1
Nhân đứng trên ụ gác quan sát xã Đại Lộc ở trên một dải đất
pha cát. Hai bên trái, phải là hai dải làng chạy dài hút mắt. Phía sau là những
độn cát từng lớp chạy dài ra tới biển. Anh hỏi người lính gác:
– Quê cậu ở đâu?
– Dạ, em ở Hải Nhuận, Hương Điền. Từ khi vô lính tới chừ mới được về gần nhà.
Nhân hỏi: Hải Nhuận ở đâu?
Người lính chỉ ra biển:
– Cũng ở sát biển như xã Thế Mỹ, nhưng ở dưới tê, chỗ đường
từ chợ Hương Điền đi ra biển.
Nhân hỏi: Thời chưa đi lính cậu có thường lên Thế Mỹ không?
– Dạ, trước tết Mậu Thân, em thường lên, nhưng sau Mậu Thân
thì không lên nữa, vì mất an ninh.
Nhân hỏi: Vì sao mất an ninh?
Người lính đáp: Xã Thế Mỹ theo mặt trận giải phóng. Những
người trong Hội Đồng Xã của ta và những người không theo giải phóng đã phải chạy
vô mấy xã gần quận hay lên Huế, tùy theo có họ hàng ở mô.
Nhân buột miệng: Cả xã theo Cộng.
Người lính nói: Họ có thân nhân bên tê nên họ phải theo.
Nhân gật đầu, rồi xuống gọi người lính nấu ăn cho mình: Đới,
cậu đem theo khẩu Carbine M2. Mình đi xuống dưới làng coi cho biết.
Hai thầy trò vừa xuống khỏi căn cứ, vào một đường làng chừng
trăm thước, Nhân trông thấy một cô mặc áo nâu đang hái dưa leo dưới giàn dưa
trong vườn rau, bèn chỉ vào đó: Mình vào mua ít dưa leo để ăn với món tép rang.
Thấy hai người vào vườn, cô gái ngưng hái dưa, cúi đầu: Chào
thiếu úy, chào anh.
Nhân nói: Chào cô, tôi muốn mua một ít dưa leo – rồi quay
qua người lính: Cậu lấy chừng chục trái. Giàn dưa tốt quá, nhìn phát mê.
Trong khi Đới ra sau vườn chỗ có bụi chuối để lấy lá chuối
thì Nhân hỏi: Cô hái làm chi mà cả giỏ dưa leo vậy?
Cô gái thưa: Dạ, em đem xuống chợ Hương Điền bán.
Nhân hỏi: Cô chỉ bán một thứ dưa thôi ư?
Cô gái thưa: Dạ không, em phải bán thêm mấy thứ rau như diếp,
tần ô, cải cay mới đủ gánh.
Nhân ngạc nhiên: Cô gánh từ đây xuống chợ Hương Điền, 8, 9
cây số.
Cô gái thưa: Dạ, ở thôn quê thì phải rứa, thiếu úy.
Nhân hỏi: Vậy ngày nào cô cũng đi chợ?
Cô gái đáp: Dạ không, một tuần đi chừng 2 hay 3 lần. Khi mô
có đủ rau mới đi. Đôi khi phải mua rau ở những nhà vườn quanh đây cho đủ gánh.
Nhân hỏi: Nhà chỉ có một mình cô đi chợ?
Cô gái đáp: Dạ không, em có mạ. Hai mạ con thay nhau, người
đi chợ, người ở nhà lo vườn rau, làm đất, lên luống trồng rau con, nhổ cỏ, tưới.
Ngày mô cũng phải làm từ sáng đến chiều.
Đới tới giỏ dưa leo chọn 10 trái, để vào tàu lá chuối khô,
gói và buộc lại xách trên tay.
Nhân hỏi cô gái: Bao nhiêu cô?
Cô gái lắc đầu: Dạ, không. Em biếu thiếu úy. Không mấy khi
thiếu úy ghé vườn rau.
Nhân lắc đầu: Sao lại biếu? Cô cứ coi tôi như khách ở chợ. Nếu
cô không tính tiền thì tôi trả lại dưa.
Cô gái còn đang lúng túng thì Đới bảo: Thiếu úy trả o 5 đồng.
Thường mua dưa leo nên em biết giá. – Dưa lớn, bóng bẩy, lại mới hái ở vườn
– Nhân vừa nói vừa cầm tờ 10 đồng dúi vào tay cô gái – rồi đi ra. Đới xách gói
dưa theo sau.
Ra đến con đường lớn, dưới đường là ruộng chạy ra đến phá
Tam Giang. Hai người đi theo đường lớn được gần cây số, Nhân quay lại, vừa đi vừa
nói: nhà cửa, vườn tược thế này mà không thấy người.
Đới nói: Trước tết Mậu thân, từ Vĩnh Xương lên đến Thanh
Hương là thuộc khu giải phóng. Đại đội ở quận lên đến Vĩnh Xương là đánh nhau.
Ít khi lên đến đây, trừ khi hành quân lớn.
Nhân hỏi: Lúc đó chưa đi lính sao cậu biết?
Đới đáp: Dạ, dân ở mấy xã quanh quận ai cũng biết nơi mô thuộc
quốc gia, nơi mô thuộc bên tê. Sau Mậu Thân, có lẽ chúng chết nhiều, nên
quận mới kiểm soát được cả ba xã Vĩnh Xương, Đại Lộc và Thanh Hương. Thiếu úy
thấy ruộng với nhà ngói khắp nơi thì biết Đại Lộc là xã giàu có. Nhà mình mới
vô, chỉ có hai mạ con mà nhà gạch, sân gạch thì trước kia họ rất giàu. Thôn quê
mà có một o người đẹp không thua chi thành phố. Lâu lắm em mới thấy một o đẹp
như rứa.
Nhân im lặng nghe những lời khen và thầm nghĩ ở một miền hẻo
lánh như thế này mà có một thôn nữ mới nhìn đã động lòng. Cô ta sống bằng vườn
rau sau nhà, chân lấm tay bùn dưới nắng mưa mà vẫn có bàn tay thon, nước da trắng
mịn, thân thể đầy đặn, toát ra một sức sống mạnh mẽ. Đúng là cái đẹp của trời
cho. Anh cũng nghĩ như người lính, một người đẹp ít thấy, và thấy vui khi nghĩ
người đẹp ở ngay cạnh căn cứ. Anh muốn nhìn cô gái một lần nữa, nên đã đi chậm
khi đi qua nhà, nhưng chỉ thấy khu vườn xanh với giàn dưa leo đầy trái.
2
Nhân đưa cho người lính 100 đồng, bảo: Đám cưới mời Đại đội
trưởng, Đại đội phó, nhưng ông Ngọc đi phép. Cậu thay ông ấy đi với tôi.
Đới nói: Đám cưới miền quê, 5 chục thôi thiếu úy.
Nhân cười: Mừng đám cưới thì thành phố hay thôn quê cũng vậy
thôi. Lâu lâu mới có một lần, mừng 100 cho họ vui.
Hai thầy trò đến cổng, Nhân dừng lại đọc hàng chữ trên tấm
biển dựng bên cổng: Hai họ Lê Nguyễn kính chào quí khách. Vào đến sân, một
thanh niên mặc áo vest đến mời Nhân tới bàn của mấy bô lão và ông xã trưởng Đại
Lộc. Một cô mời Đới tới bàn mấy thanh niên.
