hoạn Thư cho tay chân bộ hạ bắt
cóc Thúy Kiều về dinh và sung vào đội ngũ thị tỳ. Đợi đến khi Thúc Sinh về thăm
nhà mới sai Kiều ra hầu rượu, hầu đàn “Bắt khoan bắt nhặt đến lời/ Bắt dâng tận
mặt, bắt mời tận tay”, bắt khoan bắt nhặt đủ điều khiến cho Thúc Sinh tan nát
cõi lòng, Thúy Kiều cũng chết dở sống dở, cả hai nhìn nhau mà không dám nhận
nhau, không thể thốt nên lời. Hoạn Thư như thể một tay phù thủy còn Thúc Sinh
và Thúy Kiều như hai con rối, mặc sức điều khiển, hành hạ cho bõ công ghen tức
âm thầm bấy lâu nay. Hoạn Thư ngồi thưởng thức vở bi hài kịch do chính mình dựng
nên. Hoạn Thư hả dạ để cho thỏa nỗi đau ngầm xưa nay, quả thật một tay cao thủ
vượt lên trên sự ghen tuông, đánh ghen thông thường của đàn bà. Hoạn Thư dùng
thuật tâm công, đánh vào lòng, đánh cho đau đớn vật vã mà nạn nhân không thể thốt
nên lời, không sao chống đỡ được. Hoạn Thư chơi trò mèo vờn chuột, không giết
nó, không ăn nó, chỉ vờn cho nó sống không được, chết không xong.
Một lần khác, khi Hoạn Thư bắt gặp Thúc Sinh và Thúy Kiều
tâm sự than thở bên Quan Âm các, nếu là một người phụ nữ bình thường ắt hẳn sẽ
lồng lộn lên, chau mày nghiên răng, mắng mỏ, đánh đập, xé áo quần, làm nhục…
nhưng đằng này Hoạn Thư vẫn cười nói tươi tỉnh như không có chuyện gì xảy ra.
Hoạn Thư và Thúy Kiều là hai nhân vậy nữ chính trong truyện,
tuy có vai trò, địa vị khác nhau trong xã hội nhưng có chung một điểm cùng là nạn
nhân của cái truyền thống trọng nam khinh nữ trong xã hội phong kiến. Tùy theo
thời thế mà có lúc người này ở thế thượng phong, lúc khác lại thất thế. Theo thời
thế mà cả hai vờn nhau, hành xử khinh - trọng theo lẽ thường tình. Riêng Hoạn
Thư vẫn có những cử chỉ hành vi vượt trên lẽ thường tình.
Khi Thúy Kiều được thời đắc thế, nàng được Từ Hải cho trọn
quyền báo ân báo oán. Thúy Kiều đã trả thù một cách tàn bạo và man rợ hơn sự tưởng
tượng của mọi người. Thúy Kiều đã hành xử dã man gấp ngàn lần Hoạn Thư.
Trong quyển Kin Vân Kiều truyện, Thanh Tâm Tài Nhân miêu tả
cuộc trả thù của Thúy Kiều vô cùng rùng rợn, miêu tả từng chi tiết, từng cử chỉ
hành hình kéo dài mấy mươi trang sách. Khi cụ Nguyễn Du chuyển thể thành Truyện
Kiều, cụ lượt bỏ toàn bộ những chi tiết tàn khốc của cuộc trả thù. Cụ chỉ viết
vỏn vẹn một câu: “Thề sao thì lại cứ sao gia hình”. Có lẽ thấy những chi tiết
hành hình quá dã man, quá tàn ác, vượt ngoài sức tưởng tượng của con người nên
cụ cắt bỏ hẳn đi. Những chi tiết hành hình trong cuộc trả thù của Thúy Kiều
cũng chính là hiện thực của lịch sử phong kiến Trung Hoa. Suốt mấy ngàn năm
qua, người thắng lập tức trả thù kẻ bại bằng những phương pháp dã man nhất, tàn
độc nhất, kinh khủng nhất mà họ có thể tưởng tượng ra.
Thúy Kiều cho bắt Hoạn Thư về doanh trại, lột hết quần áo,
trói hai ngón tay cái và treo trên xà, hai ngón chân cái vừa đủ để quẹt trên mặt
đất. Hai đứa thị tỳ to, khỏe nhất đứng trước mặt và sau lưng Hoạn Thư, cả hai
dùng roi mây to bằng cườm tay, một đứa quất từ trên xuống, một đứa quất từ dưới
lên. Quất đến nát bấy thân thể Hoạn Thư. Truyện miêu tả Hoạn Thư chết đi sống lại,
oằn oại như con lươn bỏ trong nước vôi, trong tro nóng…nỗi đau không bút mực
nào tả nổi, trên thân thể Hoạn Thư không còn một li nào lành lặn. Với Tú Bà thì
Hoạn Thư cho bọc sáp, tẩm dầu vông, trói ngược đầu xuống đất chân lên trời, gắn
hai tim đèn vào gan bàn chân và đốt cho đến chết! thật vô cùng rùng rợn, cái chết
chậm, chết từ từ, nỗi đau đớn cùng cực này không sao có thể hình dung nổi. Thúy
Kiều nghĩ ra cách đốt đèn trời này vì ngày trước Tú Bà thề có đèn trời soi xét.
