tặng Lê Sông Văn
Chặng thứ nhất
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
“Anh đã check lại phòng khách sạn chưa? Và trả lời cho
anh Minh biết là mình sẽ kịp đến để dự birthday của ảnh nữa?” giọng một người
đàn bà ngồi ở dãy ghế trước mặt anh õng ẹo hỏi.
“Rồi và rồi,” giọng một người đàn ông trả lời, nghe vừa dấm
dẳng, vừa trìu mến.
Em ạ, hẳn là hai người đó là khách du lịch thứ thiệt. Họ
biết chắc những nơi mình sẽ đến. Còn anh thì cũng đang “du” mà lòng hoang mang
khôn tả, không biết sẽ đi về đâu, và sẽ “lịch” những gì sắp tới, hoạ phước khôn
lường. Anh chợt nghĩ, hay đây là một giấc chiêm bao thôi, cũng như bao lần anh
đã chiêm bao thấy những chân trời xa lạ. Trong đó, lúc thì có em, lúc thì vắng
em. Và lần nào cũng như lần nào, anh thấy thương em quá đỗi, thương đến quặn
lòng, đến ứa nước mắt, đến nghẹn ngào, đến không còn ngôn ngữ. Cuộc sống của em
và anh tự bao giờ đã không còn biên giới. Ngày lẫn vào đêm. Mộng hoà với thực.
Thức mà như đang ngủ. Ngủ mà vẫn thao thức trong hồn. Cười mà như đang khóc.
Khóc mà như đang ngạo nghễ cười trên số phận.
Máy bay từ từ chuyển động. Quê hương bắt đầu xa dần. Em bắt
đầu xa dần. Máy bay lướt trên đường băng một đỗi, rồi ngừng hẳn lại. Đột nhiên,
nó rú lên thật lớn rồi nhấc bổng lên không. Giã từ quê hương. Giã từ em. Không,
mình sẽ gặp lại mà. Chúng ta đã hứa với nhau như thế, phải không em?
Tân Gia Ba. Quê hương của Lý Quang Diệu. Nơi mà ngày xưa
người ta còn nhìn Sài Gòn bằng cặp mắt thèm thuồng lẫn thán phục. Chỉ cách quê
nhà hai tiếng đồng hồ đường chim bay, nhưng đây là một thế giới khác. Anh không
được tận mắt nhìn thấy thế giới đó. Trong khi những kẻ du lịch thứ thiệt hân
hoan ra khỏi phi trường, hoà vào nhịp sống rộn rịp bên ngoài, anh lủi thủi bước
theo người “hướng dẫn tour” đi sang một cổng khác để đổi máy bay. Bây giờ anh mới
nhận ra là trong nhóm của mình còn bốn người khác nữa, bốn du khách bất đắc dĩ,
hai người đàn ông và hai người đàn bà.
Lại ngồi ở phía đuôi máy bay. Người dẫn tour cho biết là
sẽ đi Tây Ban Nha. “Độ 16 tiếng đồng hồ mới đến,” anh ta bảo vậy. Anh cất cuốn
sổ tay vào túi xách nhé em. Anh muốn ngủ một giấc dài, mặc cho con tàu bay qua
hết phần còn lại của châu Á, đi vào lòng châu Âu.
Chặng thứ nhì
Hôm nay là một ngày kỳ lạ. Anh không biết chắc rằng đang
nằm mơ thấy mình đang từ một chiếc máy bay bước ra phi cảng của một xứ miền xa
lạ, hay đang thật sự ở đó và sắp sửa đi ngủ để chìm vào một giấc chiêm bao. Bây
giờ anh đâm ra sợ cả hai: Sợ phải thức để đối diện với nhiều cảnh ngộ đau lòng,
và sợ phải ngủ để phải sống thêm một lần nữa mỗi ngày. Anh tự hỏi có còn một cảnh
giới thứ ba nào cho anh trốn vào trong đó không. Em nghĩ sao?
