1-
Như mọi ngày, khoảng ba giờ sáng ông Dư đã thức dậy. Quen rồi,
nên ông Dư không nghĩ là mình bị mất ngủ. Ông không ráng ngủ thêm.
Ông pha trà, ngồi trên thềm, dưới mái hiên nhà, nhìn mông lung lên bầu trời đêm, nhìn mảnh sân nhỏ.
Mấy bữa trước, thằng con trai ông tỏ ý muốn ông rời khỏi nơi
này. Nó nói: con đã mua căn hộ chung cư trên phố. Chỗ đó gần trường học có tiếng
cho cháu đi học, gần bịnh viện lớn cho ba trị bịnh. Nhà mình cũ, cũng hơn hai
mươi năm rồi, lại xa phố, bất tiện lắm.
Đứa con dâu nói thêm: nơi đó sang trọng, ở đây quê mùa, tụi
con khó mở rộng mối giao dịch làm ăn. Không bán căn nhà và mảnh đất này, tụi
con cũng có thể mua được nhà mới. Bán, không phải vì thiếu tiền mà vì ba già rồi
không thể sống một mình ở nơi đây.
Hai đứa nó nói nhiều lắm mà ông không còn nghe thấy gì. Lúc
đó ông không buồn, không giận, nhưng thấy hụt hẫng. Vài giờ sau, ông còn thấy
chúng nó nói có lý.
Ông Dư nhấp một ngụm trà, nhìn lên trời khuya. Ông hít sâu
mùi bông lài, lắng nghe tiếng gà gáy trăng.
Đột nhiên ông Dư choáng. Ông mất ý thức, quỵ xuống trước
hiên nhà như một loài thực vật yếu ớt bị chặt rễ, bứng xa lìa khỏi đất.
2-
Hai tháng sau, cũng ba giờ sáng. Ông Dư pha trà, ra ban
công, nhìn xuống phố khuya. Chỗ nào cũng đèn sáng, cũng bê tông, cũng kính cường
lực. Ông thấy dưới nhà có người đang bươi thùng rác kiếm đồ phế thải. Ông tự an
ủi: mình vẫn còn sướng hơn mà.
Bán nhà, đất xong đứa con dâu đưa cho ông cuốn sổ tiết kiệm.
Nó nói: Ba cất để dưỡng già, còn muốn mua gì cứ nói con mua, Ba cũng nên đi du
lịch đây đó, để đến lúc muốn đi mà không đi được.
Đứa con trai còn tặng cho ông một chuỗi hạt đá quý. Nó tự
đeo vào cổ tay ông, và nói: Ba diện cái này cho oai, cho sang, nghe nói còn trừ
tà, cầu may nữa.
Ông Dư nghĩ ngợi lan man. Ông ghiền mùi thơm của cây bông
lài, nhớ câu nói giỡn của ông Tư hàng xóm, thèm vị cà phê rẻ tiền của quán Cô Bảy
Gốc Me.
Bây giờ, ông như con chim bị cầm tù trong chiếc lồng đẹp với
thừa thãi thực phẩm chế biến. Mà con chim cần có trời cao, cây xanh.
Nơi đây, phố xá này, chung cư này không thuộc về ông. Và ông
cũng không thuộc về nơi này.
Con ông thực hiện quá đầy đủ nhiệm vụ với ông. Nhưng ông có
cảm giác đó không phải là tình cảm thiêng liêng.
Mơ hồ giống như con ông đang thanh toán sòng phẳng một bản hợp
đồng trong vô số những bản hợp đồng giao dịch khác?
3-
Cũng ba giờ sáng, một ngày khác. Ông Dư lại ngồi pha trà, ở
ban công của căn hộ chung cư.
Cây lài ông đem theo từ quê nhà sống èo uột, không ra bông.
Trăng cũng còn trên bầu trời đêm mà khuất mặt giữa đám đông đèn cao áp, đèn bảng
hiệu quảng cáo.
Nghĩ ngợi nhiều rồi ông Dư lại cho là riêng mình sống vậy
cũng được rồi. Ông lo cho con, cháu ông.
