Sau chiến tranh, người ta đi tìm gì?
Đi tìm tro bụi của chiến tranh.
Thời bé, mỗi ngày tan trường về nhà, tôi đều đi ngang qua nghĩa địa của làng. Dưới bóng dương liễu, bên bờ sông, những ngôi mộ nằm bên nhau, và trên bia đá cũ, rêu vừa được người đi tảo mộ lau sạch, lại mọc lên. Tháng Năm, hết chiến tranh, có những người đi tìm mộ thân nhân ngược xuôi từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc. Mùa hè đỏ lửa và trận đánh tái chiếm thành cổ ngay sau đó đã tiêu hủy tất cả nhà cửa vườn tược, chỉ có một thứ không thay đổi, là nghĩa địa của làng. Cũng có những ngôi mộ bị san bằng vì trúng bom, những tấm bia trúng đạn bị vỡ ra, nhưng hầu hết thì còn nguyên vẹn. Một nghĩa địa nguyên vẹn giữa đất trời đổ nát. Sau nhiều tháng rà phá bom mìn, người dân được phép trở lại tảo mộ, hương khói. Tôi đứng một mình thật lâu trước tấm bia bằng chữ Hán, tôi nhớ ngày trước mẹ tôi thường thắp hương khấn vái ở đó, có lẽ là ông tổ của dòng họ, cái bia vẫn còn mặc dù bị sứt mẻ, tôi không đọc được chữ Hán, chỉ đoán lờ mờ nghĩa của chúng.
Cái ghế ngồi, đôi đũa, cái bát, tấm bia mộ là những vật dụng
đầu tiên của dân tộc. Ngôi mộ và tấm bia là một sự vật. Tôi ngắm sự vật. Nhìn
thấy thời gian đi qua, thấy xương tàn trong đất, lắng nghe câu chuyện chưa bao
giờ được kể lại. Tôi đứng đó, nhớ người đã chết, nhớ ngôi trường không còn nữa,
nhớ lại một đất nước, đất cát và sỏi đá lạo xạo dưới chân tôi, ánh sáng của
ngày tan tác, lần đầu tiên tôi bắt đầu trò chuyện với một người đã chết, một
người tôi chưa bao giờ biết, đã đến đây khai khẩn từ thời chúa Nguyễn Hoàng, nằm
xuống trên mảnh đất nắng nôi, bom đạn, muốn nói gì với tôi, có thể trả lời những
câu hỏi nào. Khi tôi kể chuyện, tôi lắng nghe nhân vật hơn là tưởng tượng ra
câu chuyện về họ. Tôi muốn nhìn thấy các nhân vật của mình sống cuộc đời của họ,
tôi nhìn vào mắt họ, tôi ngồi xuống bên cạnh và lắng nghe, như một đứa trẻ.
Tôi là một đứa trẻ của tổ tiên tôi. Tôi là một đứa trẻ của lịch
sử.
Tháng Năm ở Bắc Mỹ là tháng của truyện ngắn. Trong khi nhiều
người lo lắng cho nền văn học tương lai, thì thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết
ngày càng xác định tính cách đương đại của mình, qua David Foster Wallace, Don
DeLillo, Thomas Pynchon, Haruki Murakami, Joyce Carol Oates, Margaret Atwood,
Yiyun Li, Edwidge Danticat. Tôi cũng đặc biệt thích truyện ngắn châu Âu, mơ hồ,
mãnh liệt. Tôi tìm cách đi qua những buổi chiều vàng, màu mật ong, màu da cam, ổi
chín, ở đó màu sắc và sự vật là một, tôi đi một mình, vô danh như nhành cây
trĩu xuống dưới sức nặng của các ý tưởng, bật lên trở lại khi quyết định từ bỏ
một người bạn, chấp nhận sự đầu hàng trước tính chất khác nhau của thế giới.
Câu trả lời của tôi trong mọi trường hợp là không.
Không với thỏa hiệp. Không với nô lệ. Không với tị hiềm chia
rẽ. Tôi trở về căn phòng của mình, mở cửa sổ, tắt hết đèn, nằm im trên sàn nhà,
kê đầu lên chiếc gối mỏng, để nguyên quần áo và giày, nằm trong căn phòng bụi bặm
không lau chùi, vào lúc ấy tôi hoàn toàn trở về thời tuổi trẻ, giả vờ trẻ lại,
xem thử thời gian có phép màu nào. Tôi nằm im như thế, và mọi sự đau khổ và hờn
giận từ từ chìm xuống như mặt trời trong nước, và lời an ủi của mẹ tôi ngày xưa
trở lại. Không phải mẹ tôi, một người đàn bà trẻ tuổi hơn. Những người đàn bà
bao giờ cũng làm khổ chúng ta và làm chúng ta sung sướng điên rồ. Sự rời khỏi
các kiến thức và phán đoán, đã trở thành định kiến, sự mở rộng các chân trời tư
duy, đi trước một bước văn minh nhân loại, bao gồm các bước nhảy kỹ thuật, hay
không được đi sau nó quá xa, phát minh ra chính khuôn mặt mới của con người, là
công việc của tiểu thuyết và truyện ngắn hôm nay. Kỳ lạ thay, trong thơ sự tưởng
tượng không được phép như thế.
