Tôi lớn lên với trăng.
những bóng trăng trắng ngà có cây đa to có thằng cuội
già…
những trăng vàng trăng non trăng mọc trăng lặn trăng
tà trăng xế trăng khuyết trăng tròn trăng sao ánh trăng chú cuội cây đa hằng
nga cung quảng…
những vầng trăng ai xẻ làm đôi…trăng nằm sóng soãi trên cành liễu đợi gió đông về để lả lơi.. em tặng cho anh một nửa vầng trăng…
những đêm nay mới thật là đêm ai đem trăng sáng lên
trên vườn chè…
những trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt rọi xuống
trăm năm…
Tôi lớn lên với sao.
những sao hôm sao mai sao sa sao trời sao rụng
những sao khuê sao tua sao vua
những sao băng trời sao ánh sao ngàn sao lấp lánh
sao đổi ngôi chòm sao…
những tinh cầu tinh tú những đại hùng tinh tiểu hùng
tinh…
Tôi lớn lên với những đêm không trăng không sao đất trời hôn
ám, mong chờ trăng mong chờ sao.
Trăng sao là nguồn thơ, nguồn tình. Là yêu đương hẹn hò. Là
mơ, là mộng. Là một bù đắp cho bối rối nhân sinh. Từ thời cổ đại, Anaxagoras
(khoảng 500–428 trước công nguyên) khám phá ra vũ trụ chẳng là gì ngoài
những khối vật chất vô hồn, trong đó, mặt trời là một đống kim loại bốc chảy
(mass of fiery metal) và mặt trăng là một “tảng”/cục đất (earthy lump) không tự
phát ra ánh sáng.[1] May mà chẳng ai tin lời tay triết
gia lắm chuyện này, nên trăng vẫn còn trinh trắng thêm đưọc mấy ngàn năm. Nhờ
đó, mà cổ nhân phương Đông thường có những màn “thưởng nguyệt” tao nhã. “Xuân
giang hoa nguyệt dạ” (Đêm trăng hoa trên sông xuân) của Trương Nhược
Hư (660-720) chẳng hạn (trích đoạn):
Khương Hữu Dụng dịch:
Trăng, quả là người tình bí ẩn và kiêu sa của nhân loại!
Vài ngàn năm sau, con người đã chạm được vào khuôn mặt
nàng: một “bộ xương cách trí” sần sùi, thô tháp, nham nhở, vô hồn; đã bay phía
sau lưng nàng: một khối vật thể u tối, đen ngòm lửng lơ vô định. Ôi, thê thảm
nàng trăng!
Bù lại hình ảnh buồn nản đó, con người được chứng kiến một
khung cảnh khác quá đỗi lạ thường: đất mọc, đất lên (earthrise). đất
lặn, đất tà, đất xế (earthset), đất lưỡi liềm (crescent
earth), ánh đất (earthlight), đất rằm (entire,
fully illuminated earth), ánh đất xanh (blue marble), nửa
vầng đất (half-earth/half-lit earth) ngắm ánh đất (earth
watching)…
Đất lưỡi liềm
Đất mọc
Đất lặn
Nửa vầng đất
Ánh đất rằm
Nàng đất!
Quả là, hiện thực đã gặp gỡ hoang đường.
Tôi bỗng đâm ra làm thơ:
Tội nghiệp nàng! Không có cành liễu để “nằm sóng soãi”;
không có ao làng để cô thôn nữ “múc ánh”; không có phòng riêng để “nửa in gối
chiếc”; không có còn đường đi trong làng để soi; không có “bên suối” để “đất mờ”;
chẳng có “đất mờ” để “thổn thức”…Nàng đẹp gấp vạn lần con trăng vàng huyền thoại,
nhưng chẳng “nên thơ” chút nào. Nàng chẳng hề được ví von bằng những tính từ
màu mè, tâng bốc. Chả là, không có những Lý Bạch, Trương Nhược Hư, không
có những Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, tóm lại, không có loại sinh linh vớ vẩn là
con người lắm chuyện, mấy ngàn năm sinh sôi nẩy nở, chen chúc trong cái khối
tròn cô quạnh đó.
Ngoài nàng, cái gọi là vũ trụ chỉ hiện hữu bằng những con số.
Xin ghi lại vài dữ liệu do các nhà thiên văn học cung cấp:
Trái đất: 4, 54 tỷ năm tuổi (± 50 triệu năm).
Vũ trụ: 13,7 tỷ năm tuổi (± 200 triệu năm).
Dải Ngân Hà là một thiên hà. Nó dung chứa khoảng 100 tỷ mặt
trời/ngôi sao.
Toàn vũ trụ có khoảng 2 ngàn tỷ (2×1012) thiên
hà.
