Mưa Huế có cái kiểu lạ đời lắm. Nó không dữ dằn như mưa núi. Nó cứ lất phất, dai dẳng, như có ai ngồi trên trời rỉ rả nhớ chuyện cũ hoài không chịu dứt. Những ngày cuối năm, đồi Thiên An chìm trong thứ sương mù trắng đục. Nhìn xa cứ tưởng cả khu rừng thông đang bị một bàn tay âm phủ vuốt ve chầm chậm.
Chiều đó, ông Phan Hữu Trí chạy chiếc Dream cũ lên hồ Thủy
Tiên. Ông sáu mươi tám tuổi, người cao gầy, mắt sâu, tóc bạc như muối rang. Dân
Huế cũ nhiều người còn nhớ ông hồi trẻ nổi tiếng lanh lợi, nói chuyện có duyên,
viết báo sắc như dao cạo. Hồi sinh viên Văn khoa Sài Gòn trước bảy lăm, ông từng
xuống đường, hô khẩu hiệu, tưởng rằng mình đang cứu một đất nước. Rồi ông có vô
bưng học chính trị mấy tháng, viết báo tuyên truyền. Sau năm 1975, ông về Huế
làm bên văn hóa.
Người ta từng nghĩ ông sẽ lên nữa. Ông cũng từng nghĩ vậy.
Lúc trẻ, ai không từng nghĩ mình đúng. Cái nguy hiểm của tuổi trẻ là tin mình
đúng tới mức không còn biết sợ.
Con đường lên đồi Thiên An bữa đó ướt nhẹp. Hai bên thông đứng
đen sì. Gió lùa qua rừng nghe như tiếng ai thở dài. Ông Trí dừng xe kế bên cái
cổng công viên cũ, chỗ lối nhỏ đi vào, có dựng cái bảng: “Công trình Cải tạo
Công viên nước Hồ Thủy Tiên”. Bảng mới tinh. Nhưng bên trong thì vẫn còn đầy
mùi mục, xi măng ẩm, rong rêu và thời gian chết.
Ông Trí nhớ hồi sáng có đọc trên mạng, mấy tờ báo địa phương
đăng tin công trình hồ Thủy Tiên bắt đầu đào móng giai đoạn hai từ hôm nay. Bên
dưới bài báo, ai đó để lại bình luận: “Đêm nay họp hiện trường lúc mười một giờ,
mấy ông lớn vô xem tiến độ.” Người ta hay làm vậy, họp đêm để tránh báo chí,
tránh dân tụ tập.
Ông đứng nhìn tượng rồng giữa hồ. Nó vẫn còn đó. Đầu ngẩng
cao, mắt trợn ngược. Hai cái nanh cong trắng hếu chĩa ra khỏi mép như muốn cắn
ai. Người ta mới trám lại mấy vết nứt bằng xi măng. Nhìn giống cái xác chết được
vá mặt.
Ông Trí cười nhạt.
— Rứa là tụi bây cũng bị trùng tu như cán bộ hưu trí tụi tao
hè…
Gió thổi mạnh hơn. Từ trong miệng rồng tối om, có tiếng nước
nhỏ tong tong.
Ông bước vô. Cầu thang xoắn ốc bên trong thân rồng vẫn còn.
Rong phủ xanh lét. Những bể cá bỏ hoang đầy chai bia, đầu lọc thuốc lá, mấy
hình graffiti tục tĩu của đám trẻ.
Mùi bên trong thân rồng ngai ngái như bùn sông để lâu ngày
trong hũ kín, lạnh tanh pha mùi sắt gỉ. Trên vách xi măng, những chỗ trám vá mới
còn loang màu xám nhợt. Giữa các đường nứt nhỏ li ti, lâu lâu lại rịn xuống vài
giọt nước đục vàng khè, bò chậm dọc thân tường rồi đọng dưới nền.
Ông Trí đứng nhìn một hồi lâu, tự nhiên nhớ tới mấy pho tượng
quan đá ở lăng Gia Long hồi còn nguyên chức vụ, hôm đó ông dẫn đoàn khảo sát vô
coi trùng tu, trời cũng lâm râm mưa kiểu này. Một ông thợ già người Phú Vang
lúc đó ngồi hút thuốc dưới chân tượng quan võ bị mất nửa vành tai, bỗng nói tỉnh
queo rằng ban đêm đừng nhìn mặt tượng lâu quá, vì có những pho tới gần sáng mắt
nó đổi hướng theo người đứng coi. Hồi đó ông cười, nghĩ dân gian hù nhau. Giờ tự
nhiên không cười nổi nữa.