Thơ gần với sự thật hơn.
Có lần tôi đã nghĩ truyện ngắn là bước tập sự của tiểu thuyết.
Không phải. Truyện ngắn là một nghệ thuật khác. Truyện ngắn là một chớp mắt.
Truyện ngắn có thể mở rộng thành tiểu thuyết, nhưng một tiểu thuyết không thể
rút ngắn thành truyện ngắn. Một truyện ngắn đặc sắc làm bạn thích thú hay ngứa
ngáy khó chịu. Nó mở ra một cảm xúc có phần kỳ lạ, gợi ra những câu hỏi hơn là
câu trả lời và những câu trả lời nhiều hơn câu hỏi. Sự lý thú của truyện ngắn nằm
ở ý nghĩa của nó, chỉ có người đọc truyện ngắn mới nhận ra. Khác với người đọc
của tiểu thuyết, người đọc của truyện ngắn kén chọn hơn nhiều. Tôi vừa đọc xong
một tuyển tập truyện ngắn của các nhà văn nữ của Canada và một tuyển tập truyện
ngắn của Ý Nhi, chúng gợi ra nhiều ý tưởng. Các nhà văn truyện ngắn có giọng
nói riêng, khả năng tìm thấy những khía cạnh bí ẩn của đời người, tìm thấy trái
tim nồng nàn trong khung cảnh đời thường. Nhà văn viết truyện ngắn không mô tả
cuộc đời, họ chỉ bộc lộ chúng. Nhà văn viết truyện ngắn không viết về tình huống,
họ kích hoạt chúng, làm chúng phát nổ hay nở như hoa. Nhà văn viết truyện ngắn
là kẻ sống sót giữa những người viết khác, hiếm hoi, buồn rầu, cười phá lên như
đứa trẻ thông minh của nhân loại.
Tháng Năm là tháng của ánh sáng. Ngày dài bất tận, trong
thành phố không còn bóng mát, nắng ong ong, nhiều người không thích cái nắng ấy,
không thích cái nóng ba lăm độ, thế mà thời nhỏ tôi đến trường vào ban trưa, đầu
không mũ, tay xách cặp da, vừa đi vừa chơi, nghĩ lại không tưởng tượng nổi sao
mình vẫn chịu được. Không chỉ có thế, lại còn yêu cái nắng cái nóng ấy, tựa như
nó là của mình, và mình là của nó, áo ngắn tay, quần soọc, mồ hôi như tắm, đi
trong trời đất như đi trong lòng một bà mẹ, ngạc nhiên thấy người lớn than thở
với nhau, phàn nàn về cái nóng miền Trung. Một người lính nhảy dù, đội mũ sắt,
mang ba lô và súng tiểu liên, đi ngang qua tôi, lẩm bẩm với một người bạn đi
trước, giọng miền Nam đặc sệt:
Đ.M. trời nóng thế này mà còn thích đánh nhau.
Lâu lâu tôi lại nhớ lại câu nói ấy, kể ra không được lịch sự
cho lắm, nhưng nó rất thật, như nỗi khổ của thời chinh chiến. Nhưng mà nói thế
thôi, người đi xa lại nhớ. Những mùa hè làm nên lịch sử của dân tộc. Những mùa
hè làm nên đời tôi. Tôi đã có những tháng năm đẹp nhất và những tháng năm gian
khổ nhất dọc vĩ tuyến mười bảy, ở Thạch Hãn, ở Huế phượng nở vang lừng tiếng
ve, ở bán đảo Sơn Trà Đà Nẵng, ở sông Cầu, những mùa hè dọc biên giới.
Từ miền Trung nghèo khó, vào miền Nam, tôi được ăn trái cây
nhiệt đới, xoài, sầu riêng, măng cụt, mãng cầu xiêm, vú sữa, được đi dưới hàng
cây lộng gió, nằm ngủ một giấc trên cánh võng giữa rừng cao su miền Đông Nam Bộ,
trên đèo Ngoạn Mục, trên đèo Bảo Lộc thơm mùi trà. Tôi ngạc nhiên khi ra Bắc lần
đầu mùa hè, trong khi nhiều người than vãn về cái nóng nực của nó thì tôi lại
thấy mát, vì có lẽ đã quen với cái nóng quê mình. Miền Trung thiệt thòi ở chỗ đất
hẹp, bạn chỉ đi được hai phía Bắc và Nam, trong khi ở miền Bắc và Nam thì tha hồ
đi mỗi hướng, buổi sáng vừa ở Hà Nội ngồi uống cà phê sớm thì buổi chiều đã ở Bắc
Ninh, hay Hòn Gai, hay Sầm Sơn, thong thả hơn nữa lại được đi tắm suối ở những
vùng cao nguyên mát lạnh dọc đường lên Tam Đảo.Tôi cũng từng được tắm suối ở
khoảng giữa Bảo Lộc và Đà Lạt, ngâm mình trong nước mát, nghe tiếng chim hót
trong veo nghĩ tới một người ba mươi năm trước về cặm cụi trồng lan mà viết tiểu
thuyết Xóm Cầu Mới. Tôi chưa được thấy các nàng tiên xuống suối tắm bỏ quên đôi
cánh trắng trên bờ, rồi bị người ta đánh cắp nên tắm xong thì không bay được về
trời.
