Chẳng biết học trò ở Cali có để ý không, khi những cây jacaranda bắt đầu nở rộ những chùm hoa mặn mà, đằm thắm, đó là dấu hiệu của mùa thi cuối khoá ở các trường học Mỹ, và một mùa hè rực rỡ đang đón chờ chúng phía trước. Một người Việt nào đó đã gọi tên loài cây này là phượng tím, nghe hay hay và gần gũi, gợi nhớ đến loài phượng đỏ của chúng ta ở quê nhà. Vốn là người ưa để ý đến chữ nghĩa, tôi lẩn thẩn tra cứu xem cây phượng vĩ trong tiếng Anh nói làm sao. Hoá ra—ngoài những tên khoa học khó nhớ—hoa phượng còn có nhiều tên bình dân như flamboyant flower, royal poinciana, peacock flower, flame of the forest và phoenix flower (tên này nghe giống như trong tiếng Việt!)
Cali không có phượng đỏ, nhưng cũng có ai đó mang được ở đâu
về trồng. Tôi nhớ có lần đi ngang một căn nhà, hình như là trên đường Lampson,
thành phố Garden Grove, thấy trước sân có một cây phượng vĩ, thích thật là
thích. Mười mấy năm về trước, trong một dịp qua Florida chơi, ba tôi nâng niu
mang về được một cây phượng vĩ non, cao chừng vài tấc. Ông trồng nó trước sân
nhà chị tôi. Khi đã cao bằng một người lớn tầm thước, cây phượng hiếm có này bỗng
dưng khô héo đi rồi chết, mặc dầu vẫn được tưới nước hằng ngày. Ba tôi, chị tôi
và tôi, ai cũng buồn và tiếc không thể tả.
Trong những lần đi chơi vào mùa hè ở Honolulu, Hawaii, lần
nào tôi cũng rưng rưng xúc động khi thấy thành phố tràn ngập loài hoa đỏ thân
quen này. Những ngày có mưa nhỏ, thành phố thơm nồng mùi hơi đất bốc lên dưới
ánh nắng hè, trong cái nóng oi bức, ẩm thấp của miền nhiệt đới. Và những bông
hoa phượng đỏ trong các tàng lá xanh mướt hai bên đường càng làm tôi bâng
khuâng, thổn thức nhớ thành phố của tôi ở quê nhà năm cũ.
Và tôi nhớ lại mùa hè năm ấy…
Mùa hè ở quê nhà, bên cạnh những bông hoa phượng vĩ đỏ chói
chang, còn kèm theo tiếng ve sầu râm ran không dứt. Cũng là mùa hè, nhưng không
phải ai cũng có tâm trạng giống nhau. Có kẻ thốt lên sung sướng “Ôi tất
cả mùa xuân trong mùa hạ!” 1 Ngược lại, chắc
cũng không thiếu người rên rỉ “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…” 2 Tôi
cũng có một nỗi buồn mùa hè đáng nhớ… Mùa hè của tôi năm ấy là tổng hợp của một
công thức… phi toán học của tôi như sau: Vui > Buồn > Vui > Buồn
= Buồn.
Năm đó, tôi học xong đại học, bắt đầu một mùa hè bất tuyệt,
bởi sẽ không còn cắp sách đến trường, sẽ không còn chờ đợi mùa hè, niềm mong đợi
hồn nhiên của tuổi học trò. Tuy vậy, vẫn còn cảnh bạn bè bùi ngùi chia tay
nhau, mỗi đứa sẽ thật sự bước vào cuộc sống của người lớn, với công việc, với
trách nhiệm trên bước đường đời trước mặt. Năm học đó, tôi tìm thấy được một niềm
vui, nhỏ thôi, mong manh thôi, vì đó chỉ mới là một tình cảm đầu đời, hết sức
nhẹ nhàng, với Bình, anh chàng học cùng ngành tiếng Anh với tôi suốt bốn năm đại
học. Trong buổi liên hoan cuối khoá, sau lễ phát bằng tốt nghiệp, tôi chỉ
thoáng buồn một chút, vì nghĩ rằng còn thiếu gì dịp để Bình và tôi gặp nhau,
tuy không còn đi học nữa.
Suốt hai năm cuối ở đại học, Bình và tôi, ngoài những lúc gặp
nhau trong lớp, còn hẹn nhau đi ăn chè hay uống cà-phê, lúc thì trong khuôn
viên đại học, khi thì trong những quán nhỏ, thơ mộng trong thành phố. Những lúc
không gặp nhau thì lại đem những mẩu giấy nhỏ đã chuồi vào tay cho nhau lúc gặp
mặt, đọc và cười một mình ở nhà với những lời lẽ bóng gió, ỡm ờ viết cho nhau
trên giấy. Những lúc khác, chúng tôi lại thường đạp xe sóng đôi bên nhau dọc
theo con đường biển lộng gió, vừa hít hà mùi đại dương ngào ngạt, vừa khúc
khích nói cho nhau nghe những sweet nothings, một trong những từ ngữ
dễ thương mà chúng tôi học được từ các lớp tiếng Anh của mình.
