Sài Gòn trước năm 1975. Ảnh: internet.
Dân Sài Gòn rất xởi lởi, có sao nói vậy người ơi. Nhớ, ngày mới di cư vào Sài Gòn, gia đình tôi mua tạm một căn nhà tường gỗ mái tôn ở Vĩnh Hội, ngay bên phía cầu Ông Lãnh. Hàng xóm là dân lao động rất dễ mến. Chỉ vài ngày là anh Hai, chị Ba, dì Tư với nhau. Tên thiệt cất để dành trong khai sanh, không ai xài tới. Những anh Hai chị Ba mới chân ướt chân ráo tới ngụ cư bỗng thấy mình Sài Gòn hẳn ra. Cũng hồn nhiên xé đôi tờ giấy bạc một đồng làm hai mảnh 5 cắc. Nhưng cũng có những người hỏi móc sao ngoài Bắc đã hòa bình độc lập mà dzô Nam làm chi? Lũ trẻ vốn hồn nhiên, thấy mấy đứa Bắc kỳ nói giọng khác đã hè nhau trêu chọc. Tác giả Nguyễn Hữu Huấn kể lại chuyện trong lớp học: “Hai thằng Bắc kỳ con nhất định ngồi cạnh nhau tạo thế liên hoàn “dựa nhau mà sống” trong cái lớp học 27 trự Nam kỳ con. Bọn chúng hè nhau trêu chọc, ăn hiếp hai đứa. Mỗi lần ra chơi hai thằng Bắc kỳ con luôn tìm chỗ ít người mà đứng để khỏi nghe bọn Nam kỳ đọc thơ chọc quê chửi bới. Thằng Vọng, đứa đầu xỏ và to con nhất đám (bây giờ đang ở Canada) leo lên cây vú sữa giữa sân, đọc thơ rang rảng: “Bắc kỳ ăn cá rô cây / Ăn nhằm lựu đạn…chết cha Bắc kỳ”. Một thằng khác sẵn giọng phụ họa: “Có cái thằng nhỏ nó “đao” làm sao / Lỗ đ. nó dính cái cọng “rao” / Người ta ai mà kỳ như “dzậy” ?”. Thế là cả bọn đồng loạt chỉ ngay vào hai đứa rồi rống lên : “Thôi rồi ! Bắc kỳ, Bắc kỳ !”. Bản nhạc “Khúc Nhạc Đồng Quê” của Thúc Đăng rất thịnh hành đã được chế lời: “Quê hương tui Bắc kỳ nhào dzô quá trời / Bên bờ sông bên bờ ao…trồng rau muống!”
Dân Sài Gòn không ăn rau muống. Đó là thứ rau dành cho heo.
Dân Bắc thì lại rau muống làm chuẩn trong các bữa cơm. Vậy nên rau muống mới…phạm
tội. Ông cha sở nhà thờ Vĩnh Hội trong bài giảng vào thánh lễ ngày Chủ Nhật đã
căn dặn bà con trong Nam hãy coi những di dân như anh chị em cùng có một cha
chung. Và ông mang chuyện rau muống ra…giảng. Đại khái ông cho biết rau muống rất
bổ, người Bắc ăn rau muống là khôn ngoan. Dân Nam chê họ không nấu canh mà dùng
nước rau muống làm canh, ông cha dễ thương biện hộ là tinh túy của rau khi luộc
nằm trong nước rau, người Bắc dùng nước rau muống là biết tận dụng tất cả sự bổ
béo của rau muống. Ông cha sở này mặt mũi khó đăm đăm nhưng là dân Sài Gòn
chính hiệu bà lang trọc. Hầu như ai tới Sài Gòn cũng cảm thấy như được yêu mến
như người nhà đi xa trở về.
Nhà văn Vương Hoài Uyên từ Quảng Ngãi vào học Văn Khoa Sài
Gòn là một người được Sài Gòn đón tiếp như con dân của Sài Gòn hoa lệ: “Ðầu
thập niên 70, tôi bước chân vào giảng đường Đại Học. Từ miền Trung vào, Sàigòn
đối với tôi như một miền đất hứa vừa hấp dẫn, vừa hứa hẹn những điều mới lạ.