Ngay dưới chân cầu thang xoắn, một mảng xi măng mới trám bỗng
bong ra lật xuống nền nghe “bẹp” một tiếng nhỏ, lớp mặt ngoài rơi trước, còn phần
bên trong đen nhầy như thịt mục ngâm nước lâu ngày. Nhưng giữa những nét vẽ đó,
có một hàng chữ đỏ sậm ai đó nguệch ngoạc:
“Rồng Không Chết. Chỉ Bị Nhốt.”
Ông Trí đứng khựng, tự nhiên bổng thấy rởn gáy. Hồi còn làm
phó phụ trách văn xã thành phố, ông từng ký vô mấy hồ sơ giải tỏa quanh Thiên
An. Không phải ông muốn, nhưng guồng máy nó vậy.
Ông nhớ rất rõ bữa họp hôm đó. Vị lãnh đạo Thành phố hút thuốc
liên tục. Ông phó kinh tế tên Lâm ngồi rung đùi, nói giọng nhẹ hều:
— Phải làm du lịch. Muốn phát triển thì phải hy sinh chút
ít.
Ông Trí hỏi:
— Hy sinh ai?
Lâm cười:
— Dân.
Cả phòng cười theo. Riêng ông không cười nổi. Lúc đó, lần đầu
tiên trong đời ông thấy chữ “nhân dân” bị nói nhẹ như cọng rác.
Sau này, ông mới hiểu. Khi người ta còn hô hào lý tưởng,
nghĩa là người ta chưa có quyền lực. Hồi chưa có quyền lực, người ta hay nói
chuyện lý tưởng. Tới lúc ngồi được vô ghế rồi, câu chuyện trên bàn rượu chỉ còn
đất, dự án, phần trăm.
Nhưng ông Trí cũng không ghét ông Lâm hoàn toàn, bởi có những
bữa ngồi uống rượu khuya ở quán thịt dê dưới chân cầu Bạch Hổ, nghe Lâm nói
chuyện đời mình, ông lại thấy cái ác nhiều khi không phải từ bản chất con người,
mà từ sợ nghèo, sợ bị người ta dìm xuống. Một ngày nào đó mình sẽ biến mất khỏi
cuộc chơi này như cục đá chìm dưới đáy sông Hương không ai buồn nhớ tới.
Bữa đó, Lâm ngồi rót rượu, mắt đỏ ké. Tay ông cầm chai rượu
run nhẹ, không phải vì say. Kiểu run của người đã giữ thứ gì nặng quá lâu trong
lòng bàn tay tới mức cơ thịt không còn nhớ cách buông.
Lâm nhìn xuống ly rượu một hồi rồi mới nói, giọng khàn như
người vừa ngủ dậy giữa chừng:
— Anh Trí biết không, hồi tui mới vô cơ quan, tui có viết một
cái đề án. Đề án hỗ trợ dân vùng giải tỏa. Tui thức mấy đêm liền. Giờ không còn
nhớ để ở đâu nữa.
Ông Trí nhìn Lâm. Nhìn bàn tay đó, ngón tay to bè, khớp đốt
nổi cao, thứ bàn tay không phải của người lớn lên trong nhung lụa.
Lâm rót rượu, lời lại ra theo.
— Anh Trí à, tụi mình giờ đâu còn sống cho mình nữa.
Ông Trí không nói gì.
Lâm cười, cái cười méo xẹo như người nuốt không trôi miếng đắng:
— Anh còn đường lui. Chớ tui mà ngừng lại, tụi nó đạp tui chết
liền.
Nói rồi Lâm ngửa mặt uống cạn ly rượu. bên ngoài mưa Huế lắc
rắc đổ xuống mái tôn, như tiếng ai cào móng tay lên mặt gỗ mục.
Đêm đó về nhà, ông thức trắng. Ngoài hiên, mưa lất phất quẹt
qua hàng bông giấy nghe sột soạt như có ai đứng nép ngoài sân mà thở dài hoài
không dứt. Thằng Phong, con trai ông, mới du học về chưa bao lâu, tóc chải
bóng, áo sơ mi trắng thẳng nếp, cặp kính gọng vàng hắt ánh đèn lạnh tanh trên sống
mũi. Nó vừa bấm điện thoại vừa cười nhạt, cái kiểu cười tỉnh queo của lớp người
trẻ bây giờ, chuyện gì cũng quen đem ra cân bằng lời lỗ.
