20 August 2026

VŨ ĐIỆU CỦA NHỮNG MẢNH RÊU MƯỢN ĐẤT - Ngọc Tuyết (Tóc Nguyệt)

Chúng tôi rời xa mảnh đất miền Trung ruột thịt vào một ngày gió chướng. Trên sông Hàn, gió thổi mạnh đến mức mặt nước cuộn lên từng lớp sóng bạc đầu, trắng xóa cả một khoảng trời.

Không có một cuộc chia ly nào đầm đìa nước mắt, cũng chẳng có những cái vẫy tay tuột dần vào thinh không như trong những thước phim diễm tình cất kỹ sáu ngăn sầu thảm. Rất gọn ghẽ. Ba mẹ tôi gói ghém mười mấy năm sương gió mặn mòi của Đà Nẵng, nhồi nhét những vệt chai sần của tháng năm túng quẫn vào ba chiếc túi xách bằng bạt ni-lông kẻ sọc. Những chiếc túi ấy phình to, nứt nẻ, mang cái dáng vẻ kệch cỡm của những thân phận chưa đi đã biết mình trật nhịp. Chúng tôi lăn vào Sài Gòn.

Tôi dùng từ “lăn”, bởi vì chúng tôi chưa bao giờ thực sự có được cái thế đứng đường hoàng của những kẻ cắm rễ. Những phận người nhập cư chúng tôi giống hệt những đám rêu phù phiếm, tróc ra khỏi tảng đá mẹ, bị dòng chảy vĩ đại của sinh kế cuốn đi, rồi bám hờ hững vào những vách hẻm ướt rượt của thành phố này. Sống. Và mưu sinh. Vừa lộng lẫy trong sự sinh tồn trần trụi, vừa mỏng tang rờn rợn trước cái chớp mắt của vô thường.

Thành phố Sài Gòn đón chúng tôi bằng một thái độ đỏng đảnh, kiêu kỳ của một góa phụ giấu sự giàu có dưới lớp lụa đen huyền bí. Bà ta không từ chối ai, nhưng cũng chẳng bao giờ hứa hẹn sự thủy chung với bất kỳ kẻ nào vác mặt đến xin ăn. Bà ta ném ra trước mắt chúng tôi một bàn cờ thế mấp mô, nơi sự khắc nghiệt không hiện hình thành những đòn roi ứa máu, mà hóa thân thành cái nóng hầm hập phả lên từ mặt nhựa đường, thành tiếng đồng hồ tính tiền trọ gõ nhịp chan chát vào màng nhĩ mỗi độ cuối tháng.

Cái tổ kén đầu tiên mà gia đình tôi chui rúc vào là một con hẻm chật chội nằm nép mình dưới chân cầu Điện Biên Phủ.

Ở đó, có một tháp nước cao.

Nhiều bận, đứng dưới mái hiên chắp vá bằng những mảnh tôn rỉ sét, lở loét như mảng da hắc lào của một gã nát rượu, tôi lại ngửa cổ ngước nhìn lên cái tháp nước ấy. Nó lừng lững đâm toạc cái vòm trời chật chội của xóm ngụ cư, như một gã khổng lồ câm nín bị đày đọa, cứ phải chôn chân đứng gác cho những giấc mơ tủn mủn của con người nơi đáy xã hội. Tháp nước sừng sững chứa cả một biển nước khổng lồ, nhưng lại tàn nhẫn chẳng rỉ ra cho chúng tôi dù chỉ một giọt để rửa trôi đi cái mệt nhoài. Cái dáng vẻ ngạo nghễ của những công trình biểu tượng chễm chệ giữa đám người lam lũ, nơi chỉ đặc quánh mùi mồ hôi chua loét và khói than tổ ong ngột ngạt.

Hẻm Điện Biên Phủ dạy tôi bài học vỡ lòng về hình thù của sự chật hẹp và quy luật bứt phá của sự vươn lên.