Nhìn cái rạp ở ngoài sân, bên trên che bằng những chiếc dù lớn
của lính nhảy dù giúp cho những cái bàn đầy người thoáng mát, Nhân ngồi được chừng
10 phút thì hai họ, cô dâu chú rể ra đứng trên thềm nhà, cúi chào khách, rồi
ông bố chú rể, chắp tay vái, lên tiếng: Hai họ Lê Nguyễn chúng tôi xin cám ơn
quí vị đã chiếu cố ngày vui của con chúng tôi là Lê Bảo và Nguyễn Thúy Vy. Xin
quí vị lượng tình bỏ qua cho những sơ xuất của đám cưới nhà quê, và xin quý vị
cùng nâng chén mừng cho hai cháu. Một lần nữa, chúng tôi xin cảm tạ qúi vị.
Khách vỗ tay rào rào. Trên hiên, mười mấy người cúi đầu đi
vào nhà.
Bàn của Nhân gồm 3 bô lão, chưa ai cầm đũa thì ông xã trưởng
rót rượu ra chén, rồi lên tiếng: Xin mời ba ôn, mời thiếu úy.
Nhân cầm đũa, nói: Mời ba cụ và ông xã trưởng, rồi gắp một
miếng thịt gà luộc để vào bát.
Ăn được chừng 10 phút thì một cụ râu dài bạc trắng, nói: Đã
lâu lắm, hôm ni mới có một đám cưới như ri.
Nhân ngạc nhiên: Vậy lâu nay Đại Lộc không có đám cưới hay
sao, thưa cụ?
Ông cụ vừa nói nhìn Nhân: Có người mô mà đám cưới.
Ông xã trưởng giải thích: Trước tết Mậu Thân, dân mấy xã
trên ni phải chạy xuống phía dưới quận hay lên Huế. Chỉ có một số ít ở lại, nên
không có đám cưới mà có thì cũng chỉ tổ chức trong gia đình. Tới chừ, trên ni
yên, dân về nhiều, nên mới có đám cưới.
Nhân nói: Thưa các cụ, đại đội con mới tới căn cứ Đại Lộc được
mấy ngày nên chưa biết tình hình dân chúng ở trên này. Thế các cụ đều ở Đại Lộc
cả hay ở dưới quận lên.
Một cụ nói: Chúng tôi đều ở Đại Lộc.
Nhân hỏi: Thưa cụ, đến nay, dân mấy xã trên ni đã về hết
chưa?
Một cụ nói: Về cũng khá rồi, nhưng chưa hết. Chừ ngay mô
cũng có người về.
Nhân nói: Dân chạy như thế, con cái họ thất học hết.
Một cụ nói: Bây chừ về cũng mô có trường, có thầy mà học.
Nhân hỏi: Vậy trên đây không có trường?
Ông xã trưởng đáp: Đại Lộc có một trường cho cả Vĩnh Xương
và Thanh Hương. Nhưng chiến tranh đã tan nát hết. Trường không có mà trạm y tế
cũng không. Người mô bị bệnh nặng, gia đình phải khiêng xuống y tế quận.
Nhân nói: Bây giờ dân đã về nhiều, ông xã phải thúc giục quận
xây trạm y tế, trường học cho dân trên này. Rồi quay sang mấy bô lão: Để cho
đám trẻ có chỗ học, con có ý kiến là đại đội con sẽ tổ chức dạy từ lớp nhì trở
xuống. Con cần địa điểm và bàn ghế. Mình tổ chức trường học tại gia để thúc giục
quận phải xây trường học.
Một cụ nói: Thiếu úy làm được như rứa thì phúc cho đám trẻ
trên ni. Tôi xin đề nghị, có ôn Vĩnh đây là nhờ ôn cho mượn Từ Đường họ Lê, làm
hai lớp. Còn nhà tôi có hai gian nhà ngang, sẽ ngăn đôi làm hai lớp.
Ông xã trưởng nói: Vậy là có địa điểm. Còn bàn ghế, tôi sẽ
quyên góp mua gỗ. Ở đây có hai thợ mộc. Như rứa trong khoảng một tháng thì có
bàn ghế.
Nhân nói: Ông xã chỉ mua gỗ làm khung bàn, ghế, còn ván thì
tôi sẽ xuống quận lấy ván thùng đạn đại bác và cung cấp thêm một thợ mộc là
lính trong đại đội.
Một cụ nói: Không ngờ nhờ đám cưới ni mà Đại Lộc có trường
cho đám trẻ.
Một cụ khác nói: Cho cả Vĩnh Xương và Thanh Hương. Dân ở hai
nơi nớ nghe tin cũng mừng như chúng ta.
Nhân nói: Xin các cụ và ông xã ước lượng số học sinh các lớp
năm, tư, ba và nhì.
Mọi người im lặng, cuối cùng ông xã trưởng nói: Theo tôi ước
lượng thì lớp năm phải 4, 5 chục, lớp tư, ba cũng rứa. Lớp nhì ít hơn cũng phải
3 chục. Để tôi coi lại Từ Đường nhà ôn Vĩnh, nhà ôn Đại, rồi sẽ tính số bàn ghế.
Nhân nói: Ngày mai, tôi sẽ xuống quận thuê xe bò chở ván
thùng đạn về nhà cụ Vĩnh. Khi nào ông xã đóng bàn ghế cho tôi biết.
Có một binh sĩ vào nói nhỏ với Nhân: Ông quận cần nói chuyện
vói thiếu úy.
Nhân đứng dậy nói: Con có việc phải về sớm. Ông xã ở lại tiếp
các cụ.
Buổi tối hôm đó, khoảng 8 giờ, ông thượng sĩ thường vụ đại đội
vào hầm nói với Nhân: Thiếu úy, có chục người dân lên nói là người nhà họ bị thổ
tả, nhờ thiếu úy giúp chở người bệnh xuống y tế quận.
Nhân đứng dậy nói: Chắc là mấy người đi ăn cưới, quá nhiều
ruồi. Rồi đi với ông thường vụ ra cổng căn cứ.
Vừa thấy Nhân, cả chục người nói một lượt: Chào thiếu úy. Rồi
một ông nói: Có 5 bà bị thổ tả sau khi đi ăn cưới về. Nhờ thiếu úy thông báo để
chúng tôi chở người bệnh xuống y tế quận.
Các bác chờ tôi một lát – Nhân nói, rồi đi lên vào hầm truyền
tin. Chừng 15 phút sau, ra khỏi hầm truyền tin, Nhân đi nhanh xuống cổng
căn cứ. Trong ánh sáng của trăng mới lên, Nhân nói: Tin vui các bác. Tôi xin
thông báo là sẽ có trực thăng của Mỹ ở căn cứ Evans bên Phong Điền sang đây chở
bệnh nhân về bệnh viện của họ. Các bác về đưa người bệnh ra đường lớn, chỗ bãi
đất rộng.
Khi họ bước đi, có một cô đứng lại nói: Thưa thiếu úy, mạ em
cũng bị bệnh, nhưng em chỉ có một mình không thể đem mạ em ra chỗ đợi trực
thăng.
Người lính nấu ăn cho Nhân nói: O hái dưa leo, thiếu úy. Để
tôi giúp o.
Nhân nói: Có Đới giúp thì tốt rồi, tên cô là gì?
Cô gái đáp: Dạ, tên em là Mai.
Khi hai người bước đi, Nhân bảo thượng sĩ thường vụ: Lên gọi
trung sĩ Lũy cho tôi.
Chừng 10 phút sau, trung sĩ Lũy tới cổng: Thiếu úy gọi tôi.
Nhân nói: Anh đem trung đội lên phía trên căn cứ chừng 400
mét giữ an ninh cho trực thăng đáp ở cánh đồng trống, trước căn cứ.