Mùa hè là mùa của trái cây, ổi trong vườn chín, không kịp
hái, chim ăn một nửa mình ăn một nửa, em nhé, nước sông tràn ngang đầu gối bày
cả cát vàng cát trắng, nhìn thấy cá lội dưới chân, nhưng mùa hè cũng vẫn còn là
mùa hoa nở muộn, hoa soan, hoa huệ, bông lý vào đêm thơm nức, hoa vông vang bên
giếng rớt cả vào cay trầu của mẹ tôi. Tháng Năm, trẻ con đến mùa nghỉ hè, thời
tôi đi học là tháng cuối của niên khóa thi cử. Những anh chị lớn tuổi đã bắt đầu
thi tú tài phần một, phần hai, thi trung học, kết quả những người thi đậu được
xướng danh trên đài phát thanh, đám đông đứng quanh cột điện lắng nghe danh
sách đọc trên loa phóng thanh, ba tôi mở lớn máy radio cho cả xóm nghe danh
sách những người may mắn, thời ấy trong làng có người thi đỗ tú tài là một vinh
dự. Các kỳ thi khó khăn. Tôi phải thi tốt nghiệp tiểu học, sau đó mới thi vào
năm thứ nhất trung học, lớp sáu, đệ thất. Những người thi hỏng tú tài thường đi
lính, về nhà làm ruộng, lấy vợ sớm, hay phiêu dạt phương trời khác. Mỗi mùa hè ở
quê tôi đều có người thi hỏng tự tử, họ leo lên thành cầu cao ngất, nhảy xuống
nước, để mặc số phận cuốn trôi đi.
Tháng Năm muỗi bay vo ve ngoài mùng, dế kêu trong cỏ, người
ta đi chậm lại, nói năng chậm lại, ăn uống uể oải, tâm hồn trong suốt. Ghét bỏ
chậm lại, hận thù tan chảy, yêu thương chậm lại, những kẻ tha phương không
thành đạt, không đồng xu dính túi, lại trở về nhà, tìm cái thong thả mà sống đời
hòa bình. Như thế nào ai biết được ai khôn hơn ai, nằm khểnh đợi gió nồm hay
lao vào phong ba bão táp mà tìm danh lợi. Tháng Năm là đỉnh cao âm nhạc của trời
đất, tiếng ve trên những hàng nhãn vừa ra trái, trong những bụi rậm mà lũ chim
bìm bịp vừa rời đi, dọc theo đường tàu xe lửa bỏ hoang từ thời kháng chiến chống
Pháp, con người trở nên mệt mỏi dịu dàng.
Tôi có dịp đi đoạn đường từ Hà Nội xuống Hải Phòng trong một
lần thăm nhà văn Bùi Ngọc Tấn, vòng qua Thái Bình, qua Hưng Yên, được chứng kiến
mùa vải ngọt thơm lừng. Tôi vốn không mê đồ ngọt, nhưng nhờ thế lại ăn chậm và
kỹ và thưởng thức được hết cái chất ngọt quý giá như cái đọng lại của hồn trời
đất. Ngày xưa, trước khi hòa bình, vải ở miền Trung rất ít, nhà dì tôi, có một
cây vải lớn, mỗi năm chỉ ra một vài trái ở trên ngọn cây cao, mà chim về ăn hết,
hôm nào trèo lên hái được một chùm vải hay một trái nằm lẫn trong cây, ngọt đứ
đừ, sướng như lên tiên. Người chủ nhà của khu vườn cũ, nghe nói đã lưu lạc sang
Lào, một hôm về nhà ngồi trên thềm đá cũ, giữa những đứa trẻ vây quanh, trong
ký ức của tôi đã có một ngày như thế, thế mà sau này lớn lên hỏi chuyện thì cậu
tôi đã chết ở bên Lào và chưa bao giờ trở lại quê hương, sau khi bị Pháp đuổi bắn
và bị Việt Minh bắt giữ, thế mà ký ức của tôi vẫn nguyên vẹn ngày hôm đó, tôi
không biết giải thích thế nào. Đó là sự tưởng tượng chăng hay đó là cuộc trở về
bí mật chỉ những đứa trẻ mới biết, hay đó là một giấc mơ?
Tháng Năm, giữa cuộc chiến tranh khốc liệt, mà những người
đàn bà ở thôn quê như mẹ tôi vẫn cố gắng hết sức để cho chồng con mùa nào thức
nấy, món gì cũng có một ít, dưa cà xứ Nghệ, nước mắm Mỹ Thủy, bánh ướt Phương
Lan, nem tré Huế, chè hạt sen, khiến cho bọn trẻ thèm thuồng, chớ họ lấy những
món ấy ở đâu ra thì tôi không biết.