Cái xóm này hẹp, người ta chẳng buồn đo bằng mét vuông làm gì. Bề bộn và chật chội ở đây được đo bằng tiếng thở dài nặng nhọc của bà bán bún riêu, bằng cả những cơn ho lụ khụ quặn thắt lồng ngực của ông già sửa xe đầu hẻm.

Nhưng, đừng tưởng đám rêu ngụ cư ấy chỉ biết khóc than. Tôi đã tận mắt thấy cái cách họ cắn răng bẩy bẩy từng phiến đá oan nghiệt của số phận để trồi lên.

Ông già sửa xe đầu ngõ, người mang một lá phổi đặc nghẹt muội khói, chưa bao giờ nghỉ trưa. Đôi bàn tay ông đen nhẻm, móng tay cáu lại những vệt dầu luyn không thể rửa sạch, thoăn thoắt tháo lắp những chiếc sên xích rỉ sét. Ông cạy cục, bòn mót từng đồng bạc lẻ rớt xuống từ sự hư hỏng của máy móc người đời, để đắp đổi thành những tờ giấy bạc phẳng phiu đóng học phí cho đứa con gái đang học đại học Y. Sự khắc nghiệt dập vùi hình hài ông thành một dấu hỏi còm cõi, nhưng lại mài giũa ý chí ông thành một lưỡi dao sắc lẹm, ngoan cường chém nát sự nghèo hèn để nhường phần quang đãng cho bầy con. Đó là một sự vươn lên tứa máu, không có tiếng vỗ tay, không có ánh đèn sân khấu, chỉ có âm thanh lách cách của chiếc cờ lê va vào hộp sọ đô thị.

Tôi bắt đầu nhận ra sự vô thường của thân thể ngay tại cái xóm chân cầu này. Da thịt con người, dẫu có được bọc trong những lớp áo diêm dúa hay vải thô sờn rách, thì cũng mỏng manh như một lớp hồ dán giấy, và dễ dàng hao mòn dưới cái cối xay thạch nhũ của mưu sinh. Hôm qua, cô gái điếm ở căn nhà trọ cuối hẻm còn xịt nước hoa thơm nức mũi, lướt ngang qua tôi với nụ cười nhếch mép kiêu sa của loài nhện độc vờn mồi, cố vắt kiệt chút nhan sắc tàn tạ để đổi lấy một tấm vé thoát khỏi cái nghèo. Sáng nay, người ta khiêng cô ra khỏi hẻm, trùm một tấm chăn mỏng. Máu khô viền quanh mép. Cơn sốc thuốc đã tước đi cái quyền được tiếp tục lả lơi với cõi tạm.

Tôi đứng nhìn cái cáng lướt qua, không thấy sợ. Chỉ thấy một tiếng vỡ lanh canh vang lên trong lồng ngực. Tính hữu hạn của đời người hiển lộ phơi bày, trần trụi và diễu cợt. Cơ thể này rốt cuộc chỉ là một cỗ máy sinh học mang kỳ hạn bảo hành quá ngắn ngủi để gánh vác ngần ấy những tham vọng thoát nghèo.

Rồi chúng tôi lại lăn.

Sự bám víu của người ngụ cư mỏng manh đến độ, chỉ cần một cái hắt hơi của thời cuộc, một lời rỉ tai tăng giá nhà của bà chủ trọ, là cả gia đình lại cuộn mình như bầy cuốn chiếu, dạt sang một bến bờ khác. Khắc nghiệt đẩy chúng tôi đi, nhưng cũng chính khắc nghiệt dạy chúng tôi kỹ năng của loài cỏ cú: đứt đoạn này, sẽ mọc ngầm rễ ở đoạn khác.

Lần này, chúng tôi dạt ra bờ kè. Những căn nhà chồm ra mặt nước.

Tôi gọi đó là khoảng thời gian gia đình tôi thực tập trò chơi bấp bênh của định mệnh. Căn nhà sàn chúng tôi ở được chống đỡ bởi những cây cừ tràm cắm phập vào lớp bùn đen đặc quánh. Nước con kinh mang màu sẫm ủ ê, lúc nào cũng phả lên một mùi tanh tưởi ngai ngái của sự phân hủy và tái sinh trộn lẫn.