Ông đã thấy đứa cháu nội ông suốt ngày chỉ có học. Thằng
cháu chăm chỉ, hiền lành, chưa kịp lớn đã bị mất tuổi thơ.
Bọn nhỏ đến trường không phải để học làm người, mà để tranh
giành mấy mảnh bằng–cái giấy thông hành để vào đời.
Nhận được bằng rồi, sau niềm vui là cặp mắt loà phải cần thấu
kính, là xác thân, tâm hồn èo uột xa lạ với thiên nhiên, với cuộc đời.
Ông có nghe biết những món nợ lớn mà con ông đang vay.
Thế giới này đang say một cơn mê quái dị.
Con ông và những người cùng thời đang mải mê làm việc để phô
trương ngôi nhà, chiếc xe, trang thiết bị hiện đại.
Tụi nó bị trói vào những con số trong tài khoản. Hân hoan
vào siêu thị mua lo âu, vào quán uống lãng quên, và trở về nhà với sự hoang
mang không lời giải.
Ngày qua ngày. Trong phố xá tiện nghi, hiện đại này mọi người
đang thở trong không khí giả của máy điều hoà. Ăn những thực phẩm tẩm hoá chất.
Nghe, nhìn những lời nói gạt.
Ông Dư có cảm giác là mọi người đang lừa dối lẫn nhau để tồn
tại, để vươn lên trong nỗi hoài nghi của niềm tin.
Ông Dư nghĩ ngợi nhưng bế tắc và tuyệt vọng. Ông biết mình
không thể trả lời những câu hỏi nặng như kiếp người đó.
Đời ông khổ nhọc rồi cũng đã qua, cũng sẽ qua. Nhưng lứa người
con, cháu ông sẽ ra sao?
Ông thương quá, tội nghiệp cho chính ông và tất cả mọi người
chung quanh.
Tất cả đang chìm trong một thế giới không có thần linh,
không có lý tưởng cao cả.
Mọi người đang vỗ tay để hoan hô giai đoạn hấp hối của chân,
thiện, mỹ.
Họ đang mua sắm, ăn uống như đang dùng chất kích thích để sống
và lãng quên sự phi lý của cuộc đời.
Họ làm việc, họ hát, họ cười, họ viết lách, họ nhảy múa quay
cuồng…Vì nếu lặng yên họ sẽ cảm nhận được sợi dây thực tại đang siết dần mòn ý
thức.
Cả một xã hội đang bơi như những thuyền nhân ngày nào trên
biển đời muôn trùng cạm bẫy.
Ông Dư nghĩ ngợi mông lung rồi có lúc lại tự bào chữa cho
con, dâu ông: hay là mình đã già, trì trệ, cố chấp, không theo kịp thời đại. Có
lẽ mình sai. Xã hội đang giàu lên không còn nghèo khổ như xưa mà.
4-
Lại ba giờ sáng, lại một ngày khác. Ông Dư lại ngồi ở ban
công, pha trà. Đêm ở đây không tối như ở quê nhà. Trời khuya vẫn sáng. Thứ ánh
sáng máy móc, vô hồn, đơn điệu. Thứ ánh sáng làm ông Dư thấy đất, trời không
còn, ký ức bị đánh mất.
Ông Dư vừa nghĩ ngợi vừa chăm chú chế nước sôi vào bình.
Xong, ngẩng đầu lên, ông thấy có người ngồi ở bàn trà.
Người đó mặc bộ quân phục cũ nhưng tươm tất. Ông ta nói thân
thiện: -Xin lỗi, tôi thấy ông thức dậy sớm nên ghé xin chén trà.
Ông Dư hoan hỷ: -Dạ, mời ông. Có người để nói chuyện lúc
khuya khoắt này cũng đỡ cô tịch. Mà ông ở căn hộ gần bên à?
Người khách yên lặng, chưa trả lời. Ông Dư có cảm giác mình
đã gặp người này ở đâu đó trong đời ông.
Giây lát sau người khách nói: – Chắc ông có biết tôi. Tôi là
ông tướng thắng trận năm bảy lăm, đã về hưu. Nhưng lại chết trận ở biên giới
phía Bắc, năm bảy chín đó.