Thủ đô Madrid. Người ta bảo thế thì anh nghe thế, chứ
cũng có thấy được mặt mũi của thành phố nổi tiếng này ra làm sao đâu. Trong lúc
đi qua chỗ đổi máy bay, anh lan man nghĩ đến chuyện chàng hiệp sĩ Don Quixote
mà hồi nhỏ anh có dịp đọc qua một bản dịch tiếng Việt. Ngày đó, anh biết đến
ông ta với cái tên Đồng Ký-khốt, cùng anh chàng hầu cận San-chồ. Hồi nhỏ, anh đọc
là đọc vậy thôi, chẳng hiểu là bao, ngoài cảm giác sờ sợ về người hiệp sĩ không
được bình thường đó. Giờ đây ngẫm lại, anh mới dần dần hiểu ý nghĩa thâm sâu của
cuốn tiểu thuyết của Cervantes. Anh chợt mỉm cười thích thú với ý nghĩ mình vừa
là Đồng Ký-khốt, vừa là San-chồ. Một nửa của anh đã Đồng Ký-khốt hoá San-chồ,
biến thế giới thực tế của anh chàng nông dân chân chất này thành một thế giới mộng
mị, đồng thời nửa kia của anh đã San-chồ hoá Đồng Ký-khốt, biến thế giới đầy ảo
tưởng của chàng hiệp-sĩ-tự-phong đó thành thực tế phũ phàng.
“¡Buen viaje!” cô gái đứng soát vé ở lối vào máy bay tươi
cười nói với những hành khách đang tuần tự bước qua. Anh khẽ gật đầu chào cô
ta, nghĩ bụng, “Cô mà biết chúng tôi đi đâu thì sẽ chúc ‘¡Buena aventura!’ mới
đúng!”
Chặng thứ ba
Em yêu dấu, chắc nằm mơ anh cũng không thấy được cảnh
này—hay là có tỉnh dậy anh cũng không ngờ mình đang ở đây. Anh đang ở trong
lòng một thành phố mà cũng chỉ được nghe đến tên chứ không ra ngoài để thấy được
nó. Santiago—thủ đô của nước Chí Lợi xa xôi. Làm sao, dù trong trí tưởng tượng
hoang dại nhất của mình, anh dám nghĩ đến một ngày như hôm nay. Chiếc máy bay lặng
lờ băng qua Đại Tây Dương trong đêm đen bất tuyệt, xuống đến tận vùng Cono
Sur, nơi có một quốc gia cũng có hình dạng dài ngoằn ngoèo như nước Việt
mình. Lúc ngồi đợi chuyến bay kế tiếp, anh bùi ngùi nghĩ đến nhà văn nữ lưu
vong người Chí Lợi—Isabella Allende—người đang sống ở Mỹ, nơi anh đang mong muốn
đến. Anh cũng sẽ sống đời lưu vong như bà ta, có khác chăng là bà nổi tiếng khắp
thế giới, đặc biệt là qua tác phẩm La Casa de los espíritus, kể về
những vật đổi sao dời trong một gia đình qua bốn thế hệ, buồn vui theo vận nước
nổi trôi; còn anh sẽ chỉ là một kẻ lưu vong vô danh tiểu tốt, cũng có bao nhiêu
điều để kể về nước, về nhà, mà tài hèn sức mọn không viết nổi nên lời.
Chặng thứ tư
São Paulo—thành phố của thánh Phao-lồ chào đón anh và
nhóm người đi vượt biên kiểu tân thời. Dĩ nhiên là bọn anh cũng chỉ được quanh
quẩn trong phi trường như mấy chặng trước, nhưng hình như—chẳng biết anh có tưởng
tượng hay không—anh đã hít thở được không khí nồng nàn của Ba Tây, mang tên một
loài cây rừng cho gỗ quý, xứ sở của vũ điệu samba cuồng nhiệt bắt nguồn từ lục
địa Phi châu. Ở đây cái gì cũng có vẻ rộn ràng cả, dù anh không được ra bên
ngoài để chứng kiến. Anh hình dung ra một đất nước lúc nào cũng tưng bừng với
những carnaval đầy màu sắc và âm thanh, những trận túc cầu
vang danh thế giới, chẳng vậy mà xứ sở này còn có biệt danh là Terra
do Futebol.
Nhưng Ba Tây còn đặc biệt với anh về một điều nữa, đó là
anh Vũ đã từng sống nơi đây trong một thời gian. Mới đó mà anh Vũ đã ra đi gần
hai mươi năm trời rồi, em biết không. Ngày anh ấy ra đi, hai đứa anh còn là hai
thằng nhóc mới lên chín, lên mười. Anh còn nhớ ngày nhận được tin chiếc ghe của
anh Vũ được con tàu chở dầu mang tên São Sebastiao cứu vớt và
mang về Ba Tây, mẹ anh đã oà ra khóc vì sung sướng. Nhưng anh Vũ chỉ liên lạc về
nhà trong vòng một năm đầu, rồi sau đó bặt vô âm tín. Mẹ anh đã chờ tin con mòn
mỏi, chờ mãi, chờ mãi, đến khi bà mất đi trong tiếc nhớ. Em có nghĩ là một người
khi chết đi vẫn còn chờ đợi một ai hay một điều gì đó không? Anh thì tin như vậy.