Vào đến thành phố được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, tôi thấy cái gì cũng lạ
lẫm. Từ những tòa nhà cao tầng, đến những con đường xe cộ tấp nập, đến những cô
gái Sàigòn ăn mặc theo mốt Hippy, rồi áo dài tay Raglan, mini jupe…Một lần vào
ngày Chủ Nhật, tôi đi xe Velo – Solex lên nhà một người chị ruột ở đường Lê Đại
Hành. Lúc đi ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, do mất bình tĩnh khi tránh
một người đi bộ ngang qua đường, tôi bị té xe ngã giữa đường, bị một vết thương
rách da cằm. Mấy người dân sống ở gần đó chạy đến đưa dầu cho tôi thoa. Đau thì
ít, sợ thì nhiều, tôi hoảng hốt chẳng biết phải làm gì. Hồi đó, đâu có điện thoại
để gọi người thân như bây giờ. Lúc đó, một anh thanh niên đi xe Honda dừng xe đỡ
tôi dậy. Anh bảo tôi gởi tạm chiếc xe Velo cho một thanh niên đang ngồi sửa xe
đạp ven đường trước Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, để anh chở tôi đến bệnh viện
may vết thương ở cằm. Tôi đã gởi xe cho anh thanh niên không hề quen biết này,
mà không hề có chút nghi ngại để cho anh thanh niên kia chở đến bệnh viện. Vị
bác sĩ vừa may vết thương ở cằm tôi, vừa nói: “Em mà không may chỗ vết thương
này thì sẽ trở thành một cái sẹo to đấy.” May xong vết thương, anh thanh niên tốt
bụng kia lại chở tôi về chỗ cũ. Từ xa, tôi đã thấy chiếc xe Velo – Solex của
tôi vẫn dựng bên đường. Tôi cảm ơn hai người thanh niên không quen biết kia và
nghĩ sao Sàigòn lại có nhiều người tốt như vậy. Nếu là người gian, anh thanh
niên kia có thể thu dọn đồ nghề rồi mang luôn chiếc xe của tôi đi thì ai biết
đâu mà tìm. Hình ảnh hai con người tốt bụng đó vẫn mãi mãi ở trong ký ức tôi với
lòng cảm mến và biết ơn sâu sắc. Sau này, trải qua bao nhiêu năm, có dịp vào
Sàigòn đi ngang qua con đường Trần Quốc Toản, ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành
Chánh năm xưa, tôi vẫn nhớ về chuyện xưa với một chút ngậm ngùi dâu bể. Hai người
thanh niên tốt bụng ngày xưa bây giờ làm gì? Ở đâu? Còn sống hay đã chết? Nếu
còn sống, họ đã là những ông già trên dưới 80 tuổi. Trong lòng tôi, họ mãi mãi
vẫn là biểu tượng cho một Sàigòn nhân hậu năm xưa”.
Ngày 30/4/1975, ngày tang tóc của Sài Gòn. Thành phố đổi chủ,
đổi tên, Sài Gòn vong thân không còn là Sài Gòn nhân hậu của những tháng ngày
cũ. Nhà thơ / nhà văn / nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn đã xót xa: “Sài Gòn
ơi! Ta mất người như người đã mất tên / như giòng sông nước quẩn quanh buồn /
như người đi cách mặt xa lòng / ta nhủ thầm em có biết không?… Sài Gòn ơi! Ta mất
người như người đã mất tên / mất từng con phố đổi tên đường / khi hẹn nhau ta lạc
lối tìm / ôi tình buồn như đã sống thêm”. Ca khúc làm bâng khuâng người
Sài Gòn này được sáng tác trong tù vào cuối thập niên 1970. Thường nỗi nhớ của
người xa Sài Gòn mới là nỗi nhớ da diết nhưng dù sao đó cũng chỉ là nỗi
nhớ hoài niệm từ xa. Ca khúc của Nguyễn Đình Toàn là nỗi nhớ thiết tha day dứt
của người vẫn sống trong lòng Sài Gòn, còn trong cái mất. Vậy nên đây là ca
khúc mang tính cách chứng từ của người mất Sài Gòn ngay trong lòng Sài Gòn. Ca
khúc bị nhốt tại Sài Gòn cho tới khi Hồ Trường An được đi Pháp. Tại căn chung
cư của Nguyễn Đình Toàn ở Cali, anh kể cho tôi nghe đường đi ra hải ngoại của
ca khúc bất hủ này. Anh cho biết anh đã cùng Hồ Trường An ra bờ sông bên làng
Báo Chí để hát cho An nghe và học thuộc lòng cả nhạc lẫn lời. Hồ Trường An
không biết nhạc nên khi anh qua Pháp, hát cho nhạc sĩ ghi lại, ca khúc đã có
vài điểm sai cả nhạc lẫn lời. Báo Quê Mẹ của Võ Văn Ái đã phổ biến bản này dưới
cái tên “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”, ca sĩ Jeannie Mai là người đầu tiên trình
bày bản nhạc này nhưng sức phổ biến chỉ hạn chế. Khi Khánh Ly hát, bản nhạc mới
gây sóng gió tại hải ngoại. Thời gian đó, tôi còn kẹt ở Việt Nam nhưng đã được
nghe qua đài VOA. Dân Việt còn ở trong nước đã khóc thầm mỗi khi nghe bản này.