Ông Dư thoáng rùng mình, lặng người, rồi định thần lại, nói:
– Dạ, tôi nhớ ra rồi.
Ông Dư nhớ lại câu chuyện ông tướng về hưu có đứa con dâu
bác sĩ, đem nhau thai bỏ đi ở bịnh viện phụ sản về nuôi chó bẹc-giê cho mau to
lớn, bán được nhiều tiền.
Hai ông yên lặng nhìn nhau, không nói gì một lúc.
Ông Dư rót trà vào tách nói: -Dạ, mời ông. Tôi cảm phục ông.
Ông đã chiến đấu để đem lại hoà bình cho mọi người. Khi đã về hưu ông lại khước
từ sự an nhàn, hy sinh bảo vệ đất nước.
Ông khách nhẹ nhàng nói trong gió thoảng đêm khuya: – Ban đầu
tôi cũng nghĩ vậy. Chúng tôi đã dùng chiến tranh, đã phung phí máu của một thời
đại để tạo ra bình yên cho mọi người. Nhưng, về sau…kết cuộc lại đau đớn, dằn vặt
lắm ông à. Nào ngờ, từ chiến thắng đó mới tạo ra những người như con dâu tôi.
Và mấy mươi năm sau là cả một xã hội như ông đang sống.
Ông Dư an ủi: -Ông không có lỗi, đừng tự quá trách mình. Ông
đã hiến dâng đời ông trong nhiệm vụ của một người lính.
Ông khách cười chua chát: – Những người lính của tôi đã ngã
xuống khi chưa kịp biết đến một nụ hôn đầu. Sự hy sinh thầm lặng đó đem đến hoà
bình cho mọi người. Nhưng mà, như ông thấy, một nửa thế kỷ trôi qua, không có
hoà, chẳng có bình.
Con người ta nghi kị, chia rẽ, trù dập nhau. Cuộc sống đầy
mưu toan, dối trá, lo âu, sợ hãi…
Ông Dư cảm nhận: – Tôi cũng mệt mỏi, chán ngán như ông nói.
Thời đại gì mà con người lại thấy cô đơn, lạc lõng, bất an ngay cả trong căn
nhà, bên cạnh người thân của mình.
Ông khách lạ nói: – Tính người mà ông. Chiến tranh làm mọi
người nắm chặt tay nhau để sống, để chiến thắng. Hoà bình khiến cho con người
buông tay nhau để thu vén đời riêng, để rồi chỉ gom về tan vỡ, bất hạnh.
Hai người lặng yên một lúc.
Rồi ông Dư nói như an ủi ông khách: – Tôi không tìm thấy con
đường ra khỏi bế tắc. Còn ông, cuộc chiến khốc liệt chống ngoại xâm năm bảy
chín lại mở cho ông một lối thoát hào hùng, vinh dự.
Ông khách cười cay đắng: – Bố khỉ, vinh dự gì cho cam. Ông
cười to: ha ha! vậy là phe ta nô dịch tôi bằng sự thực dụng, huỷ hoại đạo lý;
còn quân thù đem đến cái chết để tôi chạy trốn, giải thoát cuộc đời một cách
hào hùng. Chiến tranh đem lại niềm vui, còn hoà bình mang về nỗi đau à! Ha ha!
Ông Dư bất giác cũng cười theo.
Những tiếng cười xót xa hơn là khóc.
Sau đó hai người lại yên lặng thật lâu. Họ nhìn nhau. Nhìn lại
mình.
Chập sau, ông khách lạ nói: – Chiến tranh có chỗ dễ hiểu,
người lính thấy rõ kẻ ác. Còn hoà bình cái ác trong người thân của mình, trong
những đồng đội ngày nào giờ đang trên ngôi cao quyền lực.
Ông Dư xoa dịu: – Đời mà, có gì mà trọn vẹn, vĩnh cửu. Có
người hiền đức, có kẻ bất lương.