– Dạ, trung sĩ Lũy đáp, rồi bước vội lên.
Nhân bảo ông thường vụ: Anh lên lấy một trái sáng, khi trực
thăng tới thì ném trái sáng xuống khu đất làm mốc cho trực thăng đáp, rồi Nhân
đi xuống ra chỗ bệnh nhân chờ trực thăng.
Chừng nửa giờ sau, trực thăng tới bay vòng quanh căn cứ rồi
đậu xuống khu đất, chỗ ông thường vụ ném trái sáng. Thân nhân bệnh nhân và binh
sĩ giúp đem người bệnh lên trực thăng, rồi trực thăng bay lên đi ra phá về hướng
tây.
Thân nhân những người bệnh đứng chung quanh Nhân cùng lên tiếng:
Cám ơn thiếu úy.
Nhân nói: Được tới bệnh viện Mỹ thì an tâm rồi. Các bác về
nghỉ.
Họ cùng lên tiếng: Chào thiếu úy, rồi bước đi.
Sau khi mười mấy người dân biến mất trên con đường mòn, Nhân
đi cùng với mấy người lính và cô Mai. Tới cổng nhà, Mai đứng lại nói: Chào thiếu
úy, chào các anh.
Nhân dừng lại trước cổng căn cứ, với tay cầm ống liên hợp
sau lưng người lính mang máy truyền tin: Một…Hàm Tử gọi… Xong việc rồi, anh cho
con cái zulu.
Dưới ánh trăng non mờ ảo, Nhân nhìn quanh căn cứ, rồi bước
lên ụ gác nhìn về phía nhà cô Mai. Một thôn nữ trồng rau và đi chợ bán rau mà
có khuôn mặt trái soan với đôi mắt đen cuốn hút và một thân thể nẩy nở đầy khêu
gợi. Từ ngày gặp cô hái dưa, bóng dáng cô hái dưa cứ quanh quẩn bên Nhân. Đã
nhiều lần anh định rủ Đới xuống nhà Mai, nhưng thấy không có lý do gì nên anh lại
thôi. Mỗi lần như thế, Nhân lại thầm nhủ vậy là mình đã mê cô thôn nữ Đại Lộc.
Năm ngày sau đêm trực thăng Mỹ tới chở mấy bệnh nhân, quận
báo là trực thăng sẽ chở mấy bệnh nhân về Đại Lộc. Nhân lại cho một trung đội
lên phía bắc giữ an ninh, bảo thượng sĩ thường vụ cho lính sẵn trái khói và cho
mấy binh sĩ đi thông báo cho những gia đình bệnh nhân. Còn nhà Mai thì Nhân và
Đới xuống thông báo cho Mai. Cũng may là hôm nay Mai không đi chợ và đang tưới
rau. Khi được báo tin cô mừng, vội vào nhà thay quần áo ướt.
Khi ba người ra đến đầu đường thì trên đường trước khu đất
trống đã đầy người, dân làng nghe tin trực thăng chở mấy người bệnh về nên tò
mò đi theo mấy gia đình bệnh nhân. Khoảng 20 phút sau, trực thăng bay từ phá,
vòng quanh căn cứ một vòng rồi đáp xuống khu đất có trái khói làm dấu địa điểm.
Mấy gia đình ào tới trực thăng đón thân nhân. Khi trực thăng bay lên, hướng ra
phá, năm bà mặc quần áo bệnh viện Mỹ và thân nhân tới đứng quanh Nhân, cùng lên
tiếng: Cám ơn thiếu úy.
Nhân nói: Mừng các chị đã hểt bệnh. Quý vị đưa mấy chị về
nhà nghỉ.
Thượng sĩ thường vụ lên tiếng: Chi khu có cố vấn Mỹ đỡ quá.
Đi hành quân đụng trận, họ gọi pháo nhanh cấp kỳ. Dân làng bị bệnh họ gọi trực
thăng đến chở về bệnh viện của họ.
Nhân nói: Họ là nhà giàu, phương tiện nhiều. Nhưng được cái
này thì mất cái kia. Mỹ đem quân qua đây giúp ta chống lại quân Cộng sản làm ta
mất chính nghĩa chống Cộng. Trước kia, đảng Cộng Sản tuyên truyền là chính quyền
Bảo Đại bán nước cho Pháp. Còn bây giờ thì họ tuyên truyền là ngụy quyền Thiệu
Kỳ bán nước cho Mỹ. Nga Tàu giúp họ chỉ hiện hình ở vũ khí. Còn ta thì người Mỹ
hiện hình trên khắp miền Nam. Từ đó ta rất khó cướp lại chính nghĩa dân tộc mà
đảng Cộng sản đã độc chiếm từ ngày cướp được chính quyền năm 1946. Tôi nói vậy,
anh có nhận ra vấn đề không?
Thượng sĩ thường vụ gật đầu: Dạ, tôi hiểu. Nhưng Mỹ không vô
giúp mình thì mình cũng khó chống lại quân Cộng sản.
Nhân nói: Mỹ giúp ta có thời hạn, còn Cộng sản được Nga Tàu
giúp lại nắm chính nghĩa dân tộc sẽ đi tới cùng. Trận chiến sẽ kéo dài, không
biết chúng ta có còn để nhìn thấy kết cục. Bỗng Nhân cười, vừa bước vừa nói: Tự
nhiên đi vào câu chuyện không đâu. Chúng ta không nhìn thấy tương lai của cuộc
chiến này.
Ngày hôm sau Nhân lên Tiểu Khu trên Huế họp. Khi về anh ra
chợ Đông Ba mua 5 kí cam.
Tàu về đến chợ Hương Điền đã gần tối. Không gặp người lính
nào, nên Nhân phải xách hai cái túi nặng. Bước vào hầm, Nhân để hai cái túi đồ
dùng và túi cam lên bàn. Thấy túi cam lớn, Đới hỏi: Thiếu úy mua nhiều cam làm
chi vậy?
Nhân cười: Có việc mới mua chớ, rồi cậu sẽ hiểu.
Sáng hôm sau, Nhân chỉ vào bịch cam bảo Đới: Đây là 5 kí
cam. Cậu để cam vào 5 túi ni lông, rồi tôi sẽ bảo làm tiếp.
Sau khi để cam vào 5 túi, Đới nói: Xong rồi, thiếu úy.
Nhân hỏi: Cậu biết nhà của mấy bà bị bệnh không?
Đới đáp: Không biết hết, nhưng sẽ hỏi, chắc họ ở gần nhau.
Nhân bảo: Cậu xách 5 túi cam này đi với tôi đến nhà mấy bà
đó.
Tới mỗi nhà, Nhân hỏi thăm sức khỏe bà bị bệnh, rồi cho họ một
kí cam. Nhân cảm thấy cái vui và sự ngạc nhiên của họ. Còn nhà cuối cùng,
khi thấy Nhân và Đới vào đến sân, Mai mừng rỡ: Chào thiếu úy, chào anh Đới. Mời
thiếu úy vô nhà.
Nhân đứng ở hiên hỏi Mai: Mạ cô khỏe hẳn chưa?
Mai đáp: Mạ em khỏe rồi – vừa nói, Mai vừa bước vô gian giữa
kéo hai cái ghế: Mời thiếu úy và anh Đới ngồi.
Nhân nói: Chúng tôi đến thăm mạ và biếu mạ kí cam.
Mai vô buồng: Mạ, mạ, có thiếu úy đến thăm.
Mạ Mai thay chiếc áo, rồi bước ra: Chào thiếu úy. Thật là
quý hóa.
Nhân đứng dậy nói: Chào bà, bà đã khỏe hẳn chưa?