Tháng Năm người nào chưa biết cái thú ăn chè, buổi trưa gọi
gánh chè hàng rong vào, chị bán hàng đặt cái đòn gánh xuống trên bậc thềm thong
thả sắp chén muỗng ra, bọn con nít như tôi chưa ăn đã nhỏ giãi, cái không khí ấy
ở chốn quê, bao giờ thì mình có lại được. Chè có nhiều loại, chè đậu xanh, chè
khoai môn, chè sen, sau này vào Sài Gòn tôi còn biết thêm chè sương sa hạt lựu,
chè ba màu, ở cái quán có ba cô con gái góc đường Lý Thường Kiệt và Lê Đại
Hành. Khi về Hà Nội ra mắt Thuyền, đêm tôi đi lang thang trên đường gần khách sạn,
được biết một món chè lạ kêu bằng chè bà cốt, ngồi ăn một mình trong đêm, thật
ngon, giải nhiệt, thấy sự cô đơn trong lòng mình lắng lại, thấm cái vị ngọt
chung tình, thanh tao, an ủi.
Tháng Năm là tháng của sự trung thực nghiệt ngã. Mặt trời
chói sáng qua các tế bào thần kinh, làm bật rễ hai điều: sự ngu ngốc về nhận thức
và sự hèn mạt về nhân cách. Mọi thứ trở nên khó khăn hơn. Mọi thứ trở nên dễ
dàng hơn. Sự thẳng thắn làm bối rối nhiều người. Sự im lặng dễ chịu hơn. Có sự
im lặng bất cần, quý báu như vàng bạc, có sự im lặng khuất phục. Nói thẳng ra sự
thật là một điều khó chịu, nhưng khó chịu hơn là nói một điều giả dối hay khinh
mạn. Ngược lại sự im lặng đúng lúc, cần thiết, phải là kết quả của sự trầm
tĩnh, can đảm, sự im lặng quý báu như thế sẽ vang lên như sấm sét. Tháng Năm
trong suốt kỳ lạ, nó mang bạn đi, nó cho phép bạn đi xuyên qua, từ phía bên này
đến phía bên kia, như một người đi tới một người thương, chính là mình.
Tháng năm 2024, một người đi chân đất đi qua Thanh Nghệ
Tĩnh, cởi y buông bát, xuống tắm sông ở chân núi, vui cười, rồi ngồi im như tượng
ở đèo Ngang. Đó là bức tượng của tâm hồn người Việt. Tháng Năm là tháng của
Thích Minh Tuệ, sinh ngày 19 tháng năm, 1981. Những người tu hành cùng đi bộ
qua Đồng Hới đến Quảng Trị quê tôi, dừng lại lâu ở thị xã, rồi vào Huế. Huế là
trung tâm của Phật giáo, chùa chiền, phong cảnh, tính cách người thắm đẫm tinh
thần Phật giáo. Trên một đường phố Huế, tôi nhìn thấy cảnh những người phụ nữ
xinh đẹp, áo dài trắng, cầm bó hoa sen trắng hai bên đường, cung kính và trang
nhã. Tinh thần của dân tộc đã lên đến đỉnh điểm với bước chân nhẹ như không của
người khất thực, kẻ buông bỏ, đầy bi, trí, dũng. Sự việc khi đã đến đỉnh điểm sẽ
gặp phải các xung lực đối kháng và cuộc xung đột phải diễn ra.
Ngày 8 tháng năm, 1886, ly Coca Cola được bán ra đầu tiên, ở
Atlanta. Ngày 5 tháng 5, 1818, ngày sinh của Karl Marx, người thích đùa. Ngày
19 tháng 5 năm 1889, ngày sinh của Tản Đà, ở Bất Bạt, Sơn Tây, kết quả của mối
lương duyên giữa hai bậc danh gia ca kỹ Nguyễn Danh Kế và Nhữ Thị Nghiêm.