— Ba nghĩ nặng lòng quá. Thời buổi này, người ta sống phải
biết thực tế.
Ông Trí ngồi im một hồi rồi mới ngước lên:
— Thực tế kiểu chi?
Phong nhún vai, giọng nhẹ mà nghe lạnh:
— Đất bỏ không thì đem làm ra tiền. Chớ giữ đó cho mấy cái
bóng dưới mồ ở hoài sao được.
Ông Trí nhìn con mình, nhìn gương mặt còn rất trẻ mà ánh mắt
đã ráo khô tới mức, không còn chỗ cho một điều gì mơ hồ hay kính sợ. Tự nhiên
trong lòng ông dội lên cảm giác lạ lắm, như giữa cha con vừa có một quãng nước
sâu âm thầm, mở ra từ lúc nào mà không ai hay.
Hồi nhỏ, thằng này từng ngồi trên vai ông coi thả đèn hoa
đăng sông Hương. Ông Trí chợt nhớ hồi mười hai tuổi, có lần thằng Phong đi
ngang nghĩa địa gần lăng Tự Đức, tự nhiên nó níu chặt tay ông hỏi nhỏ: “Người
chết nằm dưới đó có nghe tiếng mình nói không ba?” Hồi đó ông chỉ cười xòa. Giờ
nghĩ lại, tự nhiên ông không biết ai mới là người thay đổi trước. Nó từng khóc
khi thấy người bán vé số bị đuổi. Mà giờ nó nói chuyện bằng giọng của một nhà đầu
tư. Ông bỗng thấy có thứ gì trong mình đã không còn nằm bên phía thằng Phong nữa.
Ông Trí nhìn thằng con một lúc rồi tự nhiên nhớ lại hồi
Phong mười lăm tuổi, có lần hai cha con ngồi coi tivi, trên màn hình chiếu lại
cảnh người ta xếp hàng mua gạo thời bao cấp. Phong hỏi, giọng tò mò thật sự chứ
không phải hỏi cho có:
— Sao hồi đó người ta không ra chợ mua cho rồi ba?
Ông Trí không biết giải thích từ đâu. Nói về tem phiếu, về
ngăn sông cấm chợ, những thứ đó với thằng nhỏ lớn lên trong nhà có tủ lạnh, có
wifi, còn xa hơn chuyện cổ tích. Ông chỉ ừ một tiếng rồi thôi. Bây giờ đứng
nhìn Phong trong ánh đèn lạnh, ông mới hiểu cái ừ đó của mình đã để lại khoảng
trống nào.
Một lần hai cha con cãi nhau tới khuya, Phong đứng ngoài ban
công nhìn xuống sông Hương, giọng mệt mỏi:
— Ba cứ muốn giữ mọi thứ nguyên vẹn như hồi xưa, nhưng nếu
ai cũng giữ kiểu đó thì Huế sống bằng cái gì?
Ông Trí gằn giọng:
— Không lẽ bán hết?
Phong quay lại nhìn cha mình, mắt nó đỏ lên hồi nào không
hay:
— Chớ hồi trước ba có bán đời mình cho lý tưởng không? Khác
gì tụi con đâu.
Câu nói đó làm ông Trí chết lặng.
Ngoài trời, một chiếc thuyền du lịch thả đèn chạy chậm trên
sông, tiếng ca Huế theo gió bay lờ mờ như tiếng người xưa than thở. Ông ngồi im
rất lâu, tự nhiên thấy giữa mình với con trai không phải chỉ cách nhau một thế
hệ, mà cách nhau nguyên một dòng nước lớn, bên nào cũng nghĩ mình đang cứu lấy
điều đúng đắn nhất.
Mưa lớn hơn, ông Trí leo lên tầng cao nhất trong thân rồng.
Từ miệng rồng nhìn ra, hồ nước đen như mực tàu. Xa xa là rừng thông Thiên An.
Xa nữa là hướng sông Hương.
Bất chợt, ông nghe tiếng gì đó sau lưng. Ông Trí đứng im. Mồ
hôi lạnh rịn sau gáy.
— Ai?