Duy có điều bây giờ anh như bị mê mê hoặc hoặc, không biết là anh Vũ có thật
hay không. Cũng như anh không chắc rằng những ngày xưa có thật không. Cái gì
không thấy—hay không còn thấy—là đều không có thật. Ngay cả những ai, những gì
ngay trước mắt rồi cũng tan biến đi chóng vánh. Nghĩa là có thật đó rồi cũng hết
thật.
Anh tiến gần đến vuông cửa kính khổng lồ, nhìn ra những
chiếc phi cơ bên ngoài kia. Có vài chiếc đang đậu im lìm, có vài chiếc đang từ
từ rời chỗ, hay vài chiếc khác vừa đáp xuống. Anh tưởng tượng ra anh Vũ là một
trong những người phu bốc vác ngoài kia, sống đời nhọc nhằn ở xứ người. Hay tại
vì thế mà anh ấy buồn, không muốn liên lạc với gia đình? Mà tại sao anh lại phải
bận lòng về một điều không còn có thật nữa?
Chặng thứ năm
Sau hơn 10 tiếng bay, anh đã đến Mexico City—thành phố
ngày xưa của người Aztec còn mang tên Tenochtitlan vào thế kỷ
thứ 16. Lần này, anh thấy được một góc của thủ đô xứ Mễ Tây Cơ, được ra khỏi
phi trường trên một chuyến xe buýt, len lỏi qua những con đường đông đúc, xe cộ
như mắc cửi. Xe chạy ròng rã hai ngày một đêm về hướng bắc, qua những xa lộ tối
tân hay những con đường thôn quê hẻo lánh. Anh chợt thèm muốn cuộc sống lặng lờ
của người dân bản xứ. Vậy mà ở đây mỗi ngày vẫn có biết bao nhiêu người, bằng
cách này hay cách khác, tìm cách đi đến El Norte, để tìm tới giấc mộng
Huê Kỳ, hay tìm chút tự do mà ở quê nhà không có. Cũng như anh. Như em. Chỉ có
khác là em đã hy sinh để anh ra đi trước. Những gì em đã làm cho anh, cho chúng
ta, còn vượt xa cả ngàn dặm đối với hai chữ hy sinh. Số tiền em chắt chiu bằng
mồ hôi nước mắt, cùng với những món tiền vay mượn khác bằng cả chục năm trời mới
may ra có được, nếu đừng ăn, đừng uống, đừng mặc, đừng tiêu xài gì cả. Vậy mà
em đã gom góp được, cho anh ra đi. Vì, như bao lần em đã nói, “Cái đầu này
không nên sống ở đây!” “Cái đầu” của anh, thật ra có đáng gì đâu em. Nó chỉ chất
đầy văn chương viển vông, chữ nghĩa hão huyền, từ những chân trời huyễn tưởng,
những lời say sưa tuôn ra trên giảng đường, nhưng lúc nào anh cũng nơm nớp sợ bị
nghe ngóng, dòm ngó. Đổi lại là những đồng tiền khiêm nhượng không đủ cho em sắm
một cái áo đẹp cho bằng chúng bạn. Nhưng, em biết đó, anh ra đi không vì tấm
áo, manh quần. Anh ra đi để mong nói được những lời từ trái tim, từ khối óc mà
không sợ bị ai bắt bẻ. Anh ra đi vì “người ta không chỉ sống bằng bánh mì”.
Tijuana—thành phố địa đầu nước Mễ Tây Cơ, nơi bọn anh đặt
chân xuống sau gần 40 tiếng đồng hồ đường bộ. Ngày xưa, lãnh thổ Mễ còn tràn
lên phân nửa miền tây Hoa Kỳ. Di dân Mễ ngày nay thường nói—vừa khôi hài, vừa
cay đắng—“Chúng tôi không vượt qua biên giới, mà biên giới vượt qua chúng tôi.”