Ông khách đứng lên giận dữ: – Cay đắng lắm, khi người hiền
lương phải biến dạng theo bọn gian manh để tồn tại. Khi những kẻ cuồng quyền nắm
giữ số phận của người có lương tri thì hạnh phúc gia đình ly tán, đất nước điêu
tàn.
Ông Dư yên lặng. Người khách ngồi xuống trấn tĩnh chính mình
một lúc rồi nói: – Tôi, tôi đã thắng trong chiến tranh mà thất bại trong hoà
bình. Bại trận trước sự thực dụng, phi nhân. Tôi đã chết không nhắm mắt, làm hồn
ma vô vọng ở lại dương trần bởi quá luyến thương những người khổ ải.
Thôi, lại một ngày sắp đến, tôi phải đi, phải biến tan dưới
mặt trời tháng Năm hung bạo. Chào ông.
Ông Dư nói lời đưa tiễn: – Dạ, ông đi, tôi còn sống mà đâu
khác gì ông, tôi cũng đã là một bóng ma trong cuộc đời này thôi. Tôi chờ ông trở
lại.
5-
Ba giờ sáng, một ngày khác. Ông Dư ra ban công thấy ông
khách đã ngồi đó.
Ông Dư lộ vẻ mừng, nói: – Tôi mong ông đến, nói chuyện với
ông cũng xả bớt uẩn khúc trong lòng.
Ông khách nói: – Buồn chán quá ông nhỉ. Người còn sống không
tìm được niềm vui với người sống, phải tìm sự đồng cảm với hồn ma. Và oan hồn-như
tôi-không giải thoát được lại phải trở về với người sống.
Ông Dư góp lời: – Đọc thơ văn, nghe nhạc cũ, của những tác
giả đã qua đời cũng là trò chuyện với người đã chết đó thôi.
Người khách lạ nói: – Gần trăm năm rồi, quá nhiều lý thuyết,
chỉ làm cho xã hội thực dụng, không còn lòng nhân nghĩa. Tại sao chúng ta mãi lẩn
quẩn trong u mê để trả giá quá đắt cho mong ước được làm một con người bình thường?
Để được sống, được học, được mưu sinh, và được chết một cách tử tế?
Ông Dư chua chát: – Có lẽ chúng ta đã đi qua thời kỳ của sự
hoang mang để đến thời kỳ thích nghi với điều phi lý, phi nhân.
Người khách lạ nói thân mật: – Ông bạn già của tôi, chúng ta
ngồi lầm bầm nghĩ ngợi quá lâu rồi. Mà đời sống lại thay đổi từng ngày. Phải đi
thôi ông. Đi để thấy lẽ sống. Cứ đi, dù chưa có con đường. Con đường đôi lúc có
sau bước chân đó ông. Là một người lính, tôi rõ điều này.
Ông Dư phấn khích: – Đúng, đi để khỏi chạy trốn. Ông chờ
chút để tôi bỏ bớt gánh nặng.
Nói xong, ông Dư vào nhà lấy cuốn sổ tiết kiệm ra, đặt ngay
ngắn trên bàn trà. Ông tháo chuỗi đá quý ra khỏi tay. Bóng tối làm ông không thể
mở cái móc, ông giật mạnh. Hạt chuỗi bứt dây bắn tung vào kính cường lực. Những
tia lửa nhỏ loé sáng ban công u tối– âm thanh vang như những phát súng hiệu lệnh.
Đứa con trai nghe tiếng động vội chạy ra. Nó nói to trong
cơn ngái ngủ: -Ba, Ba! Ba nói chuyện với ai vậy? Đi đâu trong đêm khuya?
Hồn ma ông tướng nắm tay ông, đi như bay xuống cầu thang bộ.
6-
Hai người bạn già lướt qua mặt đường lớn, xuôi theo lối phụ,
ngõ sâu. Sương đêm dịu mát làm ông Dư thanh thản lại. Ông nói: – Ông là lính đi
nhanh thiệt, tôi nương theo muốn đứt hơi. À, lâu quá rồi tôi chưa được đi bằng
chân trần, trên đất.