Tháng Năm ở miền Nam và miền Trung, tiếp tục cái nóng từ
tháng Tư, nắng đổ lửa, nắng như điên, bừng bừng chói chang vã mồ hôi, bạn mặc
quần sọt, cởi trần, người yêu thích như tôi thì mê cái nắng nóng ấy, người sợ
nóng thì kinh hãi. Miền Bắc cũng nóng nhưng không đến nỗi như quê tôi, đi đường
có nhiều bóng râm. Hoa gạo nở đỏ chói quanh hồ Gươm trước mặt khách sạn nơi tôi
ở, tiếng ve kêu vang rền như một thuở xa xưa nào còn Hoàng Đạo Thạch Lam, chỉ
tiếc là dân số tăng lên nhiều quá, thành phố chật hẹp, người thì đông, dẫm lên
nhau mà sống. Tôi đọc sách thấy nói rằng người Hà Nội ngày xưa trước tháng Tám,
1945, rất thanh lịch, nói năng nhỏ nhẹ, khoan thai mà phong độ, nhiều bạn Hà Nội
của tôi than thở thời bây giờ không còn nữa. Chiến tranh, hiện tượng di dân ào ạt,
tinh thần cách mạng vô sản trộn lẫn chủ nghĩa tư bản hoang dã, thói nịnh hót, sự
coi thường các nguyên tắc văn hóa, lấy phát triển kinh tế làm chính, đã làm mất
đi cái tốt đẹp của một vùng đất nước. Tôi mê tiếng ve kêu mùa hạ, nhưng chúng
kêu mỗi nơi một khác, bạn để ý thì phân biệt được, tôi nhớ tiếng ve ở thành nội
Huế, tôi nghĩ chúng kêu hay nhất. Ở quê tôi, khi tôi trở về sau chiến tranh, ve
cũng bắt đầu kêu trở lại, nhưng tiếng của chúng khàn đi, đục hơn, buồn rầu, trầm
mặc. Tôi thích đi lang thang buổi trưa dưới những cây cao bóng mát ở quận Một,
Sài Gòn, và trên những con đường có kiến trúc cổ kính của người Pháp, Hà Nội.
Tôi thích người Pháp ở Việt Nam. Tôi cũng thích nhãn và vải, vải thiều ngày xưa
gọi là lệ chi, đôi khi tôi nằm nghiêng người nghe tiếng chim quyên về.
Ở miền Trung do không có nhiều vải và nhãn như ở miền Bắc,
nên thỉnh thoảng mẹ tôi mua được vải khô hay nhãn khô đâu đó liền đem về đựng
trong những cái thẩu thủy tinh. Nhìn thấy vải khô và nhãn khô, ba tôi liền thở
dài mà kể rằng ngày xưa đã từng ra Bắc trong kháng chiến chống Pháp và được ăn
vải tươi ngon nhớ đời.
Tháng Năm dương lịch có ngày lễ Phật Đản, thái tử Tất Đạt Đa
được hoàng hậu Maya hạ sinh trong vườn Lâm Tỳ Ni. Thời bé tôi đọc Câu
chuyện dòng sông của Hermann Hesse, do Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch,
người thứ hai sẽ chết trên đường vượt biên.
Một, hai năm tôi lại trở về làng, ngủ lại qua đêm trong ngôi
nhà cũ, thấy lòng dịu lại, tìm được cái mạch đi trở lại như người đi lạc đường,
nhìn dấu vết. Quê hương tôi là một quê hương nhỏ bé. Tôi đã quen với sự nhỏ bé ấy.
Tôi hạnh phúc được sống trong sự nhỏ bé, sự không biết, vô danh, gần với cây cỏ.
Mỗi ngày tôi làm quen trở lại với cây cỏ của tôi, mặt đất của tôi, tôi tập nghe
tiếng ve buồn bã, buồn hơn ngày xưa, khản giọng, già nua hơn, dân tộc như người
đàn bà đẹp lấy phải gã chồng đạo tặc, nghe tiếng chim chào mào hót rụt rè trên
cây nhãn. Có phải mi là con chim chào mào ngày trước năm ta mười một tuổi đó
không. Tôi bắt đầu nhớ lại tình yêu đầu tiên, bắt đầu trò chuyện với lầm lỗi.
Đêm, tôi thức dậy ra sân đứng nhìn trời, thấy những ngôi sao to lạ lùng, sáng lạ
lùng, như muốn nói với tôi một điều gì, đứng trước cây khế bằng tuổi của tôi, hỏi
nó những chi tiết lịch sử đã quên, cây khế nhớ lại tất cả, những ngày hạnh
phúc, nhớ tiếng bom đạn rền vang, nhớ một cánh tay người, nhớ máu, nhớ cứu rỗi.
Giữa những cây khế ngọt, mẹ tôi trồng cây khế chua, để nấu canh, thoạt đầu nó
chua quá, nấu không ăn được. Mẹ tôi sai chúng tôi đi nhặt vỏ hến vỏ sò về chôn
dưới gốc, sau vài năm cây khế cho loại trái ngon lạ lùng, đủ để nấu canh khế
chua với cá tràu, cá giếc. Khế chua cắt từng lát nhỏ dầm với mắm ớt, xay ớt nhỏ
bỏ vào cối xay, cho đường và nước mắm trộn với khế, ra món khế dầm muối ớt. Tôi
còn được biết món khế dầm xí muội mà bọn con gái thích ăn.
