Khi gia đình tôi theo đoàn người Hà Nội tản cư về các vùng quê, tôi mới 7 tuổi. Đầu tiên chúng tôi tới Sở Hạ rồi sau đó, để chắc ăn hơn, chúng tôi bỏ xa Hà Nội hơn nữa về làng Rùa. Trước khi tản cư, gia đình tôi sống tại làng Giáp Bát, ngoại thành Hà nội, một làng vừa quê vừa tỉnh, tỉnh nhiều hơn quê. Từ Hà Nội, chỉ vừa qua khu Khâm Thiên là tới làng tôi. Vỏn vẹn vài năm thơ dại tại làng, tôi cũng đã kịp có một con ma trong đầu.
Làng tôi hồi đó ra sao, trường tiểu học tôi theo học nằm ở
đâu, thày dạy lớp vỡ lòng của tôi tên chi, đường làng quanh co ra sao, chúng
không bám vào trí nhớ của tôi. Duy có cây hoa gạo tôi không bao giờ quên được.
Đây là một cây cổ thụ, mùa hoa nở đỏ rực, ban ngày chúng tôi thường quanh quẩn
nhặt những bông hoa rụng chơi nhiều trò con nít. Rễ cây chằng chịt với những
ông bình vôi được dân làng vứt bừa chung quanh hợp với những tàng lá rậm rịt
khiến gốc cây lúc nào cũng tối tăm như ôm cả một bí mật trong lòng. Một cái cây
như vậy phải có ma. Khi tối trời, mỗi lần phải đi qua cây hoa gạo này, người
nào cũng rảo bước như chạy trốn. Con ma nằm giữa khối âm u của cây hình dáng ra
sao, mỗi người tả một cách. Có điều mọi người đều đồng ý đó là một khuôn mặt mờ
mờ ảo ảo thấp thoáng sau giải voan trắng phất phơ theo gió.
Tôi không nhìn thấy ma nhưng trong đầu vẫn có con ma đó.
Nhưng nhiều người lớn quả quyết đã tận mắt nhìn thấy con ma. Hình như chuyện thấy
ma là một thành tích chỉ dành cho những người can đảm nên ai cũng muốn mọi người
khâm phục họ có lá gan to. Còn họ có thấy thật không, ai mà kiểm chứng được.
Vậy ma có thật không? Các nhà khoa học cố dùng kính hiển vi soi rọi vào chuyện ma quái này. Trong thời gian bị tù cải tạo, ai cũng mong ngày trở về cùng gia đình. Trong tuyệt vọng khi chẳng có một giải đáp nào cho vấn đề sinh tử đó, chúng tôi bày ra chuyện mà khi còn là học sinh, hầu như ai cũng đã trải qua. Đó là chuyện cầu cơ. Trong một lần đi lao động, một anh đã đào được một mảnh ván mục mà anh tin là một mảnh của một cỗ quan tài chôn lâu ngày dưới đất. Buổi tối, khi trại đã tắt điện, chúng tôi đốt đèn cầy hỏi người cõi âm chuyện chúng tôi đang nặng mang trên cõi trần. Chúng tôi lấy một tấm bìa cũ, vẽ một bảng chữ cái, chữ số và hai ô ghi “Có” và “Không”. Cứ hai người một, chúng tôi đặt tay lên miếng ván cây, thầm gọi hồn những người thân đã qua đời, hỏi chừng nào chúng tôi được về với gia đình. Khi tôi cùng một anh bạn tù cùng dí ngón tay trên miếng ván, miếng ván chạy khi nhanh khi chậm trong khi chúng tôi không đẩy đưa chi cả. Khi đó, chúng tôi tin chính linh hồn người chết đã di chuyển miếng ván từ chữ này tới chữ khác. Có thực một âm hồn đã về mách bảo tin tức cho chúng tôi không? Chúng tôi tin là có nhưng các nhà khoa học không dễ tin như chúng tôi. Nhà khoa học người Anh chuyên về vật lý và hóa học Michael Faraday (1791-1867), người đã đặt nền móng cho kỹ thuật điện từ (electromagnetic) giải thích hiện tượng này. Theo ông, mảnh gỗ di chuyển là nhờ ở hiệu ứng vô thức, sức mạnh cơ bắp của những người chơi gây ra sự chuyển động, do họ kỳ vọng mảnh gỗ sẽ di chuyển. Chẳng có hồn ma nào ở đây cả.