Phải định nghĩa tình cảm của Bình và tôi làm sao đây? Tuy
không nói ra, chắc cả hai chúng tôi cùng nghĩ rằng chúng tôi đã đi quá tình bạn
một chút, nhưng cũng chưa phải đã đến tình yêu. Hay nói theo định nghĩa của
Byron, thi sĩ trữ tình người Anh, “Tình bạn là tình yêu không có cánh” 3,
có lẽ là chúng tôi đang ở chỗ lập lờ đó. Tuy vậy, chắc tôi là người lãng mạn
hơn Bình, đã thầm cho cảm xúc của mình đi xa hơn thế nữa. Chẳng vậy mà những
khi ngồi mơ màng nghe nhạc ở quán Chiều Tím, tôi vẫn thường ngất
ngây với mấy câu hát thật tình tứ từ trong cassette vang ra “C’est un
bon roman/C’est une belle histoire/C’est une romance d’aujourd’hui…4 Tôi
nghĩ, nếu Bình mà biết được những ý nghĩ thầm kín này của mình thì xấu hổ đến
chết đi được.
Những ngày đầu của mùa hè đặc biệt này, có lẽ người nào
cũng có những cảm xúc lẫn lộn, vừa thấy thoải mái sau mấy năm dài học tập, vừa
thấy trống trải với ý nghĩ, “Rồi kế tiếp là gì đây?” Không biết bạn bè tôi thì
sao, nhưng tôi thì tự cho mình được nghỉ ngơi một thời gian trước khi bắt đầu
chạy khắp nơi để xin việc làm. Cả tuần nay Bình và tôi không gặp nhau, tôi cũng
không thấy thiếu vắng, vì nghĩ anh cũng đang bận rộn trải qua một giai đoạn mới
mẻ trong cuộc sống như mình.
Nhưng qua đến tuần thứ nhì, tôi cũng không nghe tăm hơi gì của
Bình. Sáng thứ Ba, Ngọc Mai chạy đến nhà tôi như một cơn lốc, báo tin:
“Ái Liên, bồ biết gì chưa? Cả nhà anh chàng Bình vượt biên hết
rồi!”
Tôi sững sờ. Ngọc Mai líu lo nói thêm một thôi một hồi,
nhưng tôi không còn nghe và hiểu gì nữa. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là sao Bình ra
đi mà không nói cho tôi biết, nhưng một lúc sau bình tĩnh lại, tôi thấy thông cảm
cho anh, vì chuyện hệ trọng như vậy làm sao có thể tiết lộ cho người ngoài được.
Nhà Ngọc Mai ở cùng xóm với Bình nên cô biết là phải.
Nhiều phút im lặng nặng nề trôi qua, cuối cùng tôi mới thẫn
thờ lên tiếng:
“Thêm một người bạn của tụi mình đã bỏ lại đất nước tội nghiệp
này, Ngọc Mai ơi!”
Lúc nói câu đó, chắc tôi nhìn thiểu não lắm, có lẽ Ngọc Mai
nghĩ người “tội nghiệp” mới là tôi chứ không ai khác. Cô biết rõ tình bạn thân
mật giữa Bình và tôi nên mới báo cho tôi là người đầu tiên biết cái tin nóng hổi
và… buồn da diết này. Để tôi khuây khoả, Ngọc Mai rủ tôi ra chợ ăn chè. Trời
đang nóng bức, người lại đang buồn, thưởng thức ly chè đá mát rượi với một người
bạn, hy vọng có thể được chút gì an ủi, tôi nghĩ vậy. Hai đứa im lặng đạp xe
bên nhau qua những con đường khá vắng vẻ. Tiếng ve sầu râm ran, vốn đã buồn,
hôm nay tôi nghe càng thêm nẫu ruột. Nhìn những hàng phượng vĩ lá xanh ngát và
hoa đỏ thắm hai bên đường, tôi ngỡ như mỗi bông hoa là một giọt nước mắt mùa
hè, khóc cho một người vừa ra đi không biết bao giờ trở lại.
Sau hôm ấy, ngày nào tôi cũng thơ thẩn đạp xe một mình trên
con đường biển quen thuộc mà trước đây Bình và tôi vẫn đi qua. Tôi tưởng tượng
Bình vẫn im lặng đạp xe bên cạnh tôi, chỉ vì tôi chẳng ngoảnh qua nhìn nên
không thấy Bình đó thôi. Tôi mỉm một nụ cười buồn, cố giữ trong đầu hình ảnh
Bình đang chậm rãi đạp xe, cố nhìn thẳng trước mặt, nhất định không quay qua
nhìn để khỏi phải… không thấy ai cả.
Tôi đạp xe một mình dạo đường biển như vậy cũng đã được cả
tuần nay. Một buổi chiều, trời tương đối mát sau mấy hôm nóng bức, đang đạp những
vòng xe không hồn, tôi chợt giật mình nghe có tiếng người đi bên cạnh nói:
“Chào Ái Liên! Nghỉ hè vui không?”
