09 June 2026

VUA BÃI SAU - Nguyễn Đông A

Bãi Sau Vũng Tàu, hình chụp tháng 8.2025.

Biển.

Sóng.

Cát.

Và tiếng khóc…

Ngày xưa, Bãi Sau chỉ là dải cát trắng.

Gió thổi. Muỗi kêu.

Sóng vỗ.

Người xưa ở Vũng Tàu kể lại, hồi chưa có khách sạn chen tầng, chưa có ghế dù san sát, Bãi Sau chỉ là một dải cát trắng hoang vu, gió lộng bốn mùa. Ban đêm, dân chài thề rằng họ nghe có tiếng người đàn bà khóc giữa sóng, khóc dài như tiếng sáo rúc dưới đáy biển. Ông bà gọi đó là “Mẹ Biển”, hồn vía của muôn kiếp người ngã xuống nơi khơi xa. Ai sống nhờ biển mà tham lam, giành giật, nuốt chỗ sống của kẻ khác, thì hồn vía Mẹ Biển sẽ về “đòi phần”.

Một lần, lão chài già đứng ngay mép cát, chỉ tay xuống biển mà nói:
– Nhớ nghe! Sóng cho ai thì sóng lấy lại. Bãi biển này không ai làm vua được. Chỉ có vua duy nhất: là nước thủy triều.

Người ta nghe rồi cười khẩy, tưởng chuyện hù con nít. Nhưng từ đó, hết lớp ông chủ bãi, ông trùm ghe, đến tay vua nhà hàng nổi lên rồi chìm xuống, y như cát lở sau mỗi con sóng lớn.

Đến đời Ngô Văn Kỉnh, cũng vẫn cái bãi biển ấy. Nhưng ông khác: dựng tòa khách sạn cao ốc soi bóng xuống nước, mở chuỗi nhà hàng sáng choang đèn, gom hết ghế dù, sạp nước, quầy bán vặt về một mối. Người ta thì thào gọi ông là “Ông Vua Bãi Sau”.

Chiều nào, từ tầng mười bảy khách sạn Hoàng Lan Palace, ông đứng nhìn ra biển. Dưới kia, dải bờ cát bị chia ô, hàng ghế dù thẳng hàng như quân đội, từng đoàn khách chen chúc, tiếng loa phóng từ nhà hàng của ông át cả tiếng sóng. Ông cười khùng khục, tự nhủ:
– Từ bán vé số, bán số đề, ai ngờ nay tao mới là kẻ chia phần biển này. Sóng cũng phải nghe tiếng tiền!

Nhưng có đêm, trong men say, khi thành phố đã tắt đèn, ông lại nghe tiếng vọng mơ hồ, tiếng đàn bà khóc hòa trong tiếng gió rít qua cửa kính. Ông mở tung cửa sổ, nhìn xuống sóng đập trắng bờ kè, rùng mình.
Hay chỉ là tiếng sóng thôi? Hay là cái lời nguyền hồi xưa?
Ông xua đi. Nhưng tiếng đó, như hạt muối bám trên môi, càng gạt càng mặn.

Chiều đó, Bãi Sau nắng gắt, biển óng lên như tấm lụa xanh dằn từng nếp sóng bạc. Bà Tư trải cái mẹt nhỏ, bán mấy trái cóc, ổi, me chua, thêm vài bịch bánh tráng trộn. Kế bên là thằng Lượm, dựng xe nước mía cọt kẹt, tay quay lọc cọc, mồ hôi rịn ra như tắm.

– Lượm, đưa ly mía đá coi! Khách kêu.

Bỗng nhiên, một tốp bảo vệ áo xanh ùa tới. Dẫn đầu là thằng Bảy “sẹo” – tay thân tín của Kỉnh. Nó quát:
– Bà Tư, dẹp liền! Lượm, đẩy xe đi chỗ khác! Từ nay chỗ này của Hoàng Lan Palace quản lý. Không được tự ý bán lề đường nữa.