Nhiều người quả quyết đã gặp ma, thậm chí tiếp xúc với ma. Họ
“nổ” cho oai vậy thôi. Những người có vẻ thật thà hơn thường cho biết họ nhìn
thấy bóng người lướt qua tầm mắt rồi biến mất. Họ tin là đã gặp ma nhưng các
nhà khoa học đã giải thích hiện tượng này. Tại Thụy Sĩ, họ tiến hành kích thích
điện não vùng đỉnh thái dương trái của một bệnh nhân nữ mắc bệnh động kinh. Bệnh
nhân cho biết thấy có bóng người ngồi phía sau bắt chước từng cử động của cô.
Các nhà khoa học giải thích hiện tượng này. Do kích thích điện vùng não chịu
trách nhiệm giúp con người xác định ý thức về bản thân, giúp nhận ra sự khác biệt
giữa họ và người khác, dẫn đến việc tưởng tượng ra bóng người bắt chước trong đầu.
Có người cho là mình gặp ma khi tự nhiên thấy trong người lạnh
toát. Họ tin con ma mang khí lạnh vô người họ. Ma cần năng lượng để hiện hình
nên thu hút nhiệt lượng từ môi trường chung quanh để tạo ra điểm lạnh. Không
đúng. Nếu lúc đó họ chịu khó nhích người, di chuyển sang bên trái hoặc phải vài
bước, họ sẽ cảm thấy nhiệt độ trở lại bình thường. Khoa học gọi đây là “điểm lạnh”.
Các nhả khoa học tìm hiểu hiện tượng này và thấy thường không khí mát mẻ thổi
vào căn nhà qua cửa sổ hoặc ống khói. Khi căn phòng bị khép kín, nếu có một khối
không khí khô đi vào căn phòng ẩm ướt, khối không khí khô này bay dưới thấp, kết
hợp với khối không khí ẩm ướt hơn bên trên trần nhà sẽ tạo ra một dòng khí xoáy
đối lưu. Người đứng đúng chỗ đó có cảm giác lạnh.
Có người nghe thấy những âm thanh ma quái và cho rằng đó là
tiếng gào thét của ma. Điều này cũng không đúng. Tai con người chỉ nghe được
các âm thanh trong dải tần số từ 20 tới 20.000Hz. Âm thanh dưới 20 Hz được gọi
là sóng hạ âm, con người…điếc đặc. Sóng hạ âm này được tạo thành từ các cơn
bão, gió hoặc các thiết bị điện tử hay từ dạ dày của mình. Nó tạo ra một cảm
giác sợ hãi, bất an. Khi sóng hạ âm dao động ở tần số 19 Hz, gần bằng với tần số
cử động nhãn cầu của mắt người thường là 20Hz, sẽ gây nên hiện tượng cộng hưởng
làm cho chúng ta nhìn thấy hình ảnh âm không có thực. Khi chúng ta bước vào các
tòa tháp cổ hay đển, chùa lúc có gió mạnh thổi vào các bức tường cũng tạo ra
sóng hạ âm. Những người cư ngụ quanh các địa điểm này sẽ nghe thấy tiếng gió
gào thét dọc các hành lang nghe như tiếng bước chân của ma trong đó. Chúng ta
có một trường hợp cụ thể. Một ngày trong năm 1980, kỹ sư người Anh tên Vic
Tandy đang làm việc trong phòng thí nghiệm bỗng cảm thấy một cơn ớn lạnh ập đến.
Ông cảm thấy hoang mang tột cùng, như ngày tận thế đang tới. Khi bình tĩnh lại,
ông nhìn thấy một bóng ma màu xám bay ngang qua và biến mất trong nháy mắt. Ông
là một người không tin chuyện ma quái dù thấy rõ ràng trước mắt. Ông tìm tòi kỹ
trong phòng, thấy một chiếc quạt đang quay phát ra âm thanh với tần số 18,9 Hz.