Người dẫn đường từ Việt Nam giao bọn anh cho hai người bản
xứ mặt mày hung tợn, rồi anh ta nhanh chóng rút lui. Anh lại tự hỏi từ đầu đến
giờ, anh ta có thật hay không. Còn lại hai nhóm người bất đồng ngôn ngữ, khác cả
màu da, chẳng ai hiểu ai cả. Bọn anh bắt đầu cuộc hành trình đi bộ, xa dần
thành phố và đi vào những con đường thôn quê hay những khóm rừng rậm rạp. Hai
người dẫn đường chỉ toàn ra dấu cho nhóm người đi theo. Không còn những lúc ung
dung trên máy bay, chuyển từ chuyến này qua chuyến nọ, hay đi qua những hành
lanh trong phi cảng sang trọng, hào nhoáng, ăn trắng mặc trơn. Ai nấy đều bắt đầu
thấy đói và khát, phải lục tìm trong túi xách tất cả những gì có thể vừa đi vừa
ăn uống được. May sao, đến một đoạn đường có một người Việt gia nhập đoàn của bọn
anh, mang thêm một ít đồ khô và nước. Anh ta chắc ở đây lâu năm nên nói tiếng
Tây Ban Nha lưu loát không kém gì những tay địa phương. Hoá ra anh ta làm thông
dịch cho nhóm. Anh ta nói tiếng Việt hơi lơ lớ, nhưng cũng đủ cho mọi người hiểu
phải làm gì.
Em biết không, những gì anh phải làm hôm đó nhắc anh nhớ
lại những năm đầu mất nước ở quê nhà. Lúc đó, tuy còn nhỏ, anh cũng đã phải đi
lao động, vào rừng, lội suối, đào mương… Và bây giờ, hai mươi mấy năm sau, anh
lại phải cuốc bộ đường trường, lội qua những con suối nước đục ngầu, dưới ánh nắng
chang chang ban ngày và những cơn mưa bất chợt ban đêm. Bọn anh dựng tạm những
cái lều dã chiến để tạm nghỉ ngơi giữa những chặng đường, khi trên bộ, lúc dưới
suối, hay xuyên qua những khu rừng nhỏ.
Vậy mà cả bọn đã đi bộ đến ba ngày trời. Cuối cùng, trước
mặt anh là gì, em biết không? Là một bức tường dài như vô tận bằng song sắt,
cao sừng sững, dễ đến 10 mét. Bỗng dưng anh muốn khóc và nhớ tới lời ông mục sư
da đen Martin Luther King đã nói, “Let’s build bridges, not walls.” Biên giới
là đây sao? Biên giới bắt đầu từ đâu? Từ những bàn tay xây dựng, hay từ những
quyết định của những con người có uy quyền trong tay? Hay từ khi con người cảm
thấy “lòng ta sao vẫn còn biên giới” như người nhạc sĩ họ Phạm đã nói—như một lời
tiên tri cách đây gần cả 80 năm trời.
Tiến—anh thông dịch viên người Việt—bảo bọn anh, “Từ chỗ
này, chúng ta sẽ đi dọc theo bức tường thêm vài cây số nữa, tới chỗ có một khoảng
trống còn đang xây dở dang, rồi đợi đêm tối xuống sẽ tìm cách qua bên kia.”
“Bên kia” là nơi bừng sáng lên cả trăm ngàn ánh điện lấp
lánh ban đêm mà từ chỗ tường biên giới bọn anh đang dừng chân. Vùng ánh sáng
chói loà trong đêm tối đó như những lời hứa hẹn hấp dẫn nhất. Nguồn sáng đó—anh
lại tự hỏi—có thật hay không, hay chỉ từ trí tưởng tượng?
Cả bọn lại lầm lũi đi tiếp, khi trời sụp tối thì cũng
cũng vừa đến nơi đã hẹn với một nhóm người khác để bàn giao. Tiến nói chuyện với
ba người mới đến, trong khi hai người Mễ đầu tiên đã đi mất. Một trong bọn họ
thì thầm nói:
“No es posible cruzar esta noche. La seguridad es muy
estricta.”
Tiến quay lại cho bọn anh biết:
“Họ bảo tối nay không qua được. An ninh gắt lắm.”