Bà Tư nheo mắt:

– Cha nội, tui bán mấy chục năm rồi. Hồi chỗ này còn toàn cát với bụi, có ma nào thèm ngó tới. Giờ tụi bây nhào vô đòi dẹp, coi kỳ không?

Thằng Bảy cười nhếch mép:
– Kỳ gì? Ông chủ mới quyết không cho tụi buôn lẻ lấn chiếm nữa. Bãi biển giờ làm du lịch lớn, văn minh, sạch đẹp.

Lượm nóng mặt, buông tay khỏi cần quay xe mía, giọng hất hàm:
– Văn minh gì? Văn minh là phải có cho dân nhỏ sống ké chớ. Chớ không lẽ du khách tới đây, tụi tui không được bán miếng ăn, miếng uống?

Giữa lúc đôi bên hằm hè, thì một chiếc Toyota đen bóng lừ từ trờ tới. Cửa mở, ông Kỉnh bước xuống. Bộ vest xám, cà vạt đỏ chói, giày da bóng loáng. Ông nheo mắt nhìn thẳng ra bờ cát, tay cầm điếu xì gà chưa châm lửa.

Bà Tư nhận ra ngay, buông gánh, chống nạnh:

– Ủa, ông Kỉnh! Hồi đó tôi còn bán số đề cho ông mà. Giờ giàu sang rồi, ông quay lưng, đuổi sạch tụi tôi hả?

Ông Kỉnh khựng lại một chút. Cái danh xưng bà Tư vang lên như kéo ông về những ngày xưa nghèo rớt, chạy bàn đề trong hẻm. Ông liếc bà, khóe môi nhếch thành nụ cười nửa miệng:

– Ừ, hồi đó tao mua số của bả. Nhưng giờ khác rồi, bà Tư. Bãi này phải chỉnh đốn, sạch sẽ, văn minh. Du lịch lớn đâu thể để lề đường xập xệ, bẩn thỉu.

– Văn minh hay độc quyền? Ông gom hết ghế dù, sạp nước, giờ tới mấy trái ổi, ly nước mía cũng đòi hốt. Bà Tư rít qua kẽ răng.

Ông Kỉnh châm điếu xì gà, hít một hơi dài:
– Biển này lớn lắm, nhưng không thể để ai muốn làm gì thì làm. Một bãi biển, một người quản lý. Thời kỳ mạnh ai nấy sống đã qua rồi. Chỉ có luật của tao thôi.

Bà Tư cười nhạt:
– Luật của ông, nhưng không phải luật của biển. Ông nhớ nghe, sóng cho ai thì sóng lấy lại…

Ông Kỉnh giật mình, trong đầu vang lên tiếng khóc mơ hồ năm xưa. Ông lắc mạnh, gằn giọng:
– Dẹp hết! Không bàn cãi nữa.

Mấy ngày sau, dân tụ tập, giăng biểu ngữ, hô vang:
– Trả bãi cho dân nghèo!
– Không để đại gia nuốt hết bờ biển!

Bà Tư đứng giữa đám đông:
– Mấy chục năm mình sống nhờ từng mét cát, giờ ổng gom hết, ép mình chết đói. Không lẽ để vậy sao?

Phóng viên từ Sài Gòn đến, quay phim, phỏng vấn:
– Bác nghĩ sao về việc bãi biển này đã thuộc quyền quản lý Hoàng Lan Palace?

Bà Tư quắc mắt:
– Biển là của chung, chớ đâu của riêng ai! Cái gì của dân thì phải trả lại cho dân. Biển không bán, đất không bán.

Ông Kỉnh nghe tin, ngồi một mình tầng mười bảy, ly rượu văng tung tóe:
– Không thể nào! Đây là đất của tao, là máu tao đổ, là tiền tao bỏ. Tụi nó không có quyền lấy lại!

