Hai anh em tôi ngồi trong quán nước bến xe Bà Hạt, lát sau
có một thanh niên khoảng gần 30 tuổi tiến đến, chúng tôi nhận ra anh Long vì tuần
trước, anh và chủ tàu vượt biên là anh Minh có đến nhà tôi để bàn bạc và thỏa
thuận giá cả chuyến đi.
Ba người bắt tay nhau, anh Long tiếp:
- Cô và anh ngồi đây, tôi còn đi đón thêm người.
Lát sau, anh dẫn đến một phụ nữ cùng cậu thiếu niên chừng 14
tuổi và bé trai cỡ 8 tuổi, anh giới thiệu:
- Đây là Loan, còn đây
là chị Cải và hai con trai của chị ấy: Sơn và Cu Tí. Tôi sẽ là người dẫn đường,
là trưởng nhóm, từ đây cho đến khi qua Cambodia, trước khi lên tàu ra khơi mọi
người phải đi theo tôi, nghe lời hướng dẫn của tôi!
Vừa lúc đến giờ lên xe đò, anh Long dặn:
- Chút nữa trên xe sẽ có
3 nhóm khác, tổng cộng là 4 nhóm, tính luôn các trưởng nhóm thì khoảng hơn 20
người, tất cả đều “quen”, nên cứ việc nói chuyện thoải mái, nhưng luôn nhớ nghe
lời trưởng nhóm khi có bất cứ việc gì cần thiết.
Tôi thắc mắc:
- Sao mình không đi
xuyên đêm luôn hả anh?- Giờ này trạm cửa khẩu
đóng cửa, ngày hôm sau họ mới làm việc lại.
Xe dừng lại, mọi người xuống xe, màn đêm tĩnh mịch, quán ăn
duy nhất giữa đồng có chút ánh đèn le lói, bên trong các bàn ghế xếp gọn gàng.
Một người ra lệnh:
- Ai theo nhóm nấy, lên
bàn ngủ, sẽ có mùng mền đem ra. Các nhóm trưởng nằm ngoài hiên hoặc trong xe.
Cô bạn trong ba cô bạn mới quen đề nghị:
- Nhóm tụi mình ngoài 3
đứa còn có một cặp vợ chồng, hay là tụi mình hỏi ban tổ chức đổi Loan qua bên
đây, cặp kia qua bên đó?
Cô bạn khác gạt ngay:
Hơn 6 giờ sáng đã nghe lục đục trong quán, tôi mở mắt, thấy
anh Long đang ngồi uống cafe ở chiếc bàn trong góc quán, một vài chiếc mùng cuối
cùng cũng đang dọn dẹp, trả lại không gian cũ cho quán. Anh Long nhắc tôi sau
khi đánh răng rửa mặt ra ăn sáng. Ai ăn xong sớm thì đi bộ ra ngoài quán, tha hồ
ngắm cảnh biên giới, vì đến giữa trưa xe mới chạy qua cửa khẩu, đó là giờ nhóm
lính canh gác chịu ăn hối lộ.
Tôi chống chế:
- Tại đường ruộng em đi
chưa quen.
- Cô mới vượt biên lần đầu
sao?
- Dạ không, nhưng lần
trước đi đường biển miền Tây, khi đang còn nằm tập kết chờ “taxi” đã bị giải
tán, có lội ruộng bao giờ đâu!
Xong vụ đổi tiền, cả đoàn kéo vào quán ăn cơm, chủ quán người
Việt, các món ăn rất ngon, vì Phnom Pênh nằm giữa dòng chảy sông Mekong và
Tonle Sap nên cá tôm tươi rói, ê hề . Mẹ con chị Cải gọi cá kho tộ, canh chua.
Bàn bên cạnh mấy cô bạn cũng gọi cùng món, tôi đang phân vân thì anh Long gợi
ý:
- Các con buôn đã thức dậy
từ sớm, và các nhóm của chúng ta cũng đã ra khỏi đây, tôi thấy cô và mẹ con chị
Cải ngủ ngon quá, không nỡ đánh thức.
- Mấy mẹ con tui đêm qua
ham vui, đến 2 giờ sáng mới chợp mắt, tui xin lỗi nếu làm ảnh hưởng đến đoàn.