Mạ Mai nói: Thiếu úy đừng kêu tôi là bà. Tên tôi là Quý, gọi
tôi là dì Quý. Cám ơn thiếu úy, tôi mạnh rồi – bà vừa nói vừa ngồi xuống ghế –
Hôm nớ nhờ thiếu úy, chớ không năm chị em chúng tôi chắc chết.
Nhân cười: Đau thì có thuốc, chết sao được. Nhờ quận có cố vấn
Mỹ, nên họ đã gọi trực thăng bên căn cứ Evans ở Phong Điền sang chở quí vị về bệnh
viện của họ.
Mạ Mai nói: Nhờ đau mới biết bệnh viện Mỹ. Họ săn sóc chúng
tôi thật chu đáo. Đã khỏe rồi mà còn để chúng tôi ở lại mấy ngày.
Nhân nói: Chúng tôi đến thăm dì Quý. Rất mừng là dì đã khỏe.
Bây giờ chúng tôi về.
Mai ở trong bếp chạy ra: Thiếu úy ngồi chơi đã. Em đang nấu
nước pha trà.
Nhân cười: Cám ơn cô Mai, để khi khác. Nhà sát căn cứ lại có
giàn dưa leo, chúng tôi sẽ tới luôn.
Hai mạ con Mai tiễn Nhân ra đến cổng và nhìn theo tới khi
hai người khuất sau bụi chuối ở cuối đường.
3
Sau buổi họp ở Chi Khu, Nhân đi với Đới ra chợ Hương Điền ăn
trưa. Hai người vào quán bún quen thuộc. Chủ quán là cô Hà, thấy Nhân vào, mừng
rỡ: Chào thiếu úy. Đã khá lâu không thấy thiếu úy xuống chợ.
Nhân nói: Chào cô Hà. Từ Đại Lộc xuống đây cũng khá
xa. Phải có việc mới xuống, chớ không đi chơi được, mà mỗi lần xuống chợ thì
nơi đầu tiên là quán cô Hà.
Cô quán cười vui: Cám ơn thiếu úy.
Đới nói với Nhân: Em ra chợ kiếm ít cá bống.
Nhân nói với chủ quán: Đợi chú Đới về, rồi hãy làm bún. Cô
cho tôi cà phê phin đen.
Chừng 20 phút sau, Đới vào quán nói với Nhân: O Mai về chợ.
Nhân nói: Ra gọi cô ấy, bảo tôi mời cô ăn bún.
Đới bước ra gọi với theo: O Mai, o Mai, rồi vừa vẫy tay vừa
bước tới chỗ Mai: Thiếu úy mời o vô ăn bún, rồi cùng về.
Mai cười tươi, gánh đôi quang gánh theo Đới tới quán bún. Bước
vô quán với đôi quang gánh cồng kềnh, Mai lúng túng không biết để chỗ mô.
Cô quán ngạc nhiên nhìn Nhân, rồi chỉ vô một góc, nói: Để vô
góc tê.
Mai xếp đôi thúng, quang gánh gọn ghẽ vô một góc, rồi bước tới
bàn Nhân, nói: Thiếu úy gọi em.
Nhân nói: Thấy cô về chợ, nên mời cô vào ăn bún, rồi cùng về.
Mai cười: Cám ơn thiếu úy, rồi ngồi xuống ghế đối diện với
Nhân.
Nhân nói với cô quán: Cô cho 3 tô và cho ly nước chanh, thêm
một ly cà phê đen nữa.
Trong khi ăn, thấy Mai có vẻ lúng túng trước miếng giò heo lớn,
Nhân lấy miếng giò heo để vào đĩa, rồi dùng nĩa tách thịt ra khỏi xương, rồi đẩy
cái đĩa tới trước Mai.
Sau bữa ăn khi Nhân tới quầy trả tiền thì Đới tới góc quán
đem quang gánh và hai cái thúng ra ngoài, rồi đặt đòn gánh vào vai. Mai giữ chiếc
quang lại, nói: Anh Đới để em gánh.
Đới nói: O để tôi gánh cho. Ngày trước chưa đi lính, tôi
gánh cá rất nặng chớ mô có nhẹ như đôi quang gánh ni.
Nhân ra thấy thế bảo: Cô Mai để Đới gánh cho một chuyến. Thử
đi tay không một lần về chợ xem sao.
Nghe thế Đới gánh đi trước, Mai theo sau. Khi đi qua Chi
Khu, người lính gác ngạc nhiên nhìn theo Đới, một người lính gánh đôi thúng
không, đi theo sau là cô gái với thiếu úy Đại đội trưởng, đại đội 237. Qua Chi
Khu, Nhân bước nhanh lên đi ngang hàng với Mai, hỏi: Mạ đã khỏe để trồng rau và
đi chợ chưa?
Mai đáp: Mẹ em khỏe rồi. Hôm ni bà trông nom vườn rau, ngày
mai đi chợ.
Nhân nói: Trồng rau đã cực, rồi gánh rau đi chợ, đường lại
quá xa. Đời sống như thế vất vả quá.
Mai nói: Ở làng quê biết làm chi thiếu úy. Làm ruộng còn cực
hơn. Nhà em có gần một mẫu ruộng, nhưng hai mạ con làm không nổi nên cho người
ta thuê. Thời nhỏ em muốn học lên cao để làm cô giáo, nhưng hai bên đánh nhau,
em phải thôi học từ lớp nhì. Trước tết Mậu Thân, từ Vĩnh Xương lên Thanh Hương
là vùng giải phóng. Các ông ấy ăn ở với dân, chẳng làm chi, chẳng đem lại lợi
ích gì, nhưng luôn miệng nói giải phóng.
Nhân hỏi: Lúc đó vùng giải phóng có cái chi?
Mai đáp: Có cái buồn. Dân chạy xuống dưới quận hay chạy lên
Huế, nên vùng giải phóng vắng người. Gia đình nào có người đi theo giải phóng mới
ở lại. Lính dưới quận lên đến Vĩnh Xương là đánh nhau. Em đi chợ thấy đời sống
dân chúng dưới quận vui, đẹp. Em muốn được sống như rứa, nhưng vùng giải phóng
không có cái chi gọi là vui là đẹp, nhưng gia đình em… nói đến đây Mai ngập ngừng.
Nhân vội nói: Mai nói thế tôi hiểu rồi, đừng nói nữa. Rồi hỏi:
Thế bây giờ đời sống ở trên này ra sao?
Mai đáp: Không còn mấy ông ấy, dân trở về nhiều, đời sống
đông vui trở lại. Ngày trước em làm răng quen được thiếu úy.
Nhân chợt xúc động nhìn Mai. Hai má hồng lên dưới chiếc nón
cũ, cái áo cánh nâu bạc màu thấm mồ hôi dính vào lưng, chiếc quần đen cũ, ống
quần ngắn hững hờ trên mắt cá chân với đôi dép nhựa. Trên thân thể Mai đúng là
quần một manh, áo một mảnh, nhưng cái nghèo lại làm bật lên vẻ đẹp trời cho với
tiếng nói ngọt ngào. Đôi mông nẩy nở trên hai chân dài, ngực căng lên dưới chiếc
áo nâu bạc màu. Thấp thoáng qua khoảng cách giữa mấy khuy áo, Nhân nhìn thấy
làn da trắng và thầm nghĩ làn vải nghèo đã làm nổi lên những đường cong khêu gợi.
Từ ngày gặp cô thôn nữ dưa leo, Nhân nghĩ mình đã có chỗ dừng, nhưng rồi thấy
mình lại đi vào bụi rậm. Không biết nói gì, Nhân hỏi: Bây giờ Mai ước điều chi?
