08 August 2026

TIẾNG NÓI DƯỚI ĐẤT - Nguyễn Đông A

Chiều Huế thường xuống rất chậm, như thể có ai đó cố tình níu ánh sáng lại trên những mái nhà rêu phong. Sông Hương hôm đó đục ngầu, nước lặng, thỉnh thoảng dềnh lên từng lớp sóng nhỏ như có thứ gì vừa trở mình dưới đáy. Gió từ phía núi Ngự Bình thổi xuống, không mạnh mà lạnh. Cái lạnh thấm qua da chứ không chỉ lướt ngoài thịt. Ở những bãi đất thấp ven chân núi, nơi cỏ mọc xen giữa những ngôi mộ cũ, có cảm giác như đất không nằm yên, như dưới lớp bùn kia vẫn còn thứ gì đó chưa chịu mục. Đứng lâu một chút, người ta dễ nghe lẫn vào tiếng mưa là những âm thanh không rõ hình, nửa như tiếng người, nửa như tiếng đất thở. Người ta nói ở Huế, có những thứ không bao giờ chịu chết. Không phải người mà là đất. Là ký ức.

Tui quen ông Tư Lành cũng cỡ chục năm, từ hồi ổng còn đạp xích lô lượn vòng vòng bên bờ sông, chỗ cầu Trường Tiền. Người ổng nhỏ thó, da sạm, cặp mắt lúc nào cũng sâu như có nước đọng bên trong. Dân Huế nghèo thì nhiều, mà nghèo kiểu ổng, không cúi đầu, thì hiếm.

Nhà ổng trước ở trong Thành Nội. Bị giải tỏa. Không được đền bù và không được giúp tái định cư. Nói gọn một câu là “không nằm trong diện”. Ổng dọn ra chân núi Ngự. Dựng tạm cái chòi. Ở gần mấy ngôi mộ cổ của dòng họ. Nghe đâu tổ tiên ổng có người từng làm quan triều Nguyễn, được ban đất, chôn dưới chân núi như một thứ “ân điển cuối cùng”. Đất đó giờ không còn giấy. Nhưng mộ thì còn. Mà mộ thì không biết thuộc về ai nữa.

Ổng bỏ xích lô, chuyển qua làm nghề dọn mộ. Ai thuê thì dọn. Cỏ mọc um tùm thì phát. Đêm ổng ngủ ngay giữa nghĩa địa. Ban đầu tui tưởng ổng liều. Sau mới biết ổng không có chọn lựa.

Ban đêm ở chân núi Ngự không giống ban ngày. Không phải tối hơn, mà là sâu hơn. Trăng có khi sáng, mà ánh sáng lại bị đất hút xuống, chỉ còn lờ mờ trên mặt cỏ. Những ngôi mộ nằm im, nhưng cái im ấy không hề phẳng lặng; nó lổn nhổn, gồ ghề, như thể bên dưới vẫn còn thứ gì đó âm thầm trở mình. Người sống trong vùng, khi nằm xuống, bỗng thấy lưng mình bị khẽ nhấc lên theo một nhịp thở chậm rì, nặng trĩu. Không phải nhịp của cơ thể mình, mà là của chính lòng đất.

Mà cũng từ đó, chuyện bắt đầu lệch đi. Mùa mưa năm đó, nước sông dâng lên, ngập trắng một vùng thấp dưới chân núi. Mấy ngôi mộ cũ lộ ra. Đất trôi, lộ xương người. Mưa dầm nhiều ngày làm đất mềm ra như thịt. Những khúc xương trồi lên không trắng mà ngả màu vàng đục. Chúng dính bùn, nằm chéo nhau như chưa kịp yên vị. Có cái sọ còn nguyên, mắt trống hoác, hứng đầy nước mưa, nhìn xa như có ai đang ngước lên từ dưới đất. Gió thổi qua, nước trong hốc mắt lay nhẹ, tạo thành những gợn nhỏ, giống như cái chớp mắt rất chậm của một người đã quên cách nhắm mắt. Đứng gần đó, khó mà biết được cái nào là đất, cái nào là xương người.