Nhân với nhau, ta sẽ có 200 sextillion. Một sextillion = 1
billion trillions = 1021.
Nghĩa là: vũ trụ có 200.000.000.000.000.000.000.000 (số 2 và
23 con số zéro) ngôi sao!
So với loại vần thơ sầu rụng, những “con số
thiên văn” (astronomical numbers) này quả thật (làm ta) kinh hoàng. Cái gọi là
nhân loại chỉ là một “tổ kiến” cô độc trôi lềnh bềnh giữa “đại dương toàn cầu”
(global ocean) mênh mông. Chúng hoàn toàn nằm ngoài khái niệm của trí óc con
người.
Những đêm tối trời, nhìn vào khoảng không gian đen ngòm với
hàng ngàn đốm sáng nhấp nháy vô cùng đẹp mắt ở cõi xa xăm sâu thẳm, những con
kiến nhỏ của nàng đất chỉ biết ngưỡng mộ, khiếp phục, sợ hãi mà… không hiểu gì
cả. Tất cả chỉ là những vật thể quay đều quay đều vô tri vô giác vô tận vô mục
đích vô biên vô hạn vô danh vô cực vô tình vô cảm và hoàn toàn… vô nghĩa.
Tôi chợt nhớ đến một con kiến nhỏ: chàng chăn cừu 20 tuổi xứ
Provence, miền Nam nước Pháp. Chàng được ông bà chủ giao đi chăn ở trên núi
Luberon, nơi quanh năm suốt tháng, chỉ có một mình chàng với đàn cừu. Cứ mỗi nửa
tháng, chủ lại sai người đưa thức ăn đến, đều đặn như thế. Một lần nọ, tới hạn,
rủi hôm đó trời mưa giông, nên người mang thức ăn đến muộn. Thất vọng vì phải
chờ đợi, nhưng chàng lại quá sung sướng vì kẻ mang thức ăn lần này không phải
người giúp việc, mà là Stéphanette, cô con gái xinh đẹp của ông bà chủ. Trời
mưa, lại là lần đầu tiên đi xa, nên nàng lạc đường. Với dải ruy-băng có hoa,
chiếc váy sáng bóng viền đăng-ten, nàng trông giống như đang ham vui trong một
buổi khiêu vũ nào đó hơn là bị lạc đường trong bụi rậm.
Giao xong thức ăn, nàng ra về. Chàng chăn cừu nhìn theo, tiếc
rẻ. Nhưng rồi khi trời sắp tối, nàng bỗng quay trở lại, áo quần ướt sũng, thân
hình run rẩy, sợ hãi. Hóa ra, khi xuống đến chân đồi, nàng không thể qua sông
được vì nước dâng cao do trận mưa giông giữa ngày. Trời đã tối, nàng không thể
nào quay về nhà một mình; còn chàng, chàng không thể bỏ lại đàn gia súc để theo
hộ tống nàng. Vô kế khả thi, nàng đành phải ở lại. Đêm xuống, giữ phận tôi tớ,
chàng lo sắp xếp chỗ ngủ cho nàng, rồi đi ra ngoài, ngồi canh, lòng xôn xao.
Còn Stéphanette, không thể nào ngủ được vì lũ súc vật gây ra đủ thứ tiếng động ồn
ào trong đêm, nàng thức dậy, tỏ ý thích ngồi bên đống lửa. Sợ nàng chưa đủ ấm,
chàng khoác thêm tấm da dê lên vai nàng, nhóm lửa to hơn. Hai người ngồi cạnh
bên nhau, chẳng ai nói lên được lời nào.
Chàng kể:
“Nếu bạn đã từng ngủ qua đêm dưới bầu trời đầy sao, bạn sẽ
biết rằng vào lúc con người say ngủ, thì cả một thế giới bí ẩn thức dậy trong sự
cô quạnh và lặng lẽ. Khi ấy, suối chảy nghe rõ hơn, mặt hồ thắp lên những ánh lửa
nhỏ. Tất cả các linh hồn của núi non tự do đi lại; và trong không khí có tiếng
xào xạc, những âm thanh rất nhỏ tựa như ta đang nghe thấy các cành cây đang lớn
lên, cỏ dại nẩy mầm. Ban ngày là cuộc sống của muôn loài; nhưng ban đêm là cuộc
sống của sự vật. Nếu không quen, điều đó có thể khiến người ta sợ hãi… Cô
tiểu thư của tôi cũng thế, run rẩy nép vào tôi mỗi khi có tiếng động. Có lúc, một
tiếng kêu dài, buồn bã, vang lên từ hồ nước phía dưới, vọng đến chỗ chúng tôi
theo từng đợt. Đúng lúc đó, một ngôi sao băng xẹt ngang qua trên đầu chúng tôi
theo cùng một hướng với tiếng kêu, y như lời than vãn mà chúng tôi vừa nghe
mang theo với nó một luồng ánh sáng.”