Nhóm công an, trật tự đô thị, xe cẩu kéo ra, dẹp sạch ghế dù, xe nước mía. Thằng Lượm ôm xe, bà Tư ôm gánh trái cây, cả đám hò hét, tiếng trẻ con khóc, tiếng người la, hòa trong tiếng sóng. Ông Kỉnh đứng khoanh tay, mắt dõi xuống bãi cát, tim nhói đau:
– Dẹp! Dẹp sạch! Không để sót một chỗ!

Nhưng trong lồng ngực ông, nhịp đập lạ lùng: tiếng ai khóc, hòa cùng tiếng sóng.
“Sóng cho ai thì sóng lấy lại… nhớ nghe…”

Tin nổ như sét: dự án “Công viên ven biển ba cây số và Quảng trường Tam Thắng với nhạc nước phun” được công bố. Toàn bộ Bãi Sau sẽ giải tỏa, không ai rào chắn, không ai được kinh doanh độc quyền. Người dân reo mừng, báo chí trầm trồ. Trẻ con reo hò, người lớn livestream, ánh đèn nhạc nước quét khắp quảng trường.

Vũng Tàu từ nay sát nhập vào Sài Gòn. Nó hiện đại hơn, nhưng cái hồn biển, mùi cá nướng, tiếng cười khẽ của dân nhỏ, biết có còn nguyên?

Ông Kỉnh, người từng tưởng mình là vua bãi biển, không ai thấy trong ngày khánh thành. Có kẻ bảo ông trốn ra nước ngoài, có kẻ bảo ông đi dọc bờ biển, thả giày cho sóng cuốn, miệng lẩm bẩm:
– Biển là của ai? Biển có thuộc về ai đâu…

Sáng hôm sau, đôi giày da cũ trôi dạt vào bờ cát. Quảng trường lấp lánh đèn, nhạc nước vẫn phun, nhưng nếu lắng kỹ, vẫn nghe từ ngoài khơi vọng vào tiếng đàn bà khóc, nhắc nhở:

“Biển không thuộc về ai… biển chỉ giữ ký ức… người có giữ được mình không?”

Lời cuối.

Biển vẫn vậy. Sóng vẫn vỗ, ngày này sang tháng khác, không vội, không nôn. Con nước lên xuống, mặn mòi, gió thổi từ xa mang theo mùi muối và ký ức. Người đi, kẻ ở, giàu nghèo, vua bãi hay thằng bán nước mía, đều chỉ là hạt cát giữa bờ cát dài vô tận.

Ngô Văn Kỉnh, người từng tưởng mình cầm được cả Bãi Sau, giờ chỉ còn là bóng mờ trên quảng trường mới. Dân từ bà Tư đến thằng Lượm cũng chẳng còn ghế dù, mẹt trái cây, nhưng họ vẫn thở, vẫn sống, vẫn nghe sóng. Sóng dạy họ: cái gì là của chung, là của đời, không ai giữ mãi được.

Vũng Tàu, sát nhập vào Sài Gòn, đẹp hơn, hiện đại hơn, nhưng cái hồn biển với gió, với mùi cá, với tiếng cười của dân nhỏ, thì ai biết còn nguyên không?

Tôi đi dọc Bãi Sau vào một chiều tắt nắng cuối năm, chân trần trên cát, nghe gió rít, nhìn cột đèn đổi màu xa xa. Lòng bỗng trĩu nặng. Như thể biển đang thì thầm, nhắc nhở:

“Của ai cũng là tạm. Ai vội vàng nắm chặt, rồi cũng phải buông.”

Và trong hoàng hôn chập choạng, tôi chỉ biết im lặng, nhìn sóng, nhìn người, nhìn bóng dáng thành phố. Biển vẫn hát, và câu chuyện, như cát theo nước, còn trôi, chưa biết điểm dừng.

Nguyễn Đông A