Ông khách nói: – Bằng đôi chân đi trên đất chúng mình đã vượt
qua bao nhiêu ải khổ. Cũng đôi chân đó, bây giờ, lại ngã quỵ trên nền đá giả ở
đô thị phồn hoa.
Ông Dư nắm tay người khách nói: – Mình nghỉ một lát.
Họ ghé vào quán cà phê bên vỉa hè.
Ông Dư ngồi xuống cái ghế nhựa thấp, nói: – Cô chủ, cho hai
ly cà phê sữa nóng, ít sữa thôi.
Người chủ quán có vẻ ngạc nhiên, hỏi: – Có một mình ông sao
gọi hai ly?
Người khách lạ nhắc nhỏ ông Dư: – Tôi là hồn ma, cô chủ quán
không thấy tôi đâu.
Ông Dư mỉm cười nói với người bán cà phê: – Cô cứ đem hai
ly.
Đêm khuya quán vẫn đông khách. Dân lao động, buôn bán nhỏ đã
bước vào một ngày vất vả khi nhiều người còn mê ngủ.
Cà phê vỉa hè không kén lựa người chung bàn. Bàn nào còn chỗ
đều vào ngồi được.
Ông Dư ngồi ở chỗ không ánh sáng. Cạnh ông là một cặp nam nữ
đeo kính đen. Ông Dư thầm thắc mắc: sao lại đeo kính đen trong đêm. Đối diện
ông là một phụ nữ mặc váy thật ngắn, áo hở cả vai ngực.
Có lẽ tất cả đều nghỉ ngơi chưa đủ, nên không ai nói gì. Lặng
yên tựa những bóng ma, không chút sinh khí.
Cặp nam nữ đeo kính đen chậm chạp đứng lên, một người quơ
tay trong bóng tối, tìm túi xách. Người chủ quán nhanh tay lấy giúp, đưa cho đứa
con gái. Đứa con gái nói: – Cô lấy dùm con tiền đựng trong túi cho tiện. Xong,
hai người nam nữ nắm tay nhau lần mò rời khỏi quán.
Cô chủ quán cà phê nói với ông Dư: – Hai cháu này mù đó ông.
Họ làm ở tiệm mát-xa của người mù ở gần đây. Tội nghiệp, hai đứa nó thương
nhau, tính dành dụm cuối năm về quê làm đám cưới. Quê tụi nhỏ đâu đó ngoài Bắc.
Ông Dư cảm thán: – Tật nguyền vậy mà vẫn ao ước có một gia
đình.
Cô chủ quán cà phê nói: – Dạ, em cũng có nói với họ sau này
có con cái sẽ khó đấy. Mà cô gái mù chỉ mỉm cười nói: – Cũng không sao đâu. Trời
không cho mình thấy đường, mình cũng tìm đường để vui sống chứ. Trời thương thì
cho con của tụi cháu không mù như cha mẹ nó.
Đứa con trai mù thổ lộ: – Nói vậy để phấn đấu, còn trong
hành lý của chúng cháu bao giờ cũng có một lọ xy-a-nua hay một nắm lá ngón.
Nghe mà rụng rời đó ông à.
Hồn ma ông khách lạ thở dài nói: – Đời sao nghiệt ngã quá. Kẻ
lâu đài, tiền bạc ăn ba đời không hết mà vẫn làm bậy, người chỉ ao ước chút ánh
sáng cho con mình.
Một lát sau người phụ nữ mặc áo hở ngực nói với chủ quán: –
Bà tính tiền ly cà phê, bữa nay tui nợ, bà cho tui mượn thêm tròn nợ một trăm
ngàn. Tui đi mần, chừng một tiếng sau quay lại trả cho bà. Cả tháng nay ế quá,
ông già tui cứ nằm viện miết. Biết làm sao hơn.
Nói rồi, người phụ nữ cầm tiền nhét vào áo ngực, thót lên xe
của gã cò đĩ đang đợi.
Cô chủ quán cà phê nói với ông Dư: – Tội nghiệp, lo cho cha
mẹ, anh em đến nỗi hơn bốn mươi lăm tuổi rồi còn đứng đường đợi khách.