Tai ông không thể nghe được âm thanh từ quạt nhưng nhãn cầu của ông đã tạo ra
những rung động mạnh ở tần số này khiến ông thấy có bóng màu xám vụt qua.
Photo: BarBus
Con người có thể bị ảo giác do nhiễm khí độc CO. Trong một tạp
chí chuyên về nhãn khoa xuất bản năm 1921, bác sĩ nhãn khoa William Wilmer có
viết một bài kể về chuyện một gia đình sống trong ngôi nhà bị ma ám. Mọi người
bị ám ảnh bởi những tiếng đóng cửa ồn ào, đồ đạc di chuyển lung tung, tiếng
bước chân trong các phòng trống. Cây cối trồng trong nhà chết dần chết mòn. Họ
không biết là ống khói lò sưởi trong nhà bị nghẽn. Thay vì được tỏa ra ngoài
nhà, khói lại bay ngược vào trong nhà. Cả gia đình bị nhiễm khí độc carbon
monoxide (CO). Chất khí này không mùi, không màu nên khó phát hiện. Cả
nhà bị mệt mỏi, buồn nôn, lú lẫn. Khi bị nhiễm độc khí CO, con người thường có ảo
giác giống như nhìn thấy các bóng ma và hiện tượng ma quỷ.
Có một thời người ta đồn đại một số phòng trong tòa nhà
Empire State cao 102 tầng nằm tại giao điểm của Đại Lộ 5 và đường 34 ở New York
có ma ám. Một số sinh viên theo học kỹ thuật môi trường đã tới tìm hiểu. Họ tìm
thấy nơi đây có nhiều bào tử nấm hơn bình thường. Các chuyên gia về nấm cho biết
nấm mốc có thể gây ra những hiện tượng như lo lắng, trầm cảm, nặng hơn có thể
làm rối loạn tâm thần dẫn đến ảo giác. Ma từ đó mà ra!
Từ những giải thích các hiện tượng khiến con người nghĩ rằng
có ma kể trên, chúng ta có thể kết luận ma là một thứ không có thật. Nhưng ma vẫn
ám ảnh con người. Năm 2005, viện thăm dò nổi tiếng Gallup đã làm một cuộc thăm
dò đưa tới kết luận có tới 37% người Mỹ tin là có ma. Niềm tin của họ được một
tên tuổi nặng ký tên Albert Einstein hỗ trợ. Theo nhà bác học nổi tiếng này,
năng lượng không thể được tạo ra hay phá hủy mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang
dạng khác. Vậy thì khi chúng ta chết đi, năng lượng của cơ thể chúng ta sẽ đi
đâu? Liệu chúng bằng cách nào đó có biến thành ma hay không? Nghe thì có lý
nhưng nếu nắm rõ vật lý cơ bản thì sự việc giản dị hơn nhiều. Sau khi một người
qua đời thì năng lượng của họ đi theo con dường chuyển hóa năng lượng giống như
của mọi sinh vật khác sau khi chết: chuyển vào môi trường. Năng lượng được giải
phóng dưới dạng nhiệt và chuyển hóa vào các sinh vật ăn xác chết. Nếu thi thể
được chôn cất thì giun, vi khuẩn hoặc cây cối sẽ hấp thụ chúng. Nếu điểu táng
thì các loại chim hoặc thú vật hoang dã sẽ hấp thụ.
Photo: brenkee
Ma là một thứ ám ảnh con người dễ sợ. Hàng chục ngàn người
trên thế giới đã đi săn ma. Theo thống kê của nhà nghiên cứu Sharon Hill của
trang mạng Doubtful Newsblog thì có khoảng 2 ngàn nhóm săn ma
nghiệp dư trên thế giới. Họ sử dụng những thiết bị khoa học cao như máy đo bức
xạ Geiger, máy đo điện từ trường EMF, máy dò ion, camera hồng ngoại
và micro siêu nhạy. Trang bị tận răng đi tìm ma như vậy nhưng
chưa có nhóm nào chứng minh được một cách khoa học về sự hiện diện của ma.