Tiếng cười khô khốc vang lên trong bụng tượng rồng. Ông nghe
tim mình đập mạnh. Ngoài hồ, gió bỗng nổi cuồn cuộn. Mặt nước dềnh lên. Và từ
dưới hồ, có cái gì đó đang chuyển động. Một cái đầu dài đen ngòm từ từ nhô lên
giữa mặt nước.
Không phải cá, chẳng phải rắn. Nó giống một con thuồng luồng
khổng lồ. Hai mắt đỏ như than cháy. Nó ngẩng đầu nhìn tượng rồng. Rồi nhìn ông.
Ông Trí không chạy. Lạ lùng thiệt. Người già nhiều khi hết sợ. Sợ hết một đời rồi.
Thuồng luồng há miệng. Giọng nó như tiếng nước xiết trong cống
đá.
— Ngươi trở lại rồi à?
Ông Trí đứng im. Mồ hôi lạnh rịn sau gáy.
— Ngươi cũng giống họ thôi.
Ông Trí không nói được gì. Cái lạnh từ bụng tượng rồng như
thấm ngược vô xương. Trong đầu ông bỗng dội lên cái cảnh bữa họp năm đó. Bàn
tay ông Lâm rung đùi, điếu thuốc cháy dở trên gạt tàn, tờ hồ sơ giải tỏa nằm chờ
chữ ký. Và tay ông đã ký. Không ai cầm tay ông. Không ai ép ông. Tay ông đã ký.
Con thuồng luồng không nói thêm gì. Nó chỉ nằm đó, nhìn ông
bằng hai mắt đỏ sâu như cái giếng cũ bỏ hoang giữa đồng. Thứ giếng không phản
chiếu bầu trời mà chỉ phản chiếu mặt người đang nhìn xuống.
Ông Trí bỗng thấy trong gương mặt mình phản lại dưới đó
không phải ông bây giờ, mà là ông hồi bốn mươi tuổi, ngồi trong phòng họp máy lạnh,
tay cầm bút, mắt nhìn ra cửa sổ, và ngoài cửa sổ là một dãy nhà dân đang chờ giải
tỏa, mà ông đã cố tình không nhìn kỹ.
Ngoài chớp lóe. Ông nhìn thấy phía bên kia hồ, những pho tượng
quan văn, quan võ, voi đá, ngựa đá đứng lố nhố trong sương như một triều đình bị
bỏ quên giữa cõi âm. Pho nào pho nấy đen sạm, vai áo đóng đầy rêu, tượng thì mất
đầu, tượng nứt dọc sống lưng, mấy vết hàn trám cũ hiện lên ngoằn ngoèo dưới ánh
chớp, giống đường chỉ may trên một thân xác từng bị chặt ra rồi ráp lại.
Kỳ lạ nhứt là gương mặt mấy pho tượng. Ban đầu nhìn chỉ thấy
lạnh và vô hồn, nhưng đứng lâu thêm chút nữa lại thấy như mỗi tượng đang mang một
vẻ riêng. Tượng quan văn cúi mặt. Quan võ trợn mắt. Còn con ngựa đá bên trái hồ
không hiểu sao dưới hốc mắt đọng hai vệt nước bùn chảy dài xuống tận mép.
Gió thổi qua rừng thông. Một tiếng “cộp” khô khốc vang lên
đâu đó. Ông Trí giật mình nhìn sang thì thấy cánh tay của pho tượng lính túc vệ
gần mép hồ vừa rơi xuống nền đá, phần lõi bên trong không phải màu trắng của xi
măng mà đen sì như gỗ cháy, lủng lẳng vài sợi rễ cây nhỏ li ti đâm xuyên qua
thân tượng, như thể rừng già đã âm thầm mọc vào trong đá tự bao giờ.
Một pho tượng quan võ mất nửa đầu đứng chơ vơ dưới mưa. Con
voi đá gần mép hồ nứt ngang bụng, rêu đen ăn sâu vô những đường rạn. Mấy pho
lính túc vệ thì lở mất mặt, chỉ còn những hốc tối lặng thinh nhìn ra màn sương
đặc quánh. Gần hai trăm năm đứng dầm mưa dãi nắng, đám thạch tượng vẫn im ru.
Mà đêm ni, không hiểu răng ông Trí cứ thấy chúng như đang lắng nghe thứ gì rất
sâu dưới lòng đất.