Ông Tư kể, đêm đó ổng nghe tiếng người nói chuyện. Không phải tiếng gió. Cũng không phải tiếng chó. Mà là tiếng người rõ ràng, rành mạch. Nhìn quanh thì không thấy ai.

“Ngươi giữ đất này làm chi?”

Giọng lạ. Trầm. Khô. Như tiếng đá cọ nhau.

Ổng không trả lời.

Một giọng khác cắt ngang, cao và sắc:

“Đất này là của triều đình, là án phong của kinh thành. Không đến lượt dân đen các ngươi nắm giữ.”

Ông Tư bật dậy. Mồ hôi đổ ra lạnh sống lưng, nhưng vẫn cứng. Ổng nói một câu, nghe rất đời:

“Đất nào có người sống, thì đất đó là của người sống.”

Tui nghe ổng kể mà nổi da gà. Không phải vì ma. Vì cái giọng ổng lúc đó, nó bình thản tới mức bất cần.

Từ hôm đó, ổng bắt đầu “nói chuyện” với họ thường xuyên hơn. Khi là quan triều Nguyễn. Lúc với lính Tây Sơn. Hai bên chửi nhau. Cãi nhau. Cãi luôn với ổng.

Bên Nguyễn viện lẽ “bình phong thiên tử”, nhất quyết không cho đụng tới. Tây Sơn cười khẩy: “Bình phong nào che nổi cái bụng đói của dân.” Rồi một đêm khác. Im hơn. Tĩnh lặng hơn. Một giọng lạ, không giống người Việt lắm.

Giọng nói chậm, đứt quãng, nhưng nặng.

“Các ngươi… chôn… quá nhiều…”

Ông Tư nói đó là người Chăm. Không biết ổng biết bằng cách nào. Nhưng ổng chắc như đinh đóng cột.

Giọng đó rơi xuống, nặng và đứt quãng:

“Xương không cháy… thì linh hồn không đi…”

Rồi im. Một cái im khô, như tro đã nguội từ lâu nhưng chưa tan. Tui nghe mà rối. Ông Tư thì không. Ổng chỉ nhìn xuống đất rất lâu, rồi nói khẽ, không biết nói với tui hay với ai ở dưới đó:

“Họ gửi người chết cho lửa để nhẹ. Còn mình thì giữ lại cho gần.”

Ông Tư nói nhỏ hơn:

“Đất ni nặng, không phải vì nhiều xương, mà vì có quá nhiều thứ chưa chịu rời đi.”

Cùng lúc đó, ngoài đời cũng bắt đầu dậy sóng. Dự án di dời nghĩa địa để làm “không gian văn hóa”. Nghe hay đó. Nhưng ai cũng biết phía sau là đất, là tiền.

Một ông tên Khải là chủ doanh nghiệp bất động sản, đứng ra làm bên đầu tư.  Người ta nói Khải không phải dân gốc Huế. Ông từ ngoài vô, đi lên từ tay trắng, quen sống với những con số hơn là ký ức. Hồi nhỏ từng ở nhà thuê, dọn đi dọn lại hoài, nên ông có cái ám ảnh rất rõ về “đất”. Không phải đất để chôn, mà là có đất để đứng cho vững. Người ta nói, ông là người không tin vào những thứ không đo đếm được. Ổng tìm gặp ông Tư. Nói chuyện nhẹ nhàng trước.

“Chú Tư, đất này sắp giải tỏa. Mộ phải dời. Tôi lo chi phí. Chú hợp tác, tôi cho chú một suất tái định cư.”

Ông Tư chỉ cười:

“Đất không phải của tui. Hợp tác cái gì.”

Khải cười lại.

“Đất của toàn dân.”

Ổng nói câu đó nhẹ như gió, mà sắc như dao. Ông Tư im một lúc. Rồi hỏi lại:

“Vậy dân nào?”