Mẹ tôi bắt đầu tập thức dậy vào lúc ba giờ sáng. Cái giờ mà bóng tối của Sài Gòn đặc sệt như nhựa đường, và cái lạnh từ mặt kinh bốc lên như hàng ngàn mũi kim châm vào khớp xương. Mẹ nhóm một lò than. Ánh lửa bập bùng hắt lên khuôn mặt đã lấm tấm những đốm tàn nhang của tuổi trung niên nhọc nhằn, soi rõ những nếp nhăn đang bò dần về phía đuôi mắt. Bà nấu xôi. Từng chõ xôi nếp thơm lừng bốc khói nghi ngút là vũ khí duy nhất của mẹ tôi để chống lại sự nghiền nát của cái đói. Mỗi một hạt nếp dẻo thơm là một lời tuyên chiến thầm lặng của một người đàn bà nhập cư bé mọn với cả một guồng máy kinh tế khổng lồ của thành phố.

Tôi nằm trên gác xép, áp má vào mặt ván gỗ hãy còn vương mùi ẩm mốc, nghe rõ mồn một tiếng những con cọp nước liếm láp dưới chân nhà, hòa cùng tiếng nạo vét xoong nồi sột soạt của mẹ. Đêm. Dòng kinh đen ngòm ấy, dưới ánh đèn vàng vọt hắt ra từ những cột đèn cao áp trên bờ, bỗng khoác lên mình một lớp vảy vàng lấp lánh như chiếc áo tơi của một vị thần sa ngã.

Trò chơi bắt đầu khi có những chiếc ghe máy nổ pành pạch chạy ngang qua.

Mỗi lần sóng ghe đánh vào bờ, vỗ mạnh vào những cọc tràm, là cả căn nhà lại chao nghiêng.

Nghiêng sang trái. Lắc sang phải.

Cái sự chao đảo ấy ban đầu làm mẹ tôi xây xẩm, khiến ba tôi phải vội vàng vịn tay vào cột nhà. Nhưng tuyệt nhiên, chưa một lần nào nồi xôi của mẹ bị đổ. Trong cái chao lắc của sinh tồn, người ta tự khắc học được cách hạ trọng tâm, ghì chặt đôi chân vào thực tại để giữ lấy những gì mỏng manh nhất nuôi sống mình.

Với tôi, cái nhịp chao nghiêng ấy lại là một điệu waltz huyễn hoặc. Tôi nằm nhắm mắt, để mặc cho thân thể mình trôi nổi theo cái nhịp điệu dập dềnh của căn nhà. Trong những khoảnh khắc ấy, lực hấp dẫn dường như bị đình chỉ. Tôi không còn là một cá thể nặng nề mang theo hàng tá những nỗi lo toan cơm áo gạo tiền. Tôi chỉ là một hạt bụi nước vô tiền khoáng hậu, đang múa nốt điệu vũ cuối cùng trước khi tan vào thinh không.

Nhưng khi điệu múa ấy dừng lại, dọn chỗ cho cái tĩnh lặng gai người của đêm sâu, sự cô đơn bản thể chưa bao giờ rõ rệt đến thế. Khi căn nhà chao nghiêng trên sóng nước bờ kè, tôi nhận ra rằng, dẫu ba mẹ tôi đang thức dưới nhà để vắt kiệt sức lao động, dẫu hàng xóm đang ngáy rung vách, thì tự sâu thẳm trong cái rỗng không của lồng ngực, tôi vẫn chỉ có một mình.