Cả bọn lại xì xầm với nhau hồi lâu. Tiến lại nói:
“Không xong rồi. Tình hình này có thể kéo dài chưa biết tới
lúc nào. Các anh chị có thể chọn một trong hai giải pháp: Một là quay về Ba
Tây, chờ tình hình sáng sủa hơn sẽ qua Mễ lại. Hai là từ đây đi thẳng qua Bồ
Đào Nha, để có cơ hội định cư luôn ở đó. Chúng tôi có đường dây đi qua bên ấy.”
Anh và bốn người trong nhóm hội ý với nhau. Cuối
cùng, một cặp vợ chồng quyết định quay lại Ba Tây, còn anh và cặp vợ chồng kia
muốn đi tiếp. Tiến mang lại cho ba người ba tờ giấy, bảo:
“Họ đòi thêm năm ngàn đôla nữa. Anh chị ký vào giấy nợ
này. Xin nhắc nguyên văn lời họ nói: ‘Nhớ trả nợ. Dù có ở cùng trời cuối đất, họ
cũng biết anh chị ở đâu để đến đòi.’”
Chặng cuối cùng
Nhờ món nợ mới, bọn anh được một chiếc xe Jeep đến đón ra
phi trường. Từ đó, máy bay đi Mexico City để quá cảnh rồi bay tiếp đi Ma-rốc.
Trên chuyến bay cất cánh từ phi trường Mễ Tây Cơ, anh mới biết được sẽ đi
Casablanca. Casablanca! Anh làm sao quên được siêu phẩm điện ảnh trắng đen về
cuộc tình sóng gió của hai nhân vật do Humphrey Bogard và Ingrid Bergman thủ diễn,
cũng như bài hát trữ tình cùng tên với giọng ca bất hủ của Bertie Higgins.
Nhưng ngay lúc này anh không còn lòng dạ đâu mà thưởng thức cảm giác được đến
thành phố nổi tiếng này nữa. Vì từ đó, bọn anh phải đáp xe lửa mất hai tiếng ra
cảng El Jadida. Đến cảng, có người dẫn xuống thuyền để đi—thật ra là để trốn—sang
Bồ Đào Nha. Vậy là cuối cùng anh đã trở thành thuyền nhân, em ạ.
Chuyến hải hành, một chuyến vượt biển thật sự mà anh
không hề ngờ tới lúc ban đầu, phải mất đến hai ngày trời mới đến được bến bờ.
Anh nằm bẹp trên thuyền, dưới là nước, trên là trời, còn trong lòng rỗng không,
chẳng một hạt cơm lẫn một tia hy vọng nào. Anh chỉ uống nước cầm chừng. Cảm xúc
và cảm giác đều tê dại. Trí óc nhưng đông cứng lại. Và anh nghĩ đến em. Chỉ có
em là điều duy nhất còn sót lại trong trí anh trong những giờ phút ấy. Và anh
thấy mình không được quyền buông xuôi, không được quyền bỏ cuộc.
Chiếc thuyền lặng lẽ, đúng hơn là lén lút, tấp vào một
bãi biển hoang vắng của miền Algarve. Cả một vùng biển nằm ngái ngủ trong đêm
khuya lạnh lẽo vào tháng Mười. Xa xa là ánh điện sáng choang của một thành phố
nào đó. Khi ba người trong bọn anh cùng người lái thuyền vừa đặt chân xuống mặt
cát mềm, ướt đẫm sương đêm thì đột nhiên có tiếng súng lên cò lách tách và một
giọng lạnh lùng, sang sảng cất lên:
“Não se mexam! Vocês estão presos!”
Không cần hiểu câu nói đó, bọn anh đã biết phải làm gì,
vì người lái thuyền đã vội đưa hai tay lên trời. Thế rồi chuyện gì phải đến đã
đến. Bốn người xâm nhập trái phép được đưa về một nhà giam gần đó. Cả bọn được
phát quần áo, mền gối để qua đêm, sau khi mỗi người được ăn một đĩa cơm mà họ gọi
là arroz de tomate và uống một ly nước lạnh. Đó là ly nước lạnh
ngon ngọt nhất trong đời anh, em ạ.
Và đêm hôm đó cũng là đêm anh ngủ ngon nhất, sau bao
nhiêu ngày lênh đênh từ nước này sang nước khác, khi thì bay trên không, khi
thì đi trên đất và khi thì nổi trôi trên sóng nước. Đang bị giam cầm mà anh bỗng
thấy tự do hơn bao giờ hết. Anh ngủ một giấc không mộng mị. Khi hai mắt anh nhắm
lại, thế giới chỉ còn lại một không gian, một thời gian, không còn trên dưới, tả
hữu, trong ngoài gì nữa. Vũ trụ trở thành nhất nguyên.