- Cô Loan thích mua gì
không, tôi sẽ mua cho?
- Dạ thôi, em có mang
theo vài món đồ khô dùng trên tàu khi cần thiết.
- Ý tôi là hàng lưu niệm
kìa!
- Đi vượt biên chớ có phải
du lịch mà mua đồ lưu niệm?
- Thì mua để sau này cô
đi định cư mang theo, gọi là kỷ niệm xứ Cam.
- Em không muốn ăn cháo,
em chỉ thèm một tô hủ tíu mì.
- Giờ này lấy đâu ra hủ
tíu mì cho cô?
- Hồi trưa trên đường về
đây, em thấy quán mì ngay góc đường!
- Cô tinh mắt nhỉ, không
lo cảnh giác lính Cam mà chỉ thấy hàng hủ tíu mì. Nhưng nếu tôi dẫn cô ra đó, sắp
đến giờ giới nghiêm, loạng quạng gặp tên lính Cam hỏi giấy tờ, cô lại không biết
tiếng Cam, là nó mời về đồn ngay đấy.
- Anh Long ơi, nhìn anh
rảo bước vội vã trong trời mờ tối, áo bay phất phới, xách cái cà-mèn, chẳng
khác gì đang chăm vợ đẻ.
Anh tủm tỉm cười:
- Ối dào, chăm vợ đẻ
cũng chẳng vất vả bằng chăm tiểu thơ vượt biên, cho đúng phương châm “vui lòng
khách đến vừa lòng khách đi”.
- Tôi cũng suýt nữa làm
thầy giáo đấy.
- Thế à! anh dạy môn gì?
- Tôi đậu Cao Đẳng Sư Phạm
môn Toán, Lý, nhưng chiến tranh Tây Nam bùng nổ, tôi phải đi “nghĩa vụ quân sự”
qua Cambodia.
- Nhưng ba năm sau anh sẽ
được giải ngũ và về học lại chứ?
- Trên lý thuyết là như
thế, nhưng vào cuộc chiến rồi bị kẹt thêm mấy năm nữa, đến khi thế giới yêu cầu
Việt Nam rút quân ra khỏi Cam. Dầu sao, cũng có chút an ủi cho tôi, khi ở chiến
trường, nhiều lần tôi đã có dịp dạy Toán cho các đồng đội người Việt và người
Cam.
- Rồi sao anh không về
nhà?
- Anh Minh chủ tàu kêu
tôi ở lại giúp anh tổ chức đường dây vượt biên. Giai đoạn này Cam còn trong
giai đoạn “chuyển tiếp” nên tham nhũng hối lộ tràn lan, các chuyến đi thành
công dễ dàng. Có lúc tôi tính nghỉ nhưng thâm tình với anh Minh khiến tôi dùng
dằng mãi đến giờ. Tuy nhiên, công việc này kiếm khá nhiều tiền, tôi đã xây nhà
cho bố mẹ, cho tiền các em làm vốn đầy đủ, hơn hẳn làm thầy giáo nghèo, cô nhỉ?
- Vậy sao anh không đi
vượt biên ra nước ngoài, sau này bảo lãnh gia đình?
- Không! Tôi là Bắc Kỳ mới,
không phải Bắc Kỳ di cư như cô, lại là bộ đội, khi qua trại sẽ bị phân biệt,
khó được các phái đoàn chấp nhận . Đã có nhiều trường hợp đồng đội của tôi, vượt
thoát qua Thái, đa số vẫn ăn dầm nằm dề ở trại, có người nản chí quay trở về
Cam, có người cũng đã tự tử ngay ở trại, sau này cô qua trại sẽ thấy những gì
tôi nói là sự thật.
Tờ mờ sáng, chúng tôi ra bến xe, nơi đây các xe chở hàng chạy
bằng than cũ kỹ, sẽ dừng lại đón thêm khách. Mỗi khi có xe trờ tới, đám đông xô
lấn leo lên, cuối cùng anh Long cũng đưa tôi và mẹ con chị Cải vào một xe bé
xíu, bên trong chất đầy bao bố hàng hóa, anh dặn:
- Chút nữa khi vào cửa
ngõ thành phố Cảng, sẽ có một trạm kiểm soát, cô cứ bình tĩnh như những gì tôi
dặn tối qua.