Nguyễn Đình Toàn kể là không biết tại sao công an lại nghi ngờ anh là tác giả
và gọi anh lên làm việc khi anh còn ở trong tù. Anh chối, dĩ nhiên. Lý do anh
đưa ra là một nhà văn nhà thơ như anh đâu có thiếu chữ mà phải đặt cái tên ngớ
ngẩn “niềm nhớ không tên”. Anh thoát tội. Sau khi qua Mỹ vào năm 1998, anh mới
nhờ Khánh Ly hát lại bản đúng cả nhạc lẫn lời và dùng cái tên nguyên thủy “Nước
Mắt Cho Sài Gòn”!
Nhà văn / nhà thơ / nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.
Có nhiều nước mắt cho Sài Gòn tan nát trong đó có nhà văn
Dương Thu Hương cùng đoàn quân chiến thắng có mặt tại Sài Gòn vào những ngày đầu
đổi chủ. Trong bài viết ngắn: “Trong Đời Tôi Có Hai Lần Khóc”, bà viết: “Lần
thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi
người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi
xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa
rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất
bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có
tác phẩm bày trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện
thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc
là những giấc mơ. Đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều
do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những
cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh
Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có
nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói”.
Nhà văn, nhà báo Nguyễn Tường Thụy, một bộ đội tới Sài
Gòn ngay những ngày đầu “giải phóng”, cũng đã trải tấm lòng thật thà của một
người Việt Nam trong bài thơ “Sài Gòn Thương Mến” mà tôi trích ít câu sau:
…….
Những người làm nên hồn vía Sài Gòn là những văn nghệ sĩ. Có
những người đã ra đi nhưng cũng nhiều người còn kẹt lại. Một trong những người
hồn nhiên nhất không ai khác hơn nhà thơ Bùi Giáng. Không biết ông điên thật
hay điên giả nhưng cái tửng tửng của ông đã thành giai thoại mà người dân Sài
Gòn ít ai không biết. Có hai giai thoại mà dân Sài Gòn rất khoái. Giai thoại thứ
nhất: khi đi qua một khu chợ vỉa hè bán phụ tùng xe đạp ở cuối đường Trương
Minh Ký, ông nhào vào lấy một cái ghi-đông và bỏ đi. Bà bán hàng chạy theo la
thất thanh nhờ thiên hạ bắt giùm “thằng ăn cắp”. Ông nhẩn nha quay lại, trả cái
ghi-đông và từ tốn phân bua: “Bà con coi! Mất cả nước không ai la, mất có cái
ghi-đông xe mà la um sùm!”. Giai thoại thứ hai: đang đi trên đường, Bùi Giáng
thấy một phụ nữ Nga, vội quay lại bóp vú bà này. Bà la choi chói, ông lầm bầm với
người chung quanh: “Tao chỉ muốn coi xem cặp vú của nó có thể nuôi hết con dân
Việt Nam không?”. Nhà văn Ngô Thế Vinh, trong bài “Sài Gòn, Bi Kịch Những Ngày
Sau Tháng Tư 1975”, kể lại: “Trung niên thi sĩ lúc nào cũng gầy và già
hơn tuổi, râu tóc xơ xác như từ bao giờ. Giữa một Sài Gòn thảng thốt,
không biết anh đã lượm ở đâu trên đường mà có được bộ quân phục ngụy với quân
hàm Đại tá, Bùi Giáng đem vận ngay vào người, chân thấp chân cao đi nghêu ngao
như diễn binh trên hè phố. Có lẽ đây là hình ảnh tuyệt đẹp cuối cùng của cuộc
chiến tranh Việt Nam, với một tân binh tình nguyện gia nhập đạo quân đã hoàn
toàn rã ngũ. Rồi Bùi Giáng cũng tới được khu nhà thờ Ba Chuông, nơi có căn nhà
Dương Nghiễm Mậu. Bùi Giáng hồn nhiên đi sâu vào con hẻm chật chội ấy đã thấp
thoáng màu cờ đỏ. Anh vẫn tỉnh táo nhớ đúng nhà, tới đập cửa rầm rầm đòi vào
thăm cho được cố tri. Trầm tĩnh và bản lãnh như Nghiễm, mà trước tình huống ấy
cũng vẫn như gái ngồi phải cọc; được cái lúc ấy chòm xóm còn là thân quen, mạng
lưới công an chưa đủ dầy đặc để gây nỗi phiền hà. Ra khỏi nhà Dương Nghiễm Mậu,
không biết Bùi Giáng còn đi gõ cửa tới thăm những ai khác, hay anh lại ra nơi đầu
cầu Trương Minh Giảng như một người tỉnh táo đứng làm cảnh sát công lộ chỉ đường
“trên dòng luân lưu hỗn mang của lịch sử” và để rồi sau đó nếu anh không bị đám
“cách mạng 30” hay bọn công an đánh tả tơi sưng mặt mũi thì rồi cuối cùng chắc
anh cũng lại tìm về với “mẫu hậu” Kim Cương, ngồi trước cửa phóng bút làm thơ tặng
nàng”.