Buổi sáng, anh và cặp vợ chồng cùng đi giật mình thức giấc
vì tiếng ồn ào bên ngoài. Lúc bấy giờ, anh mới chợt thấy là còn nhiều người
khác bị giam gần bọn anh. Mấy người cảnh sát nhìn nhau lắc đầu, vẻ ngao ngán.
Anh đoán chắc họ đã quá quen với cảnh này.
Bên ngoài, có tiếng la đồng thanh:
“Liberdade para os inmigrantes!”
Trong xà-lim bên cạnh, một người ngó qua bọn anh, giảng
nghĩa rành rọt bằng tiếng Việt:
“Họ đòi trả tự do cho chúng ta đó!”
Người vợ trong nhóm ba người bọn anh tò mò hỏi:
“Anh người Việt hả? Anh đi từ đâu tới vậy?”
“Ba Tây!” anh ta đáp, giọng có chút tự phụ.
“Ở bên đó không sướng sao, qua đây chi cho bị bắt?” đến
lượt anh chồng hiếu kỳ.
“Sướng gì mà sướng!” anh ta bĩu môi. “Tham nhũng thấy mẹ,
từ trên xuống dưới!”
Tiếng gõ cửa nghe dồn dập. Một viên cảnh sát mở hé cánh cửa,
nói với những người bên ngoài:
“Chúng tôi chỉ mời ông cảnh sát trưởng Coelho và một người
đại diện của AIMA vào thôi.”
Từ chỗ mình đang ngồi, anh thấy một người đàn ông có vẻ
là Á châu và một người đàn bà tóc vàng bước vào. Anh chàng người Việt nhanh miệng
nói:
“Ha! PSP đụng độ AIMA!”
Nhìn qua nét mặt ngơ ngẩn của bọn anh, anh ta tiếp luôn:
“Polícia de Segurança Pública đụng độ Agência
para a Integração Migrações e Asilo!”
Ai nấy đều nhún vai, vì anh ta có nói đầy đủ mấy chữ viết
tắt thì bọn anh vẫn như vịt nghe sấm. Người chồng lộ vẻ khâm phục:
Anh chắc ở bên này lâu rồi nên nói tiếng nghe thành thạo
quá hen!”
“Năm năm ở Ba Tây, ba năm ở Bồ Đào Nha này,” anh ta phổng
mũi đáp.
Người đàn ông Á châu và người đàn bà tóc vàng nói chuyện
với mấy viên cảnh sát một lúc rồi quay lại, tiến đến gần bọn anh. Anh chợt lạnh
toát người, nói không thành tiếng:
“Anh Vũ! Anh Vũ! Em đây… Chương đây… Em của anh đây!”
Anh Vũ nhìn anh như nhìn xuyên suốt một vật vô hình, tựa
hồ như không thấy anh, đừng nói chi nghe những gì anh vừa thốt lên. Người đàn
bà hỏi anh Vũ:
“Anh ta nói gì với ông vậy?”
“À,” anh Vũ đáp, “anh ta nói ‘Cứu tôi với’. Cô biết đó,
di dân nào cũng nói câu đó cả, bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.”
Anh tuyệt vọng ngó về hướng anh chàng người Việt, khẩn
khoản:
“Anh nói giùm với bà kia cho tôi đi.”
“Ele disse que é irmão desse homem,” anh người Việt nói.
“Có thật vậy không?” Người đàn bà hỏi anh Vũ.
“Chắc hắn lầm tôi với ai đó,” anh Vũ thản nhiên đáp rồi
nói tiếp, “Cô có muốn giúp những người này làm giấy tờ để được trợ cấp tạm thời
thì cứ việc, nhưng cuối cùng nếu họ không chứng minh được tình trạng di trú
thì… cô biết chuyện gì sẽ xảy ra rồi đó.”
Nói xong, anh Vũ—đúng hơn là comandante Coelho—quay
ngoắt đi, bước hẳn ra ngoài đường. Anh người Việt, cặp vợ chồng cùng đi, và nhiều
người khác nữa nhất loạt nhìn anh đang đứng như vừa hoá đá.
Em biết không, ngay lúc đó, anh mới chắc rằng mình đã
đúng. Rằng anh Vũ là không bao giờ có thật.