Mai nhìn Nhân, nét buồn bã: Em mô dám ước điều chi. Được sống
như ri là tốt rồi.
Nhân thấy mình hỏi một câu thừa. Cô gái nghèo trồng rau để
sinh nhai thì ước cái gì. Nếu là con nhà bình thường thì Nhân có thể kéo cô ra
khỏi mấy luống rau, ra khỏi miền đất heo hút này, nhưng lại là con Việt cộng,
mà theo tình ý thì Mai không ưa mấy ông giải phóng, không ưa Việt cộng dù cha
cô là Việt cộng. Nhân nghĩ đến cách lui dần để hai người khỏi lậm vào nguồn
tình cảm bế tắc.
Đến đầu đường lên căn cứ, Đới dừng lại. Khi Nhân và Mai đi tới,
Đới nói: Thôi, trả lại quang gánh cho o, rồi ghé vai chuyển đòn gánh sang vai
Mai.
Nhân đi sau Mai, nhìn đôi chân dài bước nhanh, quang gánh
trên vai với bộ quần áo vải bạc màu và tự hỏi không biết đời sống quang gánh
trên vai sẽ đi với cô gái này tới bao giờ.
Tới cổng nhà, Mai đứng lại nói: Mời thiếu úy và anh Đới vô
nhà uống nước.
Nhân nói: Cám ơn cô Mai, để khi khác, về nghỉ đi.
Mai đứng ở cổng nhìn hai người đi theo con đường nhỏ cho tới
khi họ bị bụi chuối ở cuối đường che khuất, mới bước vô nhà.
4
Mai đang nhổ cỏ ở luống cải cay thì Nhân và Đới bước vào
sân. Cô vội buông gấu quần xuống, kéo xô nước ở giếng rửa tay, lau qua mặt, rồi
ra sân: Chào thiếu úy, chào anh Đới. Mời thiếu úy và anh Đới vô nhà.
Nhân ngồi xuống ghế, nói: Hôm nay tôi có khách, nên xuống hỏi
cô xem nhà có gà mái thì bán cho hai con. Tôi cũng cần chừng 10 trứng gà, rau
sà lách và rau thơm.
Mai vui vẻ đáp: May quá, hôm qua em mới nhốt mấy con. Tính
ngày mai đem đi chợ bán. Để em bắt cho thiếu úy hai con. Trứng thì anh Đới qua
nhà ông Bảo ở trước nhà em. Nhà nớ nuôi gà lấy trứng. Còn rau thì anh Đới ra vườn
xem cần bao nhiêu thì tự hái.
Trong khi Đới đi qua nhà ông Bảo mua trứng, Mai đem một ly
nước chè tươi đặt trước Nhân, nói: Mời thiếu úy uống nước. Chè tươi em mới nấu.
Nhân cảm thấy mùi thơm tỏa ra từ da thịt Mai, mùi thơm lạ
như mùi hoa cỏ. Chiếc áo nâu bạc màu căng ra ở ngực có một sức hút, anh vòng
tay qua lưng, gục mặt vào ngực Mai, rồi trườn lên cổ, lên mặt…Mai run lập cập
như muốn khuỵu xuống, phải lấy tay giữ cạnh bàn. Nhân buông Mai ra, cô đi vội
xuống bếp, được mấy phút thì Đới xách bịch trứng vào bếp. Hai người đi ra vườn
rau. Chừng 20 phút sau, Nhân nghe tiếng gà kêu. Rồi nghe Đới nói thiếu úy bảo o
phải lấy giá như bán ở chợ. O cầm thêm hai chục, tính cả rau.
**
Nhân đạp chiếc xe đạp mới từ bến đò, đi qua chợ Hương Điền,
qua đường chính, quẹo phải, rồi thẳng đường lên Đại Lộc. Quẹo vào sân nhà Mai,
anh xuống xe, dựng vào thềm, đúng lúc Mai lên nhà trên thấy Nhân, cô vội bước
ra hiên, nói như reo lên: Anh đã về.
Nhân đặt tay lên vai Mai, bảo: Em tháo cái bọc đem vào nhà.
Anh mua cái xe này cho Mai để chở rau đi chợ.
Mẹ Mai từ trong nhà bước ra: Trời đất, thiếu úy lại mua xe
cho em.
Nhân nói: Trồng rau đã cực, gánh rau xuống chợ còn cực hơn.
Có chiếc xe chở rau thì đỡ một phần.
Mai để cái bọc lên bàn, tháo dây lấy ra 2 hộp mứt, hai gói
ánh in, hai gói bánh đậu xanh và hai chai rượu mận và dâu.
Mẹ Mai nhìn lên bàn: Lại còn bánh, mứt, rượu, quá nhiều
như rứa.
Nhân nói: Tết con mua ít bánh mứt để dì thắp nhang.
Mai xuống bếp đem lên ly nước chè để trước Nhân: Anh uống nước.
Mẹ Mai nói: Muộn rồi thiếu úy ở đây ăn cơm – quay sang Mai.
Con đi nấu cơm, chiên trứng, nấu canh bầu. Lên lửa cả hai bếp cho nhanh.
Bà theo Mai xuống bếp dặn dò gì đó, rồi lên nói với Nhân:
Thiếu úy ở nhà. Chừ tôi phải sang nhà bà Mận gói bánh chưng, chắc đến khuya mới
xong.
Nhân nói: Dạ, dì đi.
Mẹ Mai đi được chừng 5 phút thì Nhân xuống bếp đặt hai tay
vào eo Mai kéo Mai đứng dậy, gục mặt vào ngực một lúc, rồi trườn lên cổ lên mặt…
Mai thở mạnh, ôm Nhân nói: Đi hai ngày mà như đi mấy tháng. Anh lên nhà để em
chiên trứng, nấu canh.
Nhân nói: Khỏi nấu canh. Chiên cho anh 3 cái trứng được rồi
– vừa nói vừa đặt tay vào ngực Mai đè nhẹ hai vú: Ngực em đẹp, căng mà gọn.
Sau bữa cơm, Mai đem cho Nhân ly nước chè, rồi đứng bên cạnh
bàn. Anh với tay để lên ngực Mai, đè mấy ngón tay lên hai vú. Như có một sức
hút, Nhân đứng dậy quàng tay qua lưng Mai, dụi mặt vào ngực… Mai cởi mấy khuy
áo, kéo áo ra ghì đầu Nhân vào hai vú. Hai môi Nhân đi tìm từng phân da thịt
trên đôi vú.. Mai thở mạnh, nói nhỏ: Anh đưa em đến giường.
Nhân không dám đưa Mai vào buồng, nên dìu Mai tới giường ở
gian bên trái. Đặt Mai xuống giường, rồi môi Nhân lại đi tìm hơi ấm với mùi
thơm trên đôi vú. Mai ghì đầu Nhân vào ngực, kêu lên mấy tiếng, dướn mông lên mấy
lần rồi lấy tay tụt quần xuống đùi. Với thế nằm nửa thân trên giường nửa thân
bên mép giường với hai chân gần chạm đất, thân thể Mai như mời gọi. Nhân rợn
người khi nhìn xuống bụng và hai đùi lớn trắng ngần, nhưng chợt nghĩ đến trách
nhiệm với hoàn cảnh của hai người, nên nói: Cám ơn em, chúng ta còn thời
gian chớ không phải lúc này, rồi kéo quần Mai lên.