Gió bỗng thốc qua rừng thông. Trong khoảnh khắc, ông Trí
nghe quanh mình dậy lên vô số âm thanh chồng lấp. Tiếng mái chèo khua lóc cóc
trong sương. Tiếng cuốc bổ xuống nền đất mềm nghe hộc hộc dưới mưa dầm. Rồi đâu
đó, tiếng máy ủi nghiến qua nền lạnh ngắt. Giữa đám âm thanh lẫn lộn ấy còn
chen vô tiếng đàn bà khóc nghẹn, tiếng người gọi nhau thất thanh lúc nhà cửa, mồ
mả bị dời đi. Chúng quấn riết lấy nhau như một dòng nước đục đã ngâm quá nhiều
oan khuất dưới đáy hồ, tới lúc trồi lên thì chẳng còn ai phân biệt nổi đâu là
tiếng người đang sống, đâu là tiếng của kẻ đã chìm mất từ đời nào.
Ông Trí ôm đầu, giọng lạc đi:
— Đủ rồi…
Thuồng luồng khẽ động mình dưới nước, nó nhìn ông rất lâu.
Hai con mắt đỏ không dữ, mà sâu hun hút như thứ gì đã nhìn người đời mục rã quá
nhiều nên không còn buồn nổi nữa.
Tiếng cười trầm đục nổi lên, nghe như bọt khí vỡ đâu dưới
đáy hồ lâu năm không ai khuấy.
— Còn ngươi?
Lần này ông Trí không cần nó nói tiếp. Ông biết câu hỏi đó hỏi
gì rồi.
Từ trong miệng rồng tối om vọng xuống tiếng nước nhỏ tong
tong chậm rãi. Âm thanh đó nhỏ lắm. Nhỏ tới mức nghe như tiếng ai đang đếm, đếm
rất chậm, không biết đang đếm gì, mà nghe tới rởn gáy.
Ông Trí đứng im. Mưa quất vô mặt lạnh buốt. Một hồi lâu sau,
ông mới cười, cái cười mỏng dính như hơi khói.
— Hồi trẻ ta cứ tưởng mình khác.
Ông nuốt chậm một hơi nghẹn trong cổ.
— Sau mới hay, hễ đã ngồi cao rồi… người ta dễ quên dưới
chân mình có ai.
Ngoài kia, đám tượng đá vẫn đứng bất động giữa màn mưa trắng
đục. Nhưng không hiểu sao ông Trí cứ có cảm giác, chúng không nhìn ông bằng oán
giận, mà bằng một thứ buồn bã rất cũ, rất xa, như người chết đã thấy chuyện đó
lặp đi lặp lại qua quá nhiều đời rồi nên chẳng còn sức để trách thêm ai nữa.
Ông Trí chợt nhớ hồi nhỏ mình từng theo cha chèo đò ngang
lăng Minh Mạng vào những bữa sương xuống dày đặc mặt sông. Mỗi lần đi tới khúc
đó, ông già đều tự nhiên hạ giọng, bắt ông ngồi im thin thít, không được cười lớn,
không hát nghêu ngao, càng không được buông một câu tục tằn nào dù chỉ cho vui
miệng. Hồi còn nhỏ, ông thấy vậy là mê tín, là kiểu kính sợ của người xưa trước
vua chúa đã chết từ đời nào, nhưng tới tuổi này rồi ông mới thấm. Thứ người ta
sợ chưa chắc là uy quyền, mà là khoảng im lặng phủ lên những nơi từng chứa quá
nhiều quyền lực. Cần im lặng thì người ta mới nghe được tiếng mục ruỗng đang âm
thầm rã ra từ bên trong, những thứ tưởng là vững bền.
Gần nửa đêm, tiếng động cơ xe rồ lên dưới dốc. Rồi ánh đèn
pha quét qua hàng thông, trắng lạnh. Một đoàn xe hơi đậu lại trước cổng. Ông
Lâm bước xuống trước, áo mưa khoác vội, tay cầm điện thoại còn sáng màn hình.
Theo sau là mấy người đàn ông mặc vest, giày da dính bùn đỏ, ai cũng cúi đầu
che mưa mà bước nhanh vô. Một người trong nhóm chỉ lên tượng rồng, nói gì đó.
Người kia gật đầu, bấm điện thoại chụp ảnh. Ánh flash lóe lên trắng bệch giữa
màn đêm. Phong đi sau cùng. Thằng con ông giờ là giám đốc dự án.