Mỗi con người trong cái xóm ngụ cư này đang chiến đấu trong một cuộc chiến đơn độc đến rợn ngợp. Chẳng ai chia sớt được cái đau buốt ở thắt lưng của mẹ, chẳng ai gánh hộ cái thở dài đầy xác pháo của ông sửa xe, và cũng chẳng ai thấu tỏ được sự run rẩy vỡ vụn bên trong linh hồn tuổi dậy thì của tôi. Chúng ta sinh ra trong một chiếc túi ối bọc đầy cô đơn, và sẽ chết đi trong một sự cô lập hoàn hảo. Mọi sự va chạm, mọi cái ôm xiết, dẫu có mãnh liệt và đầy dục vọng đến đâu, cũng chỉ là những nỗ lực tuyệt vọng để chà xát hai hòn đá lạnh lẽo vào nhau hòng tìm kiếm một tia lửa ấm dối lừa.

Sự cô đơn không phải là một căn bệnh để chữa trị. Nó là trạng thái tự nhiên của tồn tại, như bầu trời phải có màu xanh, như nước kinh này phải sẫm màu khi hoàng hôn buông xuống.

Nhận thức được điều đó, tôi không thấy buồn. Trái lại, tôi mỉm cười. Một nụ cười dí dỏm, bí mật và có phần cay nghiệt tự dành cho chính mình. Tôi thấy mình giống một đóa hoa quỳnh nở bung trong cái xóm nước đen này, kiêu kỳ uống trọn những giọt sương độc hại của phố thị, thản nhiên quan sát sự khắc nghiệt đang bào mòn cha mẹ mình, biết mình cũng sẽ tàn vào sáng mai nhưng đêm nay vẫn phải ngát hương đến bức bối.

Rồi cái chao nghiêng ấy cũng kết thúc khi thành phố quyết định giải tỏa xóm bờ kè để trả lại sự phẳng phiu cho bản đồ quy hoạch. Những chiếc máy xúc ngoạm vào căn nhà sàn, xé toạc tuổi mộng mị của tôi vứt xuống dòng kinh đen.

Chúng tôi lại dọn đồ. Trôi dạt. Và dạt vào hẻm gần chợ Thị Nghè.

Nếu hẻm Điện Biên Phủ là hình học của sự chật hẹp, xóm bờ kè là vật lý của sự chao đảo, thì hẻm chợ Thị Nghè chính là sinh học của sự hỗn mang – nơi mà bản năng sinh tồn và khát vọng vươn lên bộc lộ một cách hoang dại, rực rỡ và đẫm mồ hôi nhất.

Con hẻm này hệt như cái bao tử đang trào ngược của thành phố, nơi nhồi nhét và nhào trộn đủ thứ tạp âm, tạp vị cùng trăm nỗi hỉ nộ ái ố của những kiếp người lam lũ. Mới tờ mờ sáng, khi mặt trời còn chưa buồn xé toạc màn sương đục ngầu, cả xóm đã rùng mình tỉnh giấc. Tiếng bánh xe đẩy lóc cóc nghiến trên mặt đường, tiếng dao nện xuống thớt chát chúa vang lên. Trong không khí, mùi vảy cá tanh ngòm đánh lộn với cái hăng hắc của mớ hành lá héo úa. Ở chốn này, cấm có ai được phép yếu mềm. Sáng mở mắt ra là phải giành giật từng chỗ đứng, moi móc cho được cái góc đường vừa vặn kê cái mẹt hàng, lôi hết cả sự cơ cực, nhọc nhằn ra mà bươn chải. 

Ngồi bó gối trên cái thềm xi măng trước cửa, tôi chống cằm ngó cái đám đông tất tả ngược xuôi, tuôn qua trước mắt như một cơn lũ mưu sinh. Ở cái xóm này, tôi thấy những mảnh đời tha hương giống hệt nhà mình, nhưng trầy trụa, sắc nhọn và gan lỳ hơn ngàn vạn lần.

Tôi thấy chị bán chè xôi nước người miền Tây. Chị có nụ cười lấp lóa má lúm đồng tiền, đôi mắt ướt rượt như chứa cả một mùa lũ đồng bằng. Cái nghèo bám lấy chị, cấu xé tuổi thanh xuân của chị, nhưng chị mặc nó như mặc một chiếc áo bà ba lụa dẫu đã sờn vai nhưng vẫn được là phẳng phiu. Bàn tay chị phồng rộp vì lửa than, những vết bỏng chồng chéo lên nhau như một bức bản đồ tuyệt vọng.