“Dạ, thầy Ngữ! Chào thầy!” Tôi lúng túng quá, không nói thêm
được gì nữa.
Thầy Ngữ là thầy dạy tiếng Đức của tôi ở đại học. Thầy trò
chúng tôi tiếp tục đạp xe sóng đôi với nhau, và thầy Ngữ hỏi tôi nhiều thứ mà
tôi không còn nhớ là những gì. Tôi chỉ nhớ là mình cứ, “dạ”, rồi “dạ, không”, rồi
“dạ, đúng”, rồi “dạ, đâu có”… sau từng câu hỏi của thầy. Lúc đi ngang một quán
cà-phê, thầy Ngữ bảo:
“Trời nóng quá, tôi mời Ái Liên ghé vào đây uống cái gì cho
mát nhé!”
Tôi lại giật mình một lần nữa. Đoán được ý nghĩ của tôi, thầy
Ngữ cười nói:
“Em ra trường rồi, tôi không phải là giáo sư của em nữa đâu!
Đừng ngại, ở đây không có nhân viên nào trong Khoa Ngoại Ngữ cả.”
“Dạ,” tôi lí nhí nói, loay hoay dựng xe bên cạnh chiếc xe của
thầy. Quán vắng vẻ, chỉ có một đôi tình nhân ngồi trong góc, rủ rỉ, cười nho nhỏ
với nhau, trông thật tâm đắc. Thầy Ngữ kéo ghế mời tôi ngồi. Tôi lại lí nhí cám
ơn thầy. Thầy Ngữ cười thật tươi:
“Bitte schön! Sei nicht schüchtern!” 5
Oh mein Gott! Bao nhiêu chữ nghĩa thầy dạy cho
tôi chắc tôi trả hết lại cho thầy rồi. Tôi chẳng hiểu thầy nói gì, chỉ còn biết
kêu trời… bằng tiếng Đức mà thôi. Tôi học thầy đến năm lớp tiếng Đức, mà tôi chọn
làm sinh ngữ phụ cho chương trình cử nhân tiếng Anh của mình. Thầy Ngữ nổi tiếng
trong khoa ngoại ngữ vì… đẹp trai, tài hoa, bặt thiệp. Thầy tốt nghiệp văn
chương Đức với văn bằng Magister Artium ở Leipzig bên Đông Đức. Nghe thầy nói
tiếng Đức mà không nhìn thầy, ai cũng nghĩ là… Nietzsche đang giảng bài! Thầy
còn trẻ, chỉ hơn đám sinh viên chúng tôi khoảng sáu, bảy tuổi, nhưng lúc đó đã
có gia đình. Chẳng may, chỉ ít lâu sau đó, vợ thầy bị một cơn bạo bệnh rồi qua
đời. Hai người chưa kịp có con cái gì cả. Chắc thầy giấu cảm xúc hay lắm, vì
người nào mới gặp thầy, thấy lúc nào thầy cũng vui vẻ, tươi cười, không thể nào
biết bên trong thầy có một nỗi buồn sâu lắng.
Ngồi xuống bàn, tôi đã định thần lại đôi chút. Thấy từ nãy
giờ mình chỉ nói từng tiếng một, tôi bắt đầu cố gắng tỏ ra bình tĩnh và mạnh dạn
hơn một chút. Tôi ngó thầy:
“Thầy biết không? Mới đây mà em như đã quên hết tiếng Đức thầy
dạy tụi em. Nghe thầy nói có mấy câu ngắn thôi mà em tá hoả tam tinh, không hiểu
gì cả! Bây giờ em mới hoàn hồn lại.”
“Em làm như tôi là một Zauberer 6 trong
truyện cổ tích của anh em nhà Grimm vậy,” thầy Ngữ nheo mắt cười.
Tôi cười theo thầy, vui vẻ thêm:
“Giờ thì em bắt đầu nhớ lại một ít tiếng Đức của thầy dạy rồi.
Em nhớ có một lần, cả lớp biết thầy còn biết nhiều thứ tiếng khác như tiếng
Pháp, tiếng Hoà Lan, tiếng Thuỵ Điển và cả tiếng Vlaams 7 nữa,
nên mới hỏi thầy làm sao mà thầy học hết được từng ấy thứ tiếng hay vậy. Thầy
đã trả lời, “Das Sprachenlernen ist mir ein Zeitvertreib und nicht eine
Arbeit.” 8
Thầy Ngữ có vẻ vui khi nghe tôi nhắc đến chuyện này. Thầy gọi
cho mỗi người một ly nước dừa tươi ướp đá lạnh, uống đến đâu mát cả người đến
đó. Vừa thưởng thức món giải khát, thầy vừa ân cần hỏi thăm tôi về những điều
mà suốt những năm tháng trong giảng đường, thầy không có dịp để hỏi. Tôi trả lời
hết những câu hỏi của thầy, nhưng không dám hỏi lại thầy nhiều, e chạm đến những
gì thầy không muốn nói.