Có chăng là ma chỉ hiện diện trong chuyện kể. Ai trong chúng
ta không từng đã có lần rợn tóc gáy khi nghe kể chuyện ma. Thích nghe kể nhưng
sợ vãi nước. Tuổi thơ của chúng ta hầu như ai cũng đã trải nghiệm chuyện vừa
nghe vừa run nhưng vẫn thích nghe. Sao các nhà kể chuyện, thường là những người
lớn trong gia đình, lại có nhiều chuyện ma đến như vậy. Người nghe là những tên
bé bỏng chúng ta vừa nghe vừa rúc vào người ngồi bên hoặc chui vào trong chăn
trong mền, tai vẫn cứ vểnh lên như ăng ten của loài kiến. Đó là một cái thú đau
thương không dễ gì bỏ qua. Niềm tin ma có thật được gieo vào đầu óc non nớt của
mỗi đứa trẻ khi chúng chưa có ý thức, chưa có được lập luận sắc bén để bác bỏ
nó. Khi niềm tin này được ấn định trong tiềm thức, nó sẽ trở thành một niềm tin
chuyên chế và vô điều kiện. Đứa trẻ sẽ lớn lên với niềm tin đó. Niềm tin này sẽ
chiếm lĩnh tâm trí của chúng khi chúng nghe thấy tiếng ván sàn kêu cót két hoặc
khi cảm thấy ớn lạnh trong người. Năm 1990, các nhà tâm lý học tại Đại học
Illinois đã làm một thí nghiệm. Họ tuyển dụng hai nhóm tình nguyện tới viếng
Nhà Hát Quảng trường Lincoln, một địa điểm đã bị bỏ hoang trong hàng thế kỷ. Hướng
dẫn viên của nhóm thứ nhất nói với nhóm đây là một nhà hát bị ma ám. Nhóm thứ
hai có hướng dẫn viên không đề cập đến ma quỷ. Kết quả cho thấy nhóm thứ nhất cảm
thấy sợ hãi và nhiều tưởng tượng tới những điều kỳ lạ hơn nhóm thứ hai. Ông
Chris French, trưởng đơn vị Nghiên Cứu Tâm Lý Dị Thường của đại học London cho
biết : “Chúng ta có xu hướng như vậy bởi vì chúng ta là một sinh vật có
trí liên tưởng mạnh mẽ”. Con người nắm bắt các tín hiệu bên ngoài qua mọi giác
quan. Chúng ta học được cách cảnh giác cực độ để phát hiện và trốn thoát khỏi
các mối đe dọa. Đôi khi hệ thống giác quan đó làm việc quá mức, vẽ ra những gì
mà chúng ta không nhìn thấy, không có thật và thuyết phục chúng tin đó là thật.
Cứ như vậy, những bóng ma bắt đầu được thêu dệt từ những tiếng ồn ngẫu nhiên hoặc
những hình ảnh mờ ảo. Khoa học có một thuật ngữ cho hiện tượng này: pareidolia.
Poster phim The Ring (2002)
Nhưng các tổ sư dọa ma của chúng ta có vai vế hơn nhiều. Đó
là các người làm văn học nghệ thuật. Các phim ma như The Conjuring,
Annabelle, The Nun cho tới The Ring là những phim
kinh dị vừa xem vừa run nhưng vẫn chong mắt lên màn hình. Chúng ta cũng khoái
chí khi đọc các truyện ma của Bồ Tùng Linh. Thế hệ chúng tôi cũng khoái gặp ma
trong Vàng và Máu và Bên Đường Thiên Lôi của
Thế Lữ, Ai Hát Giữa Rừng Khuya của Tchya.
Ma như vậy là thứ bá láp nhưng vẫn tồn tại theo thời gian.
Chỉ có một thứ ma thật hiện diện rõ ràng là ma-phăm! Thứ ma này ít ông không
rái sợ. Tôi không hiểu sao ông Nguyễn Ngọc Ngạn lại được mặc nhiên coi là Chủ Tịch
của Hội SoVo. Ông xứng đáng với địa vị này vì ông đã chơi một cú hồi mã thương
ngoạn mục. Ông viết và đọc chuyện ma thiệt rùng rợn khiến cho các bậc nữ nhi sợ
vãi linh hồn!