Nhưng, hãy nhìn xem cái cách chị kẹp mái tóc mây bằng một chiếc kẹp nhựa đính đá giả rẻ tiền. Cái chiếc kẹp lấp lánh thứ ánh sáng pha lê học đòi ấy là sự kiêu hãnh cắn răng của chị. Chị không cho phép sự khắc nghiệt biến mình thành một thân tàn ma dại. Chị cất giọng ngọt xớt lơi lả mời khách, giọng điệu có sự duyên dáng ẻo lả nhưng ẩn sâu bên trong là một thanh gầm thép đã được tôi luyện qua ngàn đêm khóc thầm. Mỗi lần chị cúi xuống múc chè, những giọt mồ hôi tứa ra trên tấm lưng thon, lấp lánh như những hạt kim cương mặn chát rắc trên nền cát nóng. Chị múc từng vá chè, cũng là đang múc từng muỗng hy vọng đắp điếm cho giấc mơ gửi tiền về quê cất lại mái nhà lá bị bão giật năm ngoái. Sự vươn lên của chị mềm mại như nước, nhưng có sức mạnh xuyên thủng cả đá tảng.

Tôi thấy chú ba đạp xích lô người Quảng. Giọng chú đặc sệt, nghe như tiếng đá hộc va vào nhau lanh lảnh. Bắp chân chú nổi lên những khối cơ cuồn cuộn, chằng chịt những sợi gân xanh như rễ cây đa cổ thụ bám vào vách đá. Chú hay hút thuốc rê, khói thuốc cuộn lại thành những vòng tròn mờ đục bay lên không trung. Thành phố này đang ruồng bỏ những chiếc xích lô cũ kỹ của chú để nhường chỗ cho taxi lấp lánh máy lạnh. Chú biết. Nhưng chú vẫn gò lưng đạp. Từng vòng đạp nặng nhọc xé rách gió là từng nhát búa chú quai vào tảng đá số phận. Chú vươn lên không phải để trở thành ông chủ, chú vươn lên chỉ để không bị chìm xuống dưới đáy cặn của cái hẻm này, để thằng con trai ở quê còn có chiếc xe đạp đến trường.

Họ lăn vào con hẻm này, mang theo những phương ngữ rổn rảng, những vết thương tấy đỏ, những thói quen ăn uống dị biệt. Tất cả bị cái cối xay của hẻm chợ nghiền nát, trộn lẫn vào nhau. Sự khắc nghiệt chà xát họ, vắt kiệt họ, nhưng đồng thời cũng tôi luyện họ thành một thứ hợp chất kỳ lạ của văn hóa ngụ cư: lì lợm, sắc sảo, đượm buồn nhưng rực rỡ khát khao sống.

Đôi khi, ngồi lặng im trong màn sương mỏng của buổi sớm mai, tôi bỗng rùng mình. Không phải vì gió lạnh. Mà vì tôi nhận ra mình đang run lên trước những va chạm rất khẽ của tồn tại.

Tôi nhìn thấy hạt bụi nhảy múa trong vạt nắng xiên khoai lọt qua mái tôn thủng. Nó bay lên, nỗ lực lơ lửng, chống lại lực hút của trái đất bằng cái thân hình vô lượng của nó, rồi rơi xuống, hoàn tất một vòng đời vô danh. Nó chẳng để lại dấu vết gì. Giống như chúng tôi.

Những mảnh đời trong hẻm chợ, từ gia đình tôi đến chị bán chè, chú xích lô, tất cả đang diễn một vở tuồng câm đẫm mồ hôi trước mặt vị khán giả là thời gian vô tình. Chúng tôi cào cấu, giành giật, cười khóc, nảy mình lên từ bùn lầy, phản trắc và yêu thương trong những cái tổ tò vò chật hẹp này. Mọi nỗ lực vươn lên, mọi cái nghiến răng tứa máu đều vĩ đại và chân thật đến nao lòng ngay tại khoảnh khắc nó sinh ra.