Ông Trí mắc mưa. Ướt sũng. Giờ đang đứng trong bóng tối dưới
mái hiên cũ, nhìn ra. Lâm chưa thấy ông. Đám người kia cũng chưa thấy. Họ đang
bàn tán gì đó, giọng người Bắc, người Nam lẫn lộn, tiếng số liệu, tiếng tên khu
đất, tiếng cười ngắn.
Ông đứng thêm một lúc. Rồi bước ra. Phong nhìn cha mình:
— Ba làm gì ở đây?
— Tao chờ tụi bây.
Lâm cười nhếch mép:
— Anh Trí nghỉ hưu rồi còn thích lo chuyện thiên hạ.
Nhưng ông không bước tới. Đứng nguyên chỗ đó, tay vẫn cầm điện
thoại mà không nhìn vô màn hình nữa. Như người vừa thấy thứ gì quen mà không muốn
nhận ra.
Ông Trí nhìn quanh.
Đồi Thiên An chìm trong sương trắng. Mấy pho tượng đá thấp
thoáng sau rừng cây như một triều đình đã chết.
Ông nói nhỏ:
— Mấy người không thấy à?
— Thấy gì?
— Rồng đang nổi giận.
Phong bực mình:
— Ba thôi đi. Toàn nói chuyện không có.
Ông Trí cười.
Lần đầu tiên sau nhiều năm, ông Trí bỗng thấy trong ngực
mình nhẹ bẫng. Cái thứ nhẹ lạnh lẽo của một người vừa thôi chống cự với điều gì
đó đã đeo bám quá lâu. Ông cười nhạt, giọng khàn đi giữa hơi đất ẩm:
— Ờ… chắc tao già rồi nên đâm ra lú lẫn, nói chuyện không giống
ai.
Nói rồi ông chậm rãi đưa tay chỉ xuống mặt hồ phía dưới chân
đồi.
Nước đang động, không phải kiểu gợn vì gió. Từng vòng nước
đen sì âm thầm nổi lên từ đáy sâu, loang rộng ra như có thứ gì đang trở mình
bên dưới lớp bùn đã nằm im mấy chục năm. Xa xa, đèn mấy chiếc xe công trình bỗng
chớp tắt liên hồi, ánh sáng giựt từng cơn yếu ớt, như mí mắt người hấp hối, soi
thoáng qua mặt nước đang sôi lục bục.
Một tiếng động khủng khiếp vang lên trong thân tượng rồng.
Rắc.
Rồi một tiếng “rắc” nữa khô khốc bật ra từ cổ tượng, nghe
không giống tiếng đá nứt mà giống tiếng xương người già bị bẻ mạnh. Một đường rạn
đen từ hốc mắt con rồng chậm chậm chạy xuống cần cổ, mấy lớp xi măng vá víu bao
năm nay tự nhiên bong lên từng mảng, để lộ bên dưới lớp bê tông cũ đen ngòm, ẩm
nhớt.
Rắc.
Rắc.
Mỗi lần thân tượng rung lên, từ hai hốc mắt rồng lại trào ra
thứ nước đục màu bùn non, đặc quánh, kéo thành sợi lòng thòng xuống mép nanh trắng
hếu. Xa xa dưới hồ, mặt nước cuộn lên từng vòng lớn như có con vật khổng lồ
đang trở mình dưới đáy. Còn đám tượng đá bên rừng thông thì không biết do chớp
nháy, hay do mắt ông Trí đã già, mà hình như đều vừa nhích tới trước một chút.
Một chút thôi, nhưng đủ làm mọi sống lưng lạnh cứng. Từng mảng xi măng rơi xuống
hồ. Trong khoảnh khắc chớp lóe, ông Trí thấy con thuồng luồng khổng lồ quẫy
mình dưới nước như muốn lao lên trời. Mấy nhà đầu tư hoảng loạn bỏ chạy. Phong
đứng chết trân.
Ông Trí quay lưng, lầm lũi đi xuống dốc đồi trong màn sương
đang trườn dần qua những gốc thông già.
Phong bỗng gọi giật:
— Ba!
Ông Trí dừng lại nhưng không quay đầu.
Một hồi lâu sau, Phong mới nói rất nhỏ, nhỏ tới mức gần như
tan vô tiếng mưa:
— Hồi đó… ba có từng sợ không?