Ông Dư và ông khách lại nhìn nhau ái ngại.
Cô chủ quán nhìn ông Dư, thân thiện hỏi: – Chắc ông không phải
người ở đây.
Ông Dư nói: – Tôi mới đến ở chung cư đằng kia chừng vài
tháng.
Cô chủ quán nói: – Tôi đoán ông là khách lạ vì ông có vẻ
khác với những khách thường xuyên đến quán. Tháng trước có sáu, bảy người lớn
tuổi, chắc cũng là người có chữ nghĩa như ông, ghé quán tôi.
Ông Dư hỏi: – Họ ở gần đây không cô?
Cô chủ quán nói: – Họ ở xa lắm, đến thăm ông nhà văn gì ở
trên chung cư mấy mươi tầng kia. Nhưng không hiểu sao bữa đó chung cư lại mất
điện mấy giờ liền. Già cả như họ làm sao leo cầu thang bộ.
Cô chủ quán nói thêm: – Ông nhà văn đó còn lớn tuổi hơn ông
nhiều. Chắc cũng trên dưới chín lăm đó ông. Mấy năm nay không thấy ghé quán
tôi, yếu rồi. Tội nghiệp, nghe nói ở một mình.
Bóng ma ông khách lạ ngạc nhiên, nói với ông Dư: – Có lẽ nếu
tôi còn sống cũng xấp xỉ tuổi ông ấy. Người chết ở tuổi nào mãi mãi tuổi đó,
không già thêm. Mình lên thăm ông ấy đi.
Ông Dư nói: – Giờ này chắc khó gặp. Hình như họ không muốn
cho khách đến thăm ổng.
Người khách lạ nói: – Tôi là hồn ma, tôi lên được.
Bóng ma rời quán, lướt nhẹ trên phố khuya.
Sau đó rất lâu, ông Dư nghe hồn ma nói: – Tôi vào phòng thấy
ông ấy đang ngủ trên bàn làm việc. Tôi không dám phá giấc yên nghỉ. Tôi lén
quan sát, tìm hiểu.
Ông nhà văn đó cũng là lính. Lính văn nghệ, hàm đại tá, còn
danh giá hơn tướng võ biền như tôi. Ông Dư này, đọc những trang viết của ông ta
tôi càng thấy rõ cái chết của tôi như chạy trốn, thậm chí là đào ngũ.
Ông Dư hỏi: – Ông nhà văn đó viết ý tưởng gì vậy?
Bóng ma trầm ngâm một lúc rồi nói: – Ông ấy đang tiếp tục
nhiệm vụ của một người lính, một người trí thức, một người công dân lương thiện.
Nhìn thấy và cảnh báo những vết nứt sụp đổ của xã hội.
Ông ấy đang nuôi giữ và lan truyền ngọn lửa của lương tri, tự
do, nhân bản.
Ông Dư yên lặng. Khoảng lặng như nín thở bơi qua hố sâu sóng
dữ.
Ông cảm nhận hơi thở thân ái của đêm hè phố. Những toà nhà
cao tầng che mặt trời, những ánh đèn mờ bóng trăng khuya sẽ trở mình, sẽ không
xa lạ; ông sẽ không cô độc, hiu quạnh giữa lòng đời nếu ông không bất lực,
buông xuôi, chạy trốn.
Bóng ma ông tướng nắm tay ông Dư nói: -Ông phải thực sự sống.
Chúng ta đã sống như những cái bóng trong dòng đời biến động. Khác gì đã chết.
Mình phải nghe tiếng thở dài của những phận người đang vật vã giữa cuộc nhiễu
nhương. Và, nếu được, hãy nói giùm họ.
7-
Hai người cùng nhau lặng lẽ đi vào một xóm trọ nghèo nàn.
Ông Dư thấy mình thanh thản. Ông mơ màng nghe như có tiếng ai hát khúc vĩ thanh
của một bài thơ:
Thế giới này vẫn đẹp
không phải vì nó không có kẻ ác
mà vì những người lương thiện vẫn lặng lẽ nắm tay nhau.