Mai nói: Thời gian… chiến tranh ni, em đã chết hụt mấy lần…
Nhân đứng dậy, kéo Mai đứng lên dìu ra bàn. Bên ánh đèn dầu,
Nhân thấy hai má Mai đỏ lên với đôi mắt thất thần như vẫn còn trong cơn động dục.
Cảm thấy sợ, nên nói: Cám ơn em, chúng ta còn nhiều thời gian. Bây giờ anh phải
lên căn cứ, muộn rồi. Nhân hôn hai má hồng rồi bước ra, nhưng Mai choàng tay ôm
Nhân nói cho em tới giường. Nhân đứng yên, hai tay để lên vai Mai, người Mai
nóng lên và mùi thơm da thịt tỏa ra bao bọc quanh Nhân. Hai người đứng bất động
chừng 20 phút, Nhân mới có thể gỡ tay Mai để bước đi.
Sau tết, một buổi tối, hai mẹ con ngồi ở bàn, mỗi người một
ly rượu mận, mẹ Mai nói: Đêm mồng hai tết, ba mi về, nói với mạ là mi phải cắt
đứt với Nhân và không cho Nhân đến nhà nữa. Ba mi đe dọa là bảo mi coi gương
con Đào ở Vĩnh Xương. Mạ cũng khó nghĩ, nhưng phải nghe lời ổng thôi. Đời con
gái chẳng lấy người này thì lấy người khác. Mạ sẽ nói với Nhân và bảo Nhân xa
con để cho con sống.
Nghe mạ nói, Mai thấy sự vô lý của việc cấm cản ni. Các ông
giải phóng chống người ta, rồi bắt gia đình phải chống theo. Lần ni, Mai nhất
quyết không theo và nàng biết Nhân cũng không sợ họ. Bằng chứng là Nhân biết
gia đình Mai là Việt cộng, nhưng chàng không xa lánh mà lúc mô cũng coi Mai là
vợ. Mai không không nói gì với mẹ, biết bà sợ, nhưng Mai phải sống theo đời
mình, chết thì thôi. Đời nàng bây giờ chỉ còn Nhân.
Chừng hơn một tuần sau khi mẹ bảo phải cắt đứt với Nhân,
Nhân ra chợ, bảo Mai vào tiệm bún ăn trưa, rồi nói với nàng về việc gia đình
Mai bắt hai người phải cắt đứt. Nghe xong Mai bảo là đã là vợ Nhân thì không ai
có thể bắt Mai xa Nhân. Ở đây gia đình cấm thì mỗi tuần Nhân xuống chợ để Mai gặp
một, hai lần, rồi khi Nhân phải đổi sang quận khác thì Mai sẽ tìm cách tới đó để
gặp Nhân.
Sau việc này mấy tháng, một lần Nhân xuống Chi Khu họp. Sau
cuộc họp, ông thiếu tá Chi Khu Trưởng bảo Nhân ở lại. Ông nói với Nhân cô Nguyễn
Thị Mai là con tên Nguyễn Thế Tài, đội trưởng du kích của mấy xã Đại Lộc, Thanh
Hương và Thế Mỹ. Vì thế Nhân phải chấm dứt chuyện tình giữa hai người. Vì luật
không cho sĩ quan Cộng Hòa lấy con Việt cộng, mà nếu không lấy nhau thì việc
giao du giữa hai người sẽ có hại cho Nhân. An ninh quân đội sẽ theo dõi, Nhân sẽ
không được giữ những chức vụ trưởng và sẽ không được thăng cấp. Ông khuyên Nhân
là không nên đâm đầu vô bụi rậm, đã biết thì phải tránh, xã hội không thiếu con
gái. Sau đó, ông cho biết là dân mấy xã trên khen Nhân về việc giúp dân bị bệnh,
và ca ngợi việc đại đội 237 đã tổ chức những lớp học cho con em mấy xã không có
trường. Ông hứa là sang năm Đại Lộc, Thanh Hương sẽ có trường và có trạm Y tế.
Mấy tháng sau, đại đội của Nhân được lệnh thuyên chuyển về
Tiểu Khu và đại đội 274 tới căn cứ Đại Lộc thay đại đội 237. Trong khi lính của
237 đi xuống, lính của 274 đi lên, Nhân gặp thiếu úy Đông, đại đội trưởng 274 để
bàn giao một số giấy tờ. Ông Đông hỏi Nhân về tình hình trong vùng trách nhiệm.
Nhân nói là Ban Hai Chi Khu sẽ cho Đông biết tình hình chi tiết, nhưng đại lược
có thể thấy là sau Mậu Thân, chúng không còn chủ lực địa phương. Du kích còn chừng
trung đội ở mấy xã Đại Lộc, Thanh Hương và Thế Mỹ. Chúng trốn tránh không dám lộ
diện. Vì thế mình nhàn nhã, thỉnh thoảng thực hiện những cuộc đột kích và phục
kích để lính có việc làm và cũng để cho chúng biết sự hiện diện của mình. Nhưng
có một việc tôi mong anh tiếp nối là đại đội có tổ chức mấy lớp học năm, tư, ba
và nhì cho đám trẻ ở mấy xã Vĩnh Xương, Đại Lộc, Thanh Hương. Sử dụng Từ Đường
họ Lê và nhà cụ Đại làm lớp học, ở ngay dưới căn cứ. Mình dùng mấy ông trung sĩ
trượt trung học làm giáo viên. Anh đến cụ Vĩnh, cụ sẽ cho biết các lớp. Sách
giáo khoa của các lớp tôi để cả trong hầm đại đội trưởng.
Thiếu úy Đông cười: Mình là lính thời chiến mà anh lại làm
giáo dục, văn hóa. Nhưng anh yên chí, việc hay, tôi sẽ tiếp tục việc của anh.
Nhân vỗ vai Đông: Thời chiến, nhưng ở đây nhàn quá, nên bày
việc cho đại đội để giúp con em mấy xã không có trường.
5
Từ ngày đại đội của Nhân đổi sang quận khác, Mai nghĩ phải
bán tạp hóa ở chợ mới có cớ lên Huế mua hàng để gặp Nhân. Vì thế sau khi bán hết
rau, Mai đã vô tiệm tạp hóa của Hương, một bạn thân, hỏi về việc mua bán tạp
hóa và ghi chép những thứ hàng. Nàng định thuê một gian nhà đang làm tóc
sắp nghỉ để mở tiệm tạp hóa. Nhưng có một hôm trên đường về, đi sau mấy bà ở
Thanh Hương, nghe mấy bà than là chỉ mua kí cá khô, xị dầu ăn, chai dầu hôi mà
phải đi 8, 9 cây số xuống chợ Hương Điền, nên Mai chợt nghĩ là nhà có thể mở tiệm
tạp hóa. Vì Đại Lộc ở giữa Vĩnh Xương và Thanh Hương, đường vô nhà từ lộ chính
chỉ hơn 100 mét, đường đất pha cát, mưa đi lại dễ dàng.
Nhà có sân rộng, nàng sẽ lấy nhà ngang làm tiệm. Vì thế, một
buổi tối, sau khi cơm nước xong, Mai nói: Trồng rau, bán rau cực quá. Ít năm nữa
mạ già yếu không làm nổi nữa, một mình con răng làm xuể hết việc.
Bà Quý hỏi: Rứa mi tính thay nghề chi?