Bạc Hạnh ngày trước thề độc “Kìa gươm nhật nguyệt nọ đao quỷ thần” thì Thúy Kiều
chế ra phương pháp hành hình khác. Cho bó y vào gỗ và mạt cưa rồi sai lính dùng
cưa để cưa y ra thành trăm mảnh. Mã Giám Sinh bị căng tứ chi trên giá gỗ, xẻ
toác thịt da, Kiều cho lính dùng móc sắt móc vào những chỗ gân trong thịt rồi
giật ra. Cái đau đến tột cùng, từng tế bào thần kinh nhạy cảm gây nên nỗi đau đớn
không có bút mực nào tả được. Sở Khanh thì bị lột trần truồng, Thúy Kiều cho
hai tên lính thay phiên nhau dội một gáo nước lạnh và một gáo nhựa thông nấu lỏng,
chỉ trong một lát thì Sở Khanh như con nhộng bị bọc trong lớp vỏ nhựa thông.
Sau đó Thúy Kiều cho bọn lính từng tên lại gỡ một miếng nhựa thông, miếng nhựa
thông ấy dính một phần da thịt của Sở Khanh. Vô cùng rùng rợn, cái chết trong sự
đau đớn tột cùng. Tôi đọc qua một lần đã hơn ba mươi năm rồi mà giờ vẫn còn ám ảnh,
muốn xóa đi những hình ảnh ấy trong đầu mà không sao xóa được. Không hiểu sao
con người có thể nghĩ ra những cách hành hình dã man và tàn độc đến như thế? Phải
chăng là thú tính trong con người trỗi dậy khi họ nắm được quyền lực trong tay?
Phải chăng là sự sân hận ngút ngàn không sao buông xuống được? Đêm trường cổ đại
và trung đại của phong kiến Trung Hoa là những cuộc báo thù, trả thù vô cùng khủng
khiếp: chặt đầu, lột da, lăng trì, tùng xẻo, nấu dầu, ôm cột đồng, hủ hình, yêu
trảm, ngũ mã phân thây… Trong chính sử có thể coi cuộc trả thù của bà Lã Hậu đối
với nàng Thích Cơ là một trường hợp điển hình nhất: Lã Hậu cho bắt nàng Thích
Cơ đem về chặt hết tay chân, cắt vú, cắt tai, cắt mũi, móc mắt, rạch mặt, cát
lưỡi…rồi bỏ trong nhà xí cho người tiểu tiện lên. Trả thù như thế này thì địa
ngục cũng không bằng. Địa ngục chính ngay trần gian này chứ đâu phải nơi nào xa
xôi. Quỷ sứ chính là những con người ra lệnh và thi hành việc hành hình kia chứ
đâu phải ai xa lạ. Con người là loài linh trưởng bậc cao, tự nhận mình phát triển,
văn minh nhưng xem ra thú tánh còn tàn ác, dã man, mông muội hơn động vật. Con
vật có thể giết con mồi nhưng con vật không có ý niệm trả thù, không có cái thú
tánh hành hạ cho nạn nhân chịu đau đớn cùng cực. Nhà Nho bảo “Nhân chi sơ tánh
bổn thiện” thật ra thì con người sinh ra có cả những chủng tử thiện và ác trong
tâm thức, khi lớn lên trong hoàn cảnh nào đó thì những hạt giống thiện ác kia sẽ
phát triển theo xu hướng ấy, nếu môi trường thiện thì tánh thiện vượt trội, còn
như trong môi trường ác thì tánh ác sẽ thắng thế. Thúy Kiều vốn con gái nhà
lành, nho nhã, học thức…nhưng rồi bị nạn, bị đày đọa hơn mười lăm năm với bao
nhiêu khổ nhục nên đã căm hận thấu xương. Khi được Từ Hải rước về dinh và cho
trọn quyền báo thù và nàng đã trở thành một người trả thù tàn bạo như thế. Giả
như cuộc sống Thúy Kiều hoàn toàn êm đẹp, gia đình không mắc nạn thì nàng không
thể nào nghĩ đến những cách hành hình kinh khủng ấy. Những hạt giống ác, thù hận
trong tâm thức Thúy Kiều nó đã phát triển trong mười lăm năm và nhất là trong
cái môi trường nàng trở thành áp trại phu nhân.
Ất lăng thành, 0426