Trái: Bùi Giáng: Sài Gòn Chợ Lớn đã đời du côn! Phải: Bùi
Giáng trên đường phố Sài Gòn.
Cũng kẹt lại là nhà văn Mai Thảo. Ông này lăng ba vi bộ với
khinh công tuyệt diệu. Ông là nhà văn duy nhất thoát khỏi các vụ ruồng bắt
trong suốt hai năm trốn chui trốn lủi trên lầu nhà Nhã Ca ở đường Tự Do. Một đoạn
viết của Nhã Ca: “Đêm. Đập cửa khẩn cấp.. Bật dậy. Chụm đầu. Nghe ngóng. Thì
thầm. “Khoan. Đừng xuống vội. Bình tĩnh”. Anh Mai Thảo nói. Lầu giữa,
phía sau phòng khách, có khoảng sân trống. Sớm Mai nhanh nhẹn mở cửa sổ cho bác
leo lên mái nhà. “Gài kỹ chốt cửa lại. Cứ thong thả”. Cửa sắt cuốn dưới mặt
tiền căn phố bị nện kêu rầm rầm. “ Bật đèn lên được rồi, con”. Tôi bảo Sớm
Mai. Ngọn điện bật sáng. “Mở cửa. Kiểm tra hộ khẩu”. Tiếng quát giật giọng từ
dưới đường vang lên. Đã tính toán sẵn, trừ bà ngoại và vài đứa lớn, tất cả đều
trở về chỗ nằm, đâu đó vẫn phải như đang ngủ. “Hai chị em xuống mở cửa cho
chúng. Không việc gì phải sợ”. Tôi bảo đứa cháu lớn trong nhà, rồi về phòng. Có
nên thay áo không? Tôi đang khoác cái áo ngủ nhầu nát. Thây kệ. Chờ. Vậy là điều
lo lắng, hồi hộp hai ngày nay đã tới. Đêm hôm kia, anh Mai Thảo về khuya. Cửa
sau, mấy đứa cháu trong nhà quen việc mở chốt sẵn. Trong hẻm lại có người, cũng
chỉ dân giang hồ đi tìm xó tối làm ăn thôi, nhưng cũng không thể kêu cửa ầm ĩ.
Đành vòng ra phía Tự Do, thấy cửa trước còn đèn, đang tính vô thì đụng ngay tổ
trưởng dân phố. “Thấy nó dắt đứa con đi tới, tôi làm bộ dạo phố, chỉ dùng lại
châm thuốc. Ai dè nó lại nhận ra mình. Còn lên tiếng chào hỏi thăm anh khỏe
không nữa chứ. Thế mới bố khỉ. Phải ờ ờ ậm ừ làm bộ băng qua đường, mới thoát.
Nhã liệu coi chừng nghe. Có thể nguy đấy”. Khi vô được nhà rồi, anh Mai Thảo kể
vậy. Tổ trưởng dân phố là Nguyễn Thanh Bình, một nhạc sĩ cũ, hình như là tác giả
bài ca “Những Nẻo Đường Việt Nam” thường được hát trên Đài Phát Thanh Sài Gòn
thời mới di cư 1954. Hai cha con ông ta sống tá túc vất vưởng ở một căn gác xép
trên đường tự Do”. Sáng hôm sau nhạc sĩ Thanh Bình cho Nhã Ca biết đêm
qua đã thấy Mai Thảo. Nhã Ca đánh lạc hướng bằng cách nói có thể đó là Anh Ngọc
hay Hoài Bắc. Ba người thường đi chơi chung với nhau. Nhạc sĩ Nguyễn Thanh Bình
nói nhỏ với Nhã Ca : “Chị Nhã Ca. Tôi chỉ kể với chị cho vui thôi. Bộ chị
tưởng tôi làm tổ trưởng rồi thành giống chó à?”.
Mai Thảo vượt biển vào năm 1997. Cuộc vượt biển rất gian
nan. Trên tàu có 81 thuyền nhân trong đó có Nhật Tiến, thầy Từ Mẫn, vợ chồng
Dương Phục – Vũ Thanh Thủy. Tàu gặp hải tặc Thái Lan, bị đưa vào đảo Kra chịu
thảm cảnh mà sau đó Nhật Tiến ghi lại khiến lương tâm thế giới rung động. Phong
trào cứu người vượt biển ra đời sau thảm kịch này.
(Còn tiếp)
Song Thao