Nhưng rồi, sự vô thường của ký ức sẽ xóa sạch tất cả.

Cái ngày đầu tiên đến Sài Gòn, má tôi khóc sưng mắt vì nhớ cái bếp lửa ở Đà Nẵng, ba tôi hậm hực đấm tay vào tường vì cảm thấy bất lực. Nhưng mười năm sau, khi tôi nhắc lại, má chỉ cười nhạt, ánh mắt đục ngầu nhìn mông lung vào chảo dầu đang sôi sùng sục. Nỗi đau đã bị thời gian gọt giũa, bào mòn, biến thành một cục sẹo lồi không còn cảm giác. Ngay cả cái khát vọng vươn lên cháy bỏng ngày nào, giờ cũng đã được thuần hóa thành một thói quen sinh tồn cơ học. Cảm xúc, dẫu mãnh liệt như một cơn bão nhiệt đới, rốt cuộc cũng chỉ là những đám mây lang thang lướt qua bầu trời tâm thức. Gió thổi. Mây tan. Không có gì trụ lại vĩnh hằng.

Tôi vuốt nhẹ lên cánh tay mình, cảm nhận lớp da dẻ hãy còn căng mọng của tuổi thanh xuân. Nhưng bên dưới màng sương mỏng của sự sống đang hừng hực ấy, tôi nghe thấy tiếng đồng hồ đếm ngược của tế bào. Sự hữu hạn của đời người không nằm ở chỗ một ngày nào đó ta sẽ tắt thở, mà nằm ở chỗ ta đang xói mòn đi từng giây, từng phút, ngay trong chính lúc ta đang quẫy đạp nỗ lực sống và vươn lên mãnh liệt nhất. Cái xác phàm này, những yêu ghét sân si này, những tấm mồ hôi mặn chát đánh đổi lấy manh áo mới kia, tất cả chỉ là một thứ hành trang mượn tạm để đi qua cõi nhân sinh buồn bã và tuyệt đẹp này.

Và có lẽ, điều quý giá nhất mà thân phận của một kẻ ngụ cư lang bạt mang lại cho tôi, không phải là sự chai lỳ cọc cằn trước gian khổ, mà chính là khả năng giữ cho trái tim mình đừng hóa thành sỏi đá.

Dù đã chứng kiến bao nhiêu cái giẫm đạp lên nhau để tồn tại, tôi vẫn còn biết đau khi thấy một nhánh lan rừng héo rũ, cố bám những cái rễ quắt queo, vứt vưởng trên hàng rào kẽm gai của nhà ai đó trong hẻm. Vẫn còn biết khóc một cách kiêu hãnh khi nghe một khúc dạ cổ hoài lang vẳng ra từ chiếc radio rè của ông hàng xóm giữa đêm khuya tịch mịch, tiếng hát vút lên mỏng manh mà sắc buốt cứa vào bóng tối. Vẫn còn biết xót xa cho chính sự cô độc rực rỡ của mình, khi ngồi chải tóc trước tấm gương vỡ tỳ vết, thấy bóng mình phân mảnh thành muôn vạn mảnh lấp lánh kiêu kỳ.

Người ta thường bảo hẻm sâu thì tăm tối, ngụ cư thì bần tiện. Nhưng không, trong đôi mắt của một kẻ đã trượt qua đủ mọi biến thiên của những góc khuất đô thị, hẻm là những huyết quản rần rật sức sống nhất. Nó không đẹp cái vẻ đẹp quy củ, sạch sẽ của những đại lộ thênh thang rợp bóng me bay. Nó đẹp cái vẻ đẹp phồn thực, nhơm nhớp, rệu rã nhưng đầy mị lực của những kẻ mượn đất mà sống, cắn rách bóng tối mà vươn mình.

Chúng tôi, những gia đình rời quê hương vào thành phố, không phải đang đi tìm một miền đất hứa bọc vàng. Chúng tôi chỉ là những phân tử đang chuyển động Brown trong một dung môi khổng lồ, va chạm vào sự khắc nghiệt, vỡ nát, rồi lại ngoan cường liên kết thành những dạng thức mới, cứng cáp hơn, rực rỡ hơn.