Lần đầu tiên được ngủ ngoài trời, được nhìn ngắm bầu trời
sao bao la, lại được một chàng trai tận tÌnh giải thích về những chòm sao, những
ngôi sao và các sự tích, Stéphanette vô cùng vui thích. “Nàng vẫn ngước nhìn
bầu trời, đầu tựa vào tay, quấn trong tấm da cừu, trông chẳng khác nào một mục
đồng bé nhỏ của thiên đường.” Chàng chỉ bầu trời sao, kể cho nàng nghe những
câu chuyện về Dải Ngân Hà, về chòm sao Gấu Lớn, chòm sao Ba Vua, chòm sao Kim
Ngưu… Cuối cùng, chàng nói: “Nhưng ngôi sao đẹp nhất, thưa cô chủ, chính là
ngôi sao của chúng tôi, sao “mục đồng”, ngôi sao dẫn đường cho chúng tôi
vào lúc bình minh khi lùa đàn cừu ra đồng, và khi hoàng hôn buông xuống, dẫn
chúng tôi trở về.”
Và rồi, một sự kiện nho nhỏ chợt xảy ra:
“Khi tôi tìm cách giải thích cho nàng về những cuộc hôn
nhân của các vì sao, tôi chợt cảm nhận có thứ gì đó mềm mại và mát lạnh tựa nhẹ
lên vai mình. Thì ra đó là mái đầu của nàng, nặng trĩu vì cơn buồn ngủ, đang tựa
vào tôi với cái chạm nhẹ êm ái của những dải ruy-băng, của dây đăng-ten và của
làn tóc gợn sóng. Nàng cứ ngủ như thế, không nhúc nhích, cho đến khi ánh sao nhạt
dần, tan biến trong ánh sáng bình minh đang dâng lên. Còn tôi, tôi lặng lẽ ngắm
nhìn nàng ngủ, cảm thấy trong lòng có chút xao động, nhưng vẫn được che chở bởi
màn đêm trong trẻo, chưa từng gợi lên trong tôi điều gì ngoài những ý nghĩ đẹp
đẽ. Xung quanh chúng tôi, những vì sao vẫn tiếp tục hành trình thầm lặng của
chúng, ngoan ngoãn như một đàn cừu lớn. Và đôi lúc, tôi tưởng tượng rằng một
trong những ngôi sao ấy – nhỏ nhất, sáng nhất – lạc đường, đã hạ xuống ngủ yên
trên vai tôi…”
Đêm thơ mộng đó đã diễn ra cách đây khoảng… 166 năm, vào cuối
thập niên 1860, do Alphonse Daudet (1840-1897), kể lại trong “Les étoiles”,[3] mà bọn học trò chúng tôi được thầy dạy
Pháp Văn cho đọc thời còn theo học trung học. Đứa nào cũng mê mẩn vì câu chuyện
tình trong sáng, mà cũng mê mẩn vì giọng văn lãng đãng, nhẹ nhàng, lôi cuốn của
tác giả. Ôi, đáng yêu biết bao một thế giới không có Appolo, không có Artemis,
không có viễn vọng kính siêu hiện đại “James Webb Space Telescope”. Cả vũ trụ vẫn
còn trinh tiết; những đêm trăng vẫn là những đêm trăng, những đêm tối trời vẫn
là những đêm trời đầy sao! Chúng hiện hữu để chàng chăn cừu xứ Provence đụng chạm
được vào… hiện hữu.
Những con số thiên văn đã cưỡng đoạt trinh tiết vũ trụ. Cũng
là cưỡng đoạt hiện hữu.
Tôi không muốn nhìn cô bé láng giềng trong phòng giải phẫu:
những hốc mắt hốc mũi những ruột gan phèo phổi xương thịt bầy nhầy. Tôi chỉ
thích nhìn dáng nàng đi nghiêng nghiêng trong nắng chiều, nhìn khuôn mặt đằm thắm
của nàng dưới ánh trăng hạ tuần mờ ảo trong đắm đuối lãng quên đời!
Tôi thù ghét những con số thiên văn.
Tôi thích được đánh lừa.
Thích trở thành chàng chăn cừu thuở trước.
Quá muộn chăng?!
[1] Anaxagoras,
https://plato.stanford.edu/entries/anaxagoras/#SciAnaCos
[2] https://www.thivien.net/Tr%C6%B0%C6%A1ng-Nh%C6%B0%E1%BB%A3c-H%C6%B0/Xu%C3%A2n-giang-hoa-nguy%E1%BB%87t-d%E1%BA%A1/poem-Ig1Xj0OA8zR8Kmy66SA-FQ
[3] Xem: Les étoiles, récit d’un
berger provençal