Quả thật, xe chạy hơn một tiếng thì bị chặn lại, hai người
lính Cam cầm súng AK lục soát xe, chất vấn tài xế, rồi hỏi tôi mấy câu, đại
khái là đi đâu, đến đó làm gì, đến câu thứ ba tôi không biết trả lời, (vì học
được đúng 2 câu), anh lính chĩa súng vào tôi ra lệnh bằng tiếng Cam, ra hiệu xuống
xe. Chị Cải trả lời trơn tru nên được thoát, anh Long bước xuống theo tôi, nhìn
vào trạm gác ngay lề đường, thấy ba cô bạn, đôi vợ chồng và hai chú lớn tuổi
cũng đứng đó. Anh nói nhỏ bên tai tôi:
Chúng tôi, theo bản năng sinh tồn, chạy như bay vào vườn lau
sậy, chạy càng nhanh càng xa, bất chấp phía trước mịt mùng, tránh xa tiếng chó
sủa bắt đầu yếu dần rồi im hẳn phía sau. Mệt lả người, chúng tôi dừng lại, gọi
tên nhau khe khẽ, tìm được 5 người, là tôi và hai cô bạn với hai vợ chồng, còn
hai chú kia và một cô bạn chẳng thấy đâu. Anh thanh niên bảo, tạm thời là an
toàn, nhưng đêm tối thế này, chúng ta nên ngồi xuống, chờ trời sáng tính tiếp,
nếu buồn ngủ thì thay phiên nhau ngủ. Nhưng chẳng ai ngủ được, năm người ôm túi
hành lý, dựa vào nhau, mắt mở thao láo. Chừng nửa tiếng sau, có ánh đèn pin và
tiếng chân người lạo xạo, có hai người nói chuyện bằng tiếng Cam, rồi có tiếng
gọi:
- Xin mọi người vẫn ngồi
yên vị, những người Công Giáo sẽ cùng đọc kinh. Còn ai có đạo gì có thể cầu
nguyện riêng.
Rồi cô xướng kinh, anh Long ngồi kế bên tôi cũng đọc theo, từng
lời kinh rõ mồn một. Hết 50 kinh, tôi hỏi:
- Anh có đạo à?
- Ừ, tôi gốc Bùi Chu mà!
Sau 1975, gia đình tôi dọn vào khu Kinh 9, Cần Thơ ở đến nay.
Tôi chuyển đề tài, hồi hộp:
- Em lo quá anh Long ơi.
- Cô yên tâm, phần khó
khăn trong đất Cam đã xong, chút nữa lên tàu ra biển, nếu thời tiết thuận hòa,
nếu máy tàu êm xuôi, thì giờ này ngày mai cô đang ở bờ biển Thailand.
- Nghe mấy cái “nếu” của
anh cũng đủ làm em run rồi. Từ trước đến nay, có chuyến nào đi bị thất bại, tàu
chìm, hoặc gặp hải tặc không?
- Anh Long ơi, em muốn
nói lời cám ơn anh, suốt thời gian qua đã chăm lo cho mọi người thật nhiệt
tình, chu đáo, riêng em còn được anh “phục vụ” hủ tíu mì ...
Chưa nghe hết câu, anh buột miệng:
- Qua đếnThái, em ...à
không... cô viết thư cho tôi nhé?
Tôi hỏi lại:
- Anh muốn em viết thư?
Anh bối rối, xua tay:
- Nói thế thôi, vì lời
cám ơn của cô làm tôi nhớ những chuyến đưa người đi trước đây, có cô cũng xinh
xinh như cô, nói cám ơn, nói qua Thái sẽ viết thư cho tôi, nhưng rồi chẳng có
lá thư nào. Tôi bị mấy lần cho leo cây như thế, nên rất sợ mấy cô xinh xinh hứa
nhưng không làm.
- Anh nói em cũng ...
“xinh xinh” ư? Vậy thì anh nghe đây, lời hứa danh dự của em, là khi qua trại,
việc đầu tiên em sẽ viết thư cho gia đình và cho anh, để anh thấy không phải cô
“xinh xinh” nào cũng hứa lèo, nhưng em gửi thư về đâu ?