Ông Trí đứng im.
Rồi ông bước tiếp xuống dốc.
— Có chớ. Nhưng hồi trẻ, người ta thường sợ trễ hơn lúc đáng
lẽ phải sợ.
Không ai lên tiếng gọi theo ông nữa, chẳng ai bước tới níu lại.
Gió rít từng cơn dài xuyên qua rừng cây nghe như tiếng sáo bị ai bẻ gãy giữa chừng.
Đúng lúc bóng ông gần khuất hẳn dưới triền dốc, từ phía hồ
Thủy Tiên phía sau bỗng bật lên một tiếng gầm đục nghẹn, kéo dài và nặng trĩu
như có thứ gì bị chôn ép dưới bùn non suốt gần hai trăm năm nay, vừa cựa mình đội
đất để thở. Tiếng động ấy chẳng giống thú kêu, cũng không giống tiếng máy móc sập
đổ, nó nghe như hơi thở mục ruỗng của cả một triều đại, tới bữa đó mới chịu trồi
lên khỏi đáy tối.
*
Chiều cuối năm, mưa Huế không còn xối xả mà rả rích như khói
nước. Mỏng tới mức nhìn xa tưởng sương đang chảy xuống từ những ngọn thông già
trên đồi Thiên An. Người ta nói từ sau bữa đào móng cuối cùng, trên khu đất để
hoang bên tu viện xa xa, chỗ địa phương tiếp quản năm xưa, luôn có mùi đất ướt
ngai ngái như chiếu cũ lâu ngày bị thấm nước sông, dù nắng chang chang vẫn
không tan hết.
Công trình nghỉ dưỡng rồi cũng dừng ngang. Mấy tấm tôn chắn
quanh khu đất dần dần rồi cũng sét đỏ, nhiều chỗ tự bong lớp xi măng như da người
bị mục lâu ngày dưới nước. Mấy người thợ còn nói tượng đá đặt tạm gần đó sáng
nào cũng đọng hai vệt nước mưa mỏng chạy dài dưới mắt, dù hôm trước trời không
hề có mưa. Lâu dần, người ta cũng thôi nhắc. Huế nhiều khi lạ vậy. Những chuyện
càng nằm sâu thì người ta càng nói nhỏ đi.
Ông Lâm sau đó bán căn nhà dưới phố, dọn đi đâu không rõ.
Người ta nói đêm trước khi đi, ông ngồi rất lâu ngoài hiên, hút hết gần nửa bao
thuốc, mắt nhìn về phía đồi thông tối đen bên kia sông. Như nhìn một thứ gì còn
mắc lại mà cả đời mình không gỡ nổi. Người ta kể lúc đứng lên, ông đã già sọm
đi.
Còn Phong thì không quay lại Thiên An thêm lần nào nữa. Nghe
đâu cậu ra Đà Nẵng làm cho một tập đoàn lớn. Vest giày vẫn chỉnh tề. Giọng nói
dự án vẫn ráo hoảnh.
Chỉ có một chuyện lạ. Hễ chiều xuống mà trời mưa lâm râm kiểu
Huế, hoặc tình cờ nghe tiếng mái chèo khua lóc cóc ở một quán ven sông, Phong
thường khựng lại giữa câu nói, không xong. Ánh mắt trôi đi đâu đó rất xa. Rồi cậu
lặng lẽ châm một điếu thuốc, đứng im rất lâu ngoài hiên. Người quen thấy vậy
hay hỏi nghĩ gì. Phong bao giờ cũng cười, lắc đầu: không có gì.
Cái dáng đứng đó của Phong, không ai nhận ra, trừ những người
từng biết ông Trí hồi trẻ.
Mùa mưa năm sau, mấy người chèo đò trên sông Hương bắt đầu
truyền nhau một chuyện lạ. Hễ đưa khách ngang đoạn nhìn lên rừng thông Thiên An
lúc trời sập tối, họ thường chống sào đi chậm lại, rồi tự động nói nhỏ đi, như
sợ động giấc ai đó đang nằm sâu dưới đất. Không ai biểu họ làm vậy hết. Chỉ là
lâu dần, thành lệ. Rồi từ đó, mỗi khi qua khúc sông ấy vào những đêm có sương,
gần như chẳng còn người chèo đò nào dám huýt sáo nữa.