Một mùa hè ngủ lại trong vườn, nghe tiếng mít rụng, nhớ niềm
hân hoan cũ khi tôi vừa đọc xong chương đầu tiên của Thần điêu đại hiệp, nỗi nhớ
như thế thì không phải là trí nhớ mà là món quà của quá khứ, của người đã mất gởi
lại cho tôi, vì cuốn Thần điêu đại hiệp ấy là của thằng bạn đã chết trong chiến
tranh, đi Thủy quân lục chiến, trong trận tái chiếm thành Quảng Trị. Bây giờ nhớ
lại trang sách cũ, nhớ lại đứa bạn, nhận món quà từ linh hồn ngã xuống, tôi đứng
dậy trong đêm, thắp một nén hương lên bàn thờ Phật, nén hương đầu tiên cho một
người ngã xuống trên chính quê hương mình. Một cái chết không bao giờ đươc lịch
sử ghi xuống, không có ai biết ơn, năm mươi năm sau mới được thằng bạn cũ nhớ lại
trong thoáng, lập lòe trong đêm. Tôi nhớ Nguyễn Bính có câu thơ:
Trời nóng đến nỗi ăn món gì cũng không thấy ngon, uống thức
gì cũng không đỡ khát. Một người chạy xe Honda đường dài, chứ không phải là xe
hơi có máy lạnh như bây giờ, đội mũ lưỡi trai chạy dọc đường quốc lộ Một, trời
nóng thế mà dừng xe lại dưới rừng cao su bát ngát miền Đông, tấp vào cái quán
nước mía có máy xay nước mía quay tay, uống một ly, ngồi võng, mát ruột mát
gan, mỉm cười nhìn cô bạn gái. Cái thú như thế dù chỉ một lần một đời cũng đủ để
anh nhớ lại.
Tôi nghe nói ở vùng cao nguyên như Việt Bắc hay Lâm Viên Di
Linh người ta thường đi tắm suối, tôi còn nghe nói những người sang trọng ngày
xưa đi tắm còn có người mang gương lược quần áo theo hầu, thị nữ kề bên, thì
cái thú tắm suối còn thích đến đâu. Tôi vốn không phải người hưởng thụ, công việc
bận rộn suốt ngày, thế mà rất thích những người biết hưởng thụ, suốt ngày nằm
trên cỏ nhìn mây trời, miệng ngậm một nhánh cỏ mà nhớ về xứ đã mất. Tôi không
phải là người thích đánh bạc, nhưng mỗi lần đi qua sòng bài đều đứng lại ngắm
vì thích cảnh sát phạt, cái thú chơi bời nhân gian, mà không cảm thấy ganh tị
chút nào. Nếu bạn cứ ganh tị với những người may mắn hơn thì bạn không sống được.
Tháng Năm ve còn kêu vang khắp xóm, tôi nghe nói ở một vài
nơi người ta còn ăn ve chiên, nhưng tôi không thể ăn được chúng. Làm sao có thể
ăn được tiếng hót rền vang ấy, tiếng khóc của một đất nước. Mùa nhãn, dọc theo
những con sông chim tu hú về, chúng hót hay hơn những con chim cuốc trong bụi rậm,
nhưng nghe nói chúng là bà con của nhau, vào mùa này những thanh niên trong
làng tôi vừa gặt lúa xong, con trâu mộng đang đạp lúa ngoài sân trong khi người
trai thợ gặt ngồi ăn bữa cơm trắng đầu tiên thơm phức với dưa chua và cà pháo,
uống nước rau muống luộc thay nước lã, ăn bát chè giải khát bữa trưa mẹ tôi nấu.
Đậu xanh thả vài hạt sen hay hạt nhãn, mà thời ấy còn nghèo không phải hôm nào
cũng có, đôi khi nhịn miệng đãi khách, mẹ tôi bao giờ cũng để cho thợ cày thợ gặt
ăn trước cả nhà. Bây giờ mỗi lần đi dọc hè phố, nhìn thấy một người bán hàng
rong bán chè hay đậu hũ, tiếng rao lanh lảnh thì nhớ chén chè thôn dã, nhớ những
người thanh niên trai tráng lực lưỡng làm quần quật trên cánh đồng mà vẫn vui vẻ,
tất cả bị ném vào chiến tranh, chết vì chiến tranh, thì cái ngọt bùi của đời sống
dù ngọt đến đâu cũng không chuộc được lỗi lầm của thế gian.
Một ngày một người đã nói, em rất nhớ anh, trong lòng nôn
nao và buồn bã. Cuối một ngày, không có gì đẹp hơn một người đứng trước mặt bạn
và nói rằng người ấy đã chọn bạn trong cuộc đời. Cuối một ngày không có gì quý
giá hơn sự xuất hiện và hiện hữu. Có những hiện hữu không nhìn thấy, nhưng những
hiện hữu mà bạn có thể nhìn thấy làm một người yếu đuối an tâm hơn. Chúng ta là
những người yếu đuối. Chúng ta cần sự an ủi của sự xuất hiện. Tôi cần em ở bên
cạnh. Khi tôi sẵn sàng đặt trái tim của mình vào lòng bàn tay của cuộc đời, tôi
không đi tìm sự thừa nhận của người khác, sự bảo đảm chỉ có thể đến từ một người,
một công việc, một nơi chốn. Tôi không tìm kiếm sự quen thuộc, tôi không tìm kiếm
quá khứ của mình trong tương lai. Tôi tin vào cái sắp tới.