Mai đáp: Trên đường về, đi sau mấy bà ở Thanh Hương, nghe họ
than là chỉ mua kí cá khô, xị dầu ăn mà phải đi bộ 8, 9 cây số xuống chợ Hương
Điền, nên con nghĩ là mình thay nghề trồng rau bằng mở cửa hàng tạp hóa. Nhà
mình gần lộ chính, đường vô dễ đi, mưa không lầy lội. Chỉ cần thuê ôn Đại đóng
kệ để hàng, rồi con lên Huế mua hàng thì sau một tháng mình có thể khai trương
cửa hàng. Dân ở Vĩnh Xương, Đại Lộc và Thanh Hương đã về nhiều. Cửa hàng của
mình sẽ đông khách. Mạ con ngồi trong nhà bán hàng, hết nắng mưa, hết chân lấm
tay bùn. Con chắc cửa hàng tạp hóa kiếm lời nhiều hơn việc trồng rau.
Bà Quý gật đầu: Mi tính như rứa đúng đấy. Làm đi. Ngày mai
tao đến nhà ông Đại nói chuyện đóng kệ.
Mai nói: Cả tháng qua con đã vô mấy hàng tạp hóa ở chợ Hương
Điền hỏi chuyện mua hàng ở chợ Đông Ba và ghi chép những thứ hàng họ bán. Cửa
hàng tạp hóa của 3 xã thì phải có đầy đủ các thứ hàng. Khách cần thứ chi ta
cũng có. Trong khi ôn Đại đóng kệ và tủ đựng hàng thì con lên Huế mua hàng.
Việc đóng kệ và tủ phức tạp, vì ông Đại phải lên Huế mua gỗ
và ván, rồi thuê xe bò chở gỗ từ bến đò lên nhà bà Quý. Ông Đại phải đi mua gỗ
3 chuyến mới bắt đầu đóng. Trong việc này, hai mẹ con phân nhiệm, bà Quý chịu
phí tổn mua gỗ, ván và tiền công cho ông Đại. Còn Mai chịu trách nhiệm đi mua
hàng. Sau một tháng số hàng Mai mua về chất đầy một gian nhà và ông Đại đã đóng
được 2/3 số kệ và tủ đựng hàng. Sau hai tháng mọi việc hoàn tất, và cửa hàng tạp
hóa cũng đã được quận cấp giấy phép.
Trong buổi khai trương, con đường vào nhà Mai tấp nập. Người
vô mua hàng, người vô coi cửa hàng vì tò mò. Cửa hàng rộn lên với những tiếng
nói: Cho tôi 2 lạng tôm khô, cho tôi kí cá nục khô, cho tôi xị nước mắm, cho
tôi lạng bột ngọt… Mai luôn tay lấy hàng, trao hàng. Bà Quý ngồi ở quầy thu tiền.
Khách hàng nói ở sân: Tiệm ni là cái chợ của Đại Lộc, Thanh
Hương. Chỉ thiếu cá tươi, tôm tươi. . Người khác nói: Khó chi mô, thêm mấy cây
nước đá thì sẽ có cá tươi, tôm tươi. Mấy ông đi câu ở Đại Lộc sẽ có nơi tiêu thụ
cá mấy ông câu. O Mai làm cái tiệm tạp hóa thật đúng, giúp dân trên ni khỏi phải
đi bộ 7, 8 cây số xuống chợ Hương Điền.
Mỗi người nói một câu, biến cái sân thành chợ. Họ thi nhau
nói mà lời nào cũng tỏ ý vui mừng là có cái tiệm thuận lợi. Mai lấy hàng trao
cho khách, nhưng vẫn lắng nghe những lời ngoài sân và cô luôn cười vui vì những
lời khen vang lên ngoài sân.
Chỉ một tuần sau ngày khai trương, Mai phải lên Huế mua thêm
hàng. Hai mẹ con đều có nét thay đổi. Bà Quý như trẻ lại, còn Mai tươi vui với
quần áo tươm tất hơn. Mấy ông lính trên căn cứ xuống mua hàng đều bảo Mai mở
thêm cà phê. Mai bàn với mẹ, rồi thuê ông Đại đóng 5 cái bàn vuông thấp và chục
cái ghế. Mai mở rộng hiên, để mấy cái bàn vuông. Thế là Đại Lộc có quán cà phê
và sáng nào cũng đầy khách, nửa lính, nửa dân. Có một ông chuẩn úy mới về đại đội
237, trạc tuổi Nhân, ngày nào không phải đưa lính đi công tác thì ông ngồi quán
cà phê suốt buổi sáng. Ông thường nhìn Mai với hai con mắt như nói thay lời.
Mai cảm được cái nhìn của ông và cảm thấy sợ. Ông ta không nói nên Mai cũng
không thể nói điều cần nói với ông.
6
Đại đội 237 về Tiểu Khu một thời gian, rồi được chuyển tới
Chi Khu Hương Thủy. Về đây đại đội phải hoạt động lưu động trong lãnh thổ của
Chi Khu. Đại đội 237 đã hoạt động lưu động ở các quận Phú Thứ, Quảng Điền và
Phong Điền là những quận có nhiều du kích và lực lượng địa phương của địch, nên
ngày đêm hoạt động phải rất cẩn mật, nếu không đơn vị sẽ lãnh B40 ngay. Vì thế
về Hương Thủy, một quận sát quốc lộ, lại gần Huế, có nhiều an ninh, Nhân nghĩ
là đại đội được một thời gian nghỉ ngơi. Các đêm trong tuần, Nhân thường
dành một đêm tới ngủ ở cầu ngói Thanh Toàn. Anh thích tới đây, vì hai lẽ, thứ
nhất là địa thế nằm giữa cánh đồng, dễ bố trí với nhiều an toàn, thứ nhì là cầu
như cái nhà. Trên là mái nhà lợp ngói âm dương, dưới là cầu. Đêm nằm trong cầu
như trong nhà, những đêm có trăng thì tuyệt với ánh trăng mờ ảo giữa cánh đồng.
Chỉ tiếc là do chiến tranh, cầu không được tu bổ nên cũ kỹ gần như hoang phế. Gỗ
làm cầu là gỗ lim, chớ gỗ thường thì đã tan hoang theo nắng mưa với thời gian.
Vì dân ít đi lại nên mấy con đường dẫn đến cầu đầy cỏ, có chỗ cỏ mọc lan che cả
phần đường. Nhân biết cầu này có câu hò:
Nhưng đến đây cả tháng, anh chưa được nghe cô nào hò, dù ban
ngày có nhiều cô đi làm qua cầu.
Hỏi lính, lính trả lời nớ là thời trước, chừ không còn mô.
Ban ngày tới đây, nhìn cây cầu có mái ngói như cái nhà bắc
qua một con lạch, một hình ảnh đẹp và lạ. Nhân mê cầu Thanh Toàn, nên hôm nào đại
đội hoạt động ở mấy thôn xã gần cầu, anh cũng đem một tiểu đội ra cầu. Nhân ước
lượng cầu dài chừng 17, 18 mét, rộng khoảng hơn 4 mét. Hai bên cầu có hai dãy bục
gỗ va lan can để ngồi dựa lưng. Theo một vị bô lão làng Thanh Thủy thì cầu đã
được xây dựng dưới thời Lê, tới nay đã được trên 200 năm. Ông cụ cho biết là cầu
do bà Trần Thị Đạo, vợ của ông quan dưới triều nhà Lê bỏ tiền ra làm cầu để người
dân đi lại làm ruộng được dễ dàng, khỏi phải đi đò qua cái lạch giữa cánh đồng.
Cầu cũng là nơi cho dân đi làm nghỉ chân. Vì thế trong cầu có bàn thờ bà Trần
Thị Đạo.