Khải không trả lời. Chỉ cười.

Từ đó, mâu thuẫn bắt đầu căng. Ban ngày là người sống. Ban đêm là người chết. Hai bên đều đòi đất. Khải cho người tới đo đạc, đào móng thử. Đêm đó, một công nhân bị té từ trên dốc xuống gãy chân. Anh nói thấy “người mặc áo xưa đứng chắn”. Nhiều người không tin, vẫn tiếp tục làm. Một tuần sau, máy ủi chết máy. Không sửa được. Đưa đi nơi khác thì chạy bình thường.

Đêm đến, Khải không ngủ. Không phải vì sợ, mà vì khó chịu, một cảm giác là lạ không quen. Ổng nói với người thân là do áp lực công việc. Nhưng khi nằm một mình, ông cứ thấy như có ai đó đang đứng ngoài cửa, không gõ, không gọi, chỉ chờ. Có lúc ông bật dậy, mở cửa bước ra nhìn, ngoài kia chỉ có gió và bóng tối. Nhưng cái cảm giác “có người” thì không mất. Sáng hôm sau, ông tới công trình sớm hơn thường lệ, đứng rất lâu ở chỗ máy ủi bị hư, không nói gì.

Ông Tư không cản. Ổng chỉ đứng nhìn. Một lần Khải tới tận nơi, chỉ tay vô mặt ổng:

“Chú sống bằng mấy cái mộ này bao lâu nữa? Đất này phải phát triển. Không thể để hoang.”

Ông Tư nhìn thẳng:

“Anh phát triển cho ai?”

“Cho thành phố.”

“Hay cho anh?”

Khải cười, lần này không nhẹ nữa:

“Chú đừng có nói chuyện đạo đức. Thời này ai cũng phải sống.”

Nói xong, Khải im một chút, như chính ông cũng nghe thấy câu đó vang lại trong đầu mình. Rồi ông nói thêm, giọng chậm hơn:

“Tôi cũng từng mất chỗ để về. Không ai giữ giùm tôi cái gì hết.”

Câu đó nói ra không lớn, nhưng đủ để lọt qua khoảng lặng giữa hai người. Ông Tư không đáp liền. Chỉ nhìn Khải, lâu hơn lúc nãy.

Ông Tư gật đầu.

“Tui cũng đang sống.”

Rồi ổng nói thêm, chậm rãi:

“Mà sống, không phải là giẫm lên người chết.”

Đêm đó, không gian như bị kéo căng ra đến mức chỉ cần một tiếng động nhỏ cũng đủ làm nó rách. Gió không còn thổi theo hướng nào nữa, mà quẩn lại, xoáy thấp sát mặt đất, như đang tìm đường chui xuống. Cỏ nằm rạp, rồi lại dựng lên, từng đợt, như có bàn tay vô hình vuốt ngược từ dưới mộ lên. Không còn nghe rõ tiếng mưa, chỉ còn một thứ âm thanh đều đều, trầm đục, như hàng trăm người đang nói cùng lúc, nhưng bị đất đè lên miệng. Chỉ cần đứng yên, sẽ nhận ra âm thanh ấy không đến từ đâu khác, mà dâng lên từ chính dưới chân mình. Và nếu đứng lâu hơn nữa, một ý nghĩ lạnh buốt sẽ lộ ra: mình không đứng trên đất, mà trên một thứ gì đó còn giữ ký ức.

Chuyện đã lên tới đỉnh. Ông Tư nói ổng thấy đủ hết. Quan Nguyễn đứng một bên. Lính Tây Sơn đứng một bên. Người Chăm đứng xa xa, không tham gia, chỉ nhìn.

Họ không còn cãi nhau. Họ quay qua nhìn ông. Một giọng hỏi:

“Ngươi chọn ai?”

Ông Tư cười, lần đầu tiên cười trong mấy ngày.

“Tui không chọn.”

“Vậy ngươi giữ cái gì?”

Ổng nhìn xuống đất.