Tháng Năm là tương lai của tôi. Nếu chúng ta tìm cách để
quên đi một phần quá khứ của mình, bạn không thể làm được. Bạn không thể làm
thanh sạch ký ức, không thể cắt bỏ sự đau khổ ra khỏi đời sống. Tôi để ý rằng
nhiều người hay nói đến ba chữ “có một thời”, với ý nghĩa là cái thời ấy dù đen
tối đến đâu, sai lầm đến đâu, thì chúng ta đã nhận ra, đã sửa chữa, và nó đã đi
qua rồi. Điều đó không đúng. Không có một thời đại nào là đã qua. Không có một
vết thương nào biến mất: cũng quên nhưng không quên vội vàng. Chúng ở lại với
chúng ta, vì quá khứ là một phần của đời sống, chính chúng làm ra bạn và tôi và
chúng ta. Chúng ta sống với sự đau khổ ấy, vì vậy mà chúng ta lớn lên. Một dân
tộc không những phải nhận ra quá khứ của mình mà còn phải sống với nó thì may
ra mới lớn lên được. Đôi khi ngay cả một người thân yêu nhất, bạn cũng phải đặt
họ nằm xuống, trên giường bệnh, trong bụi cỏ ven đường, như tôi đã đặt một người
thân của tôi, đặt xuống đất, đôi khi bạn phải làm thế để tiếp tục bước đi.
Nhưng người mà bạn đặt xuống ấy, mẹ hay con, bạn hay người tình, sẽ đi theo bạn
mãi, người khác không nhìn thấy. Khi tôi có một xúc động về người khác, tôi cảm
ơn sự xúc động ấy. Đôi khi tình yêu không chiến thắng. Đôi khi sự tốt đẹp không
cất lên tiếng nói cuối cùng. Đôi khi cái tốt thua trận và bị làm nhục bởi văn
chương. Bạn không thể thay đổi được điều ấy, nhưng bạn phải biết điều ấy, vì sự
hiểu biết làm cho chúng ta khác nhau, làm cho bạn khác với kẻ khác, làm cho con
người khác với muôn loài. Tình yêu mà bạn xứng đáng được hưởng sẽ chọn lấy bạn.
Tình yêu mà bạn xứng đáng được hưởng sẽ trở thành tiếng nói của bạn, bí mật, tự
tin, kiên nghị, không bao giờ biết xin lỗi và đầy cảm hứng.
Tình yêu thể hiện sức mạnh của nó bằng sự vắng mặt.
Đời sống nội tâm của bạn tràn đầy ra ngoài, và như thế nó
làm cho bạn khác biệt với người khác, đời sống nội tâm cùng lúc làm cho bạn trở
nên mạnh mẽ và yếu đuối. Người đời nhìn thấy điều ấy và sẽ ca ngợi sức mạnh của
bạn và sẽ quyết định tấn công vào các yếu điểm của bạn. Vào lúc này những người
bạn thân nhất của chúng ta sẽ xuất hiện. Họ không nhiều lắm, một vài người.
Khi ánh sáng bắt đầu tháng Năm, từ mặt trời và những thiên
hà xa xôi, chúng tạo ra những vạch trên tường, trên một bức tường bằng gạch màu
nâu xám, nơi tôi đi qua mỗi ngày, giữa những tòa building rộng lớn, ở đó có một
nhánh cỏ mọc ra giữa hai viên gạch, năm nào cũng vậy, tháng Năm. Những nhánh cỏ
đầu tiên chờ đợi cơn mưa, chờ ánh sáng, lớn lên ở đó, sẽ tàn lụi ở đó, và năm
sau sẽ trở lại, đúng vào lúc tôi đi ngang qua, như vậy đã đúng hai mươi sáu
năm. Bao giờ tôi cũng đi chậm lại ngước nhìn lên và khi không có người chung
quanh, biết chắc không làm phiền đến ai, tôi đứng hẳn lại, ngước mặt lên. Vào
lúc ấy, một người bán hàng rong đẩy chiếc xe đẩy bán những loại kẹo bánh dành
cho trẻ con, các loại kem sặc sỡ có mùi dâu tây, mùi táo, mùi lilacs, dâu tằm,
đẩy xe băng ngang đường với tiếng chuông leng keng, anh ta đội chiếc mũ rộng
vành, khuôn mặt rám nắng của người da đỏ hay người Mễ Tây cơ, làm tôi nhớ lại
người bán hàng rong trước cổng trường tiểu học công lập Triệu Thượng, một ngôi
trường ngày nay không còn nữa, cũng như tất cả những thứ khác trên quê hương
tôi, nhưng người bán hàng rong ấy bao giờ cũng đúng hẹn, thế nào cũng có một buổi
sáng tôi gặp anh ta, mỗi năm một lần hoặc nhiều hơn.