Hẻm dưới chân cầu Điện Biên Phủ đã bị đập bỏ một nửa để mở rộng đường. Tháp nước kiêu ngạo vẫn ở đó, nhưng ông già sửa xe đã mất. Xóm nhà sàn bờ kè nay đã biến thành một dải công viên uốn lượn, những gốc cừ tràm mục nát dưới lòng kinh chở theo bao nhiêu chõ xôi của mẹ tôi chắc đã bị lớp bùn mới phủ lấp hoàn toàn. Hẻm chợ Thị Nghè rồi một ngày nào đó cũng sẽ được tráng nhựa, những hàng quán lụp xụp của chị bán chè, gác trọ của chú xích lô sẽ nhường chỗ cho những khối bê tông vô hồn vuông vức.

Và gia đình tôi, cùng những mảnh đời xẹt ngang qua đời nhau ấy, sẽ lại cuốn gói, lại lăn đi. Lăn như những viên bi chai sạn tì vết, trầy xước nhưng rắn rỏi, trên mặt bàn nghiêng của số phận.

Nhưng ngay trong buổi chiều nay, khi tôi ngồi bó gối nơi bậu cửa, nhìn bóng tối bắt đầu thong thả liếm láp những mảng rêu phong trên bức tường đối diện. Bức tường nứt nẻ, hoen ố, giống như khuôn mặt của một bà lão từng trải qua trăm đận bể dâu đang nhai trầu móm mém, vẫn kiên gan đứng đỡ lấy mái nhà.

Trời chuyển mưa. Không gian đọng lại trong một thứ mùi hương kỳ lạ – mùi của hơi đất bốc lên ngai ngái sự chịu đựng, quyện với mùi dầu gió xanh từ một bà cụ vừa xoa vội lên thái dương, và cả mùi của những giấc mơ vươn lên chưa kịp ươm mầm đã úng nước.

Mưa Sài Gòn ập xuống, mãnh liệt và vô tình, ào ạt đổ xuống mặt hẻm những roi nước trắng xóa, đánh phủ đầu vào những gánh hàng rong đang tất tả chạy loạn. Sự khắc nghiệt của đất trời lại một lần nữa giáng xuống những thân phận nhỏ bé.

Tôi thấy chị bán chè vội vã căng tấm bạt ni-lông xé rách sờn, đôi tay phồng rộp níu chặt lấy bốn góc bạt mặc cho mưa quất ràn rạt vào mặt. Chị không chạy. Chị đứng lại, bảo vệ nồi chè xôi nước đang tỏa hơi ấm mỏng manh. Cái dáng đứng ấy lẻ loi, gồng mình lên giữa màn nước bạc trắng, đẹp một cách bi tráng và xót xa.

Tôi thò tay ra khỏi mái hiên, xòe lòng bàn tay ra.

Một giọt nước lạnh buốt rơi tõm vào giữa đường chỉ tay định mệnh đang rối rắm như tơ vò. Giọt nước vỡ tan, li ti, văng những bụi nước nhỏ xíu lên gò má tôi.

Tôi không rút tay vào, cứ để mặc cho lòng bàn tay lõm xuống, hứng lấy cái rỗng không ướt đẫm của trời đất. Tiếng mưa gõ nhịp trên những mái tôn muôn điệu, rì rào vỗ vào màng nhĩ, nghe như một khúc kinh cầu siêu lãng đãng cho những vệt rêu mượn đất, lại cũng vang vọng như tiếng trống thúc giục khẽ khàng của những mầm cây đang xé vỏ chui lên. Xa xa, trong con hẻm mù mịt nước, bóng một chiếc xe đẩy hàng xiêu vẹo rẽ vào khúc ngoặt, lặn chìm vào cái ranh giới nhập nhoạng của ánh đèn đường vừa vụt sáng…

Ngọc Tuyết (Tóc Nguyệt)