“Giữ cho đất được yên.”

Mọi thứ lặng đi. Rồi một luồng gió lướt qua, không mang hơi lạnh, cũng chẳng chút ấm áp, chỉ để lại một khoảng rỗng hun hút như vừa cuốn mất thứ gì đó khỏi cõi này. Sáng hôm sau, người ta thấy ông Tư nằm trước mộ tổ. Ổng không chết. Chỉ là từ đó, không còn nói được nữa. Như thể trong đêm, đất đã âm thầm nhận lấy tiếng nói của ổng, khóa chặt lại ở một nơi nào đó sâu lắm, không ai với tới.

Dự án vẫn tiếp tục. Mộ vẫn dời. Đất vẫn bán. Một lần, Khải đứng một mình ở rìa công trình, lúc trời gần tối. Công nhân đã về hết, máy móc tắt, chỉ còn tiếng gió lùa qua bãi đất trống. Ổng đứng yên khá lâu, như đang đợi ai đó, hay đợi một thứ gì đó xảy ra. Rồi cái tiếng đó tới. Không lớn. Không rõ. Nhưng đủ gần để biết là không phải từ ngoài vào. Khải không cúi xuống. Ổng cũng không quay đầu lại. Chỉ đứng im, hai tay bỏ túi, mắt nhìn thẳng về phía trước, như chưa từng nghe thấy gì. Một lúc sau, ông bước đi chầm chậm. Từ hôm đó, người ta không thấy ông đứng lại lâu ở chỗ nào nữa.

Những tấm bảng quy hoạch dựng lên ngay ngắn, che hết tầm nhìn xuống chân núi. Ban ngày, người ta nói cười, đo đạc, ký giấy. Mọi thứ diễn ra trơn tru, như thể nơi đó chưa từng có ai nằm lại. Chỉ có một chuyện không ai giải thích được. Về sau, ở khu đó không ai ngủ được trọn đêm. Không phải vì sợ. Mà bởi nhắm mắt lại là nghe tiếng người. Không rõ mặt, không rõ lời. Chỉ là những câu nói đứt đoạn, chồng lên nhau. Như một cuộc trò chuyện chưa bao giờ kết thúc. 

Tui có quay lại chỗ đó vào một chiều mưa Huế. Mưa rơi đều, nhỏ, lâu, như không có ý định dứt. Đất đã được san bằng, cỏ mới trồng còn non, xanh mà lạnh. Nhìn qua thì không còn dấu gì của mộ. Nhưng đứng yên một lúc, vẫn có cảm giác như dưới lớp đất mỏng đó, mọi thứ vẫn còn nguyên.

Người ta hỏi tui có tin chuyện ông Tư không? Tui không trả lời. Không phải vì không biết tin hay không, mà vì có những chuyện, hễ nói ra thành lời là tự nhiên thấy nó nhẹ đi, mà chuyện này thì không nên nhẹ. Tui chỉ nhớ lời ổng, trước khi im hẳn:

“Đất không bao giờ thuộc về người sống. Người sống chỉ mượn tạm của người chết thôi.”

Hồi đó tui nghe, hiểu lưng chừng. Nghĩ là ổng nói chuyện đạo lý, kiểu người già hay nói. Nhưng đứng ở đây, giữa cơn mưa Huế rơi dài không dứt, tui mới thấy câu đó không phải để hiểu, mà để nghe.

Mưa rơi xuống đất, mà nghe như dội ngược lên. Tiếng nước, tiếng gió, rồi những âm thanh lẫn lộn ở đâu đó phía dưới chồng lên nhau, không còn phân biệt được đâu là của trời, đâu là của người. Và có một khoảnh khắc rất ngắn, ngắn tới mức nếu chớp mắt là mất. Tui thấy rõ một điều: mình không đứng một mình. Như thể ngay dưới chân, có ai đó vẫn còn đó. Không phải để kéo mình xuống. Chỉ là chờ mình nói tiếp một lời còn dang dở.

Nguyễn Đông A