Sau ít tháng ở Hương Thủy, đại đội được chuyển sang vùng
Dương Xuân, nơi có Đàn Nam Giao. Khu này rộng rãi với bãi cỏ, ở giữa là cái đàn
tròn xây cao, có nhiều bậc gạch để đi lên. Ban đêm Nhân thường bố trí đại đội
quanh khu này. Bộ chỉ huy đại đội nằm trên cái đàn tròn và khi nằm trên nền gạch,
Nhân thường nghĩ là nơi này ngày xưa đã có dấu chân của mấy
ông vua triều Nguyễn tới đây tế trời đất. Đàn Nam Giao có hai con đường, phía
bên trái là con đường đi vào làng. Con đường có nhiều chùa và cuối đường là
chùa Thiền Tôn. Phía bên phải là con đường đi tới các lăng tẩm của các ông vua
triều Nguyễn. Nhân chắc chỉ trong một thời gian nữa là đại đội sẽ chuyển tới
Chi Khu Nam Hòa và anh lại có dịp ăn ngủ ở mấy cái lăng.
**
Sau khi tắm, Mai ra ngồi xuống ghế đối diện với Nhân, hỏi:
Răng anh thuê được căn nhà giữa vườn cây đẹp như ri?
Nhân đáp: Từ lâu anh ao ước được ở giữa thôn Vĩ Dạ. Vì thế
khi về Hương Trà, anh nhờ người bạn cùng khóa sỹ quan Thủ Đức đang làm việc ở
Tiểu Khu tìm thuê cho một căn. Rất khó, vì Vĩ Dạ không có ai cho thuê nhà.
Nhưng may là người bạn có họ hàng với một gia đình ở Vĩ Dạ có nhà ngang bỏ trống,
nên ông đã nói giúp và được bà chủ cho thuê căn nhà này.
Mai nói: Em nghe mấy ôn nói, ngày xưa Vĩ Dạ là thôn của
các quan. Chừ không biết răng.
Nhân cười: Bây giờ có anh, nhưng chỉ khác ngày xưa là phải
đi thuê.
Mai cười rồi nói: Anh có ở Huế mô mà thuê chi cho tốn tiền.
Thuê nhà rồi khóa để đó. Cả mấy tháng mới về Huế một lần.
Nhân nói: Anh có ý thuê ở đây để mỗi khi về Huế có chỗ nghỉ
ngơi và xa hơn là có chỗ cho em ở mỗi khi lên Huế mua hàng.
Mai hỏi: Răng anh biết em lên Huế mua hàng?
Nhân nhìn Mai một lúc, rồi nói: Đới đi phép về nói em đã biến
nhà thành cửa hàng tạp hóa và quán cà phê. Anh rất mừng. Anh ở Đại Lộc cả năm
mà tối tăm không nhận ra cơ hội làm ăn cho em. Em tự nghĩ ra hay có ai chỉ dẫn?
Mai cười vui, nói: Không có ai chỉ dẫn. Trên đường về chợ,
đi sau mấy bà ở Thanh Hương, nghe họ than là chỉ mua kí cá khô, xị dầu ăn mà phải
đi 8, 9 cây số xuống chợ Hương Điền, nên em chợt nghĩ là răng không mở một cửa
hàng tạp hóa tại nhà cho 3 xã Vĩnh Xương, Đại Lộc và Thanh Hương. Em nói với mạ,
được mạ đồng ý, nên hai mạ con chung vốn làm liền và kết quả tốt đẹp cũng tới
liền.
Nhân hỏi: Bao lâu mới bán cà phê?
Mai đáp: Dạ, bán tạp hóa được chừng hơn tháng, mấy ông lính
trên căn cứ xuống mua hàng, thúc giục em bán cà phê. Em nghe theo mà kết quả
cũng thấy liền. Phải bảo ông Đại, thợ mộc, đóng thêm bàn ghế và em phải thuê
hai đứa con của ông bà Đại phụ bưng cà phê, dọn bàn. Buổi sáng khách cà phê ngồi
đầy sân.
Nhân cười nói: Em là hoa khôi của 3 xã Vĩnh Xương, Đại Lộc
và Thanh Hương nên nhiều khách đến quán cà phê là tự nhiên.
Mai nhìn Nhân: Anh nói cái chi hoa khôi. Em trồng rau, chân
lấm tay bùn, hoa khôi cái chi.
Nhân nói: Chân lấm tay bùn mà là hoa khôi mới lạ. Thời gian ở
Đại Lộc có hai ông chuẩn úy người Huế, thường nói về những hoa khôi của Huế,
nghe hoài mấy cái tên Nga Mi, Diệm Mi, Phố Châu, Minh Nguyệt đến nằm lòng. Lên
đây anh chưa thấy cô nào, nhưng may mắn gặp được một hoa khôi của Vĩ Dạ, có khi
cô này còn hơn mấy cái tên kia.
Mai cười nói: Ở Đại Lộc, em chưa từng nghe anh khen em một
câu, sao bây chừ lại so sánh em với mấy cô hoa khôi của Huế?
Nhân nói: Ở Đại Lộc ngày nào cũng gặp, mê mẩn không nhớ việc
khen, chỉ biết chiêm ngưỡng chiếc áo nâu và cái quần chật bó cái thân thuôn nở
khêu gợi của một thôn nữ.
Mai nhìn Nhân với ánh mắt buồn: Ở Đại Lộc chỉ mấy ngày tết mới
mặc bộ quần áo bằng vải anh cho, còn ngày thường phải mặc quần áo cũ để trồng
rau, gánh rau xuống chợ. Khi bán hàng tạp hóa mới bỏ quần áo cũ. Mai đứng dậy,
đến bên Nhân, chỉ vô áo – Bộ quần áo ni là vải của anh.
Nhân quàng tay qua lưng Mai, dụi mặt vào bụng, nhắm mắt hồi
tưởng thân thể Mai trong chiếc áo nâu bạc màu, cái quần chật, ống quần ngắn
trên mắt cá chân, ngày đi cùng Mai từ chợ Hương Điền về Đại Lộc. Thân thể ấy
đang truyền hơi ấm với mùi da thịt trên mặt Nhân. Anh đứng dậy, trườn mặt từ bụng
lên ngực, dừng ở hai vú một lúc, rồi lên mặt. Thân thể Mai khuỵu xuống và anh đỡ
Mai ngồi xuống ghế. Nhân tới cuối phòng mở cửa sổ nhìn trăng một lúc, tới dìu
Mai đến cửa sổ, rồi nói: Cả năm nay anh nhìn thân thể em dưới làn vải bạc màu.
Hôm nay thì không còn vải đó nữa. Gặp nhau ngày trăng tròn, anh muốn được chiêm
ngưỡng thân thể em dưới ánh trăng thôn Vĩ Dạ.
Nhân đi tắt điện, rồi trở lại mở khuy áo Mai, lấy áo ra khỏi
hai tay, đặt môi vào hai vú trắng mịn nhô cao. Anh nhắm mắt, dùng hai tay kéo
quần Mai xuống từng đoạn, rồi lấy quần ra khỏi đôi chân dài. Nhân về ghế ngồi.
Dưới ánh trăng bên cửa sổ, thân thể Mai nổi lên như một bức tượng.
Nhân nói: Em quay nghiêng xõa tóc xuống.
Bức tượng lay động với mái tóc bung ra che hết hai vai và
lưng. Hai vú của bức tượng nổi lên dưới ánh trăng nghiêng… Nhân ngồi nhìn ra cửa
sổ… Niềm ao ước bao lâu đã hiện ra phủ kín đôi mắt. Anh nhắm mắt lại một lúc rồi
mở ra, đúng lúc hai tay bức tượng đang giơ cao buộc lại tóc. Nhân đi lại cửa sổ,
bồng bức tượng đặt lên giường.
(còn tiếp 1 kỳ)