Thơ và âm nhạc, phim ảnh và kịch nghệ, đều dựa vào nhịp điệu,
tức là sự lặp lại các mẫu, các chuỗi. Vì một lý do nào đó, bí ẩn, con người hứng
thú với sự lặp lại, tức là các trật tự của sự vật, sự tuần hoàn, sự trở đi trở
lại như sóng biển, như ký ức. Bởi thế khi một người ra khỏi tình yêu, hãy còn
ngoái lại. Mùa tan trường thời tuổi nhỏ của tôi, những kỳ thi cuối cùng, đi xem
bảng điểm rồi rủ nhau ra về, cởi áo bơi qua sông, bơi qua dòng nước đã bắt đầu
cạn, leo lên bờ cỏ cao, đứng nhìn những lớp đàn anh chơi bóng, nắng vàng hoe sắp
tắt, thấy đời dịu dàng thong thả.
Tháng Năm, nghỉ hè, bạn mắc cái võng vào giữa hai cây thanh
trà nghe tiếng ve rền trên ngọn cây, mở cuốn tiểu thuyết trinh thám, đang mơ
màng sắp ngủ mà ngồi bật dậy vì một cuộc đấu súng. Trong cái nền âm nhạc ấy của
mùa hè tuổi thơ, đọc ngụ ngôn La Fontaine chế nhạo con ve ca hát suốt hè, bạn mỉm
cười, thầm cảm ơn cái loài vô dụng ấy.
Sau chiến tranh, tôi muốn về nhà. Bạn muốn về nhà: tình yêu
được định nghĩa là sự quyến rũ. Sự quyến rũ của một đất nước tự do cũng say đắm
như sự quyến rũ của một người đàn bà, ngay khi họ đã chết.
Mọi thứ đều có thể xảy ra vào tháng Năm.
Vì vậy mà trong ngôi nhà hiện tại của tôi bên cạnh những đồ
đạc thông thường, bao giờ tôi cũng thu xếp một chỗ ngồi riêng, khách mới vào
nhà không để ý, từ chỗ ngồi ấy tôi luôn nhìn được qua cửa sổ ánh sáng và sự
thay đổi của nó, từ buổi sáng đến chiều tối, lúc mặt trời lên, lúc sao mới mọc.
Cái cửa sổ ấy và những ánh sáng bên ngoài làm đầy tâm thức của tôi. Chính những
giây phút mà chúng ta sống mỗi ngày, giữa cuộc đời bình thường, quan trọng hơn
những sự kiện trọng đại. Khi một dân tộc bị xua đi bởi các sự kiện trọng đại,
trong cơn sóng của chiến tranh, cách mạng, đảo chánh, bị đè bẹp dí dước bóng
các thần tượng, thì các tầng sâu nhất của văn hoá làng mạc và văn hóa đô thị sẽ
bị lay chuyển hết, vỡ ra, điều này có sức tàn hại vô cùng đối với các điển lễ
tâm hồn của dân tộc ấy, tận diệt. Nếu chúng ta không biết cách tử tế với chúng
ta, thì chúng ta không biết cách tử tế với người khác. Chính sự hèn mọn của con
người làm bạn nổi giận hơn là tội ác của họ.
Tháng Năm, tôi có cuộc hướng dẫn cho sinh viên, đi ngang qua
khu vực ăn trưa trong bệnh viện nhi đồng, xuyên qua một hành lang dài. Một người
phụ nữ bồng đứa con trai khoảng gần một tuổi trên tay, xách một giỏ nặng đứng
chờ mua thức ăn ở đó, chị đánh rơi cái bình sữa xuống đất, nó lăn đi, chị lúng
túng chạy theo. Tôi đi ngang qua, bất ngờ nheo mắt đùa với thằng bé, nó liền chồm
người qua vai mẹ đưa tay níu lấy tôi, khiến cho mẹ nó phải dừng lại, nó nhìn
đăm đăm vào mặt tôi, rồi bỗng mỉm cười, như một người quen biết đã lâu. Những đứa
bé vui tính, thân thiện, bạn cũng từng gặp, nhưng thân thiện thản nhiên như thế
thì cũng ít có, tôi xin phép người mẹ rồi đưa tay đón lấy nó, giữ đứa bé trong
tay lâu hơn dự định, nó đăm đăm nhìn vào mặt tôi, mỉm cười, nửa tò mò nửa hỏi
han, như một người bạn lâu ngày gặp lại, đứa bé không có một nhu cầu nào cả,
trước đó nó tỏ ra bình thản trên tay mẹ nó, không đói khát hay bệnh tật, không
có một nhu cầu nào cả, rõ ràng là một đứa bé hạnh phúc, như cái cách mà nó nhìn
vào mặt tôi, cái cách mà nó giữ chặt tay tôi trong tay mình, làm cho tôi tin chắc
rằng, khuôn mặt của người khác, đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ, có ấn tượng đối
với một người, là một niềm vui, là một trong những niềm vui lớn nhất, vô tư,
trong sạch của con người, từ lúc sinh ra, khuôn mặt của một con người.
Đôi khi trong tro bụi, tôi cũng nhìn thấy khuôn mặt của một
người.