- Cô cứ gửi cho gia đình
cô chuyển giùm, vì tôi và anh Minh phải đến nhà cô thâu 3 cây vàng.
Tôi lấy chiếc khăn rằn trong giỏ hành lý:
- Em gửi lại anh chiếc
khăn, và một lần nữa, cám ơn anh thật nhiều, vì tất cả.
Anh cầm chiếc khăn, quàng lên vai tôi:
Đến trại tỵ nạn Panatnikhom, tôi viết ngay lá thư dài, kể
cho gia đình chi tiết chuyến đi, ở đoạn cuối tôi viết cho chị tôi: “Chị
Thanh, nhờ chị chuyển lá thư kèm theo cho anh Long khi họ quay lại lấy vàng,
nhé!”. Thư cho anh Long chỉ một mặt giấy, viết lại những lời cảm ơn
chân thành tôi đã nói với anh đêm cuối, vì mục đích chính chỉ là thực hiện một
lời hứa danh dự, để anh bớt thành kiến với mấy cô “xinh xinh” . Viết không đầy
một trang, dư chỗ tôi bèn viết thêm địa chỉ của tôi ở trại và nhắn: “Anh
Long, nếu có thời gian rảnh thì viết thư cho em, còn nếu bận thì không sao cả!
Chúc anh nhiều sức khỏe và may mắn trong cuộc sống”.
Rồi chị tôi thay mặt gia đình viết thư hồi âm, kể cho tôi
nghe chuyện gia đình, hàng xóm, và tái bút gọn gàng: “Đã chuyển thư cho
Long, em yên tâm”. Đọc thư xong, lòng tôi nhẹ nhàng phơi phới, đã trả
nợ xong lời hứa.
Cuộc sống ở trại có đủ buồn vui, qua vài lần chuyển trại,
tôi đánh mất chiếc khăn rằn, kỷ niệm của anh Long và xứ Cam. Đôi khi bốn đứa
con gái chúng tôi nhớ về chuyến đi, nhắc đến anh Long, tôi lại thầm nghĩ, chắc
anh bận rộn nên không viết thư cho tôi, mà suy cho cùng, có gì để mà viết,
nhưng ít ra anh cũng đã hiểu rằng không phải cô “xinh xinh” nào cũng thất hứa.
Sau bốn năm ở trại tỵ nạn, tôi đi định cư Canada. Rồi sau đó
hàng năm bay qua Mỹ thăm gia đình tôi cũng đã định cư ở Mỹ. Mới đây, khi nhắc về
chuyến vượt biên dừng chân ở Cambodia, tôi nói về anh Long, người dẫn đường dễ
thương tận tình, rồi nói với chị tôi:
- Trong lá thư đầu tiên
gửi về nhà, em có nhờ chị chuyển thư cho anh Long, rồi chẳng thấy anh ấy viết
cho em dù một lá thư.
Chị tôi... thú tội:
- Lá thư ấy đã không bao
giờ gửi.
Thì ra, chị đã đọc thư, tự kiểm duyệt và tự quyết định. Chị
lo xa, sợ tôi và anh Long có tình ý gì sẽ... khổ cả hai, còn nếu không (hoặc
chưa) có tình ý gì, thì cũng nên... phòng cháy hơn chữa cháy, xé bỏ lá thư là
thượng sách, “an toàn trên xa lộ”.
Tôi giải thích cặn kẽ cho chị nguyên do tôi viết lá thư đó,
chị đã hiểu ra, và thấy tiếc nuối ân hận vô cùng. Chị nhớ lúc Long và anh Minh
chủ tàu đến nhà tôi lấy vàng, Long có chần chừ hỏi thăm tôi vài câu, có lẽ có ý
mong chờ, nhưng chẳng có lá thư nào cho anh.
Anh Long ơi, nếu anh đọc được bài viết này, thì xin anh nhận
nơi đây lời xin lỗi của em, vì đã đánh mất chiếc khăn rằn của anh tặng, và xin
lỗi vì ngần ấy năm, em đã để anh thất vọng, tiếp nối vào danh sách các cô “xinh
xinh”... thất hứa!
Chị của em cũng gửi lời xin lỗi anh.
Và khi anh đọc đến dòng cuối này, anh hãy xem như đã nhận lá
thư năm ấy của em, được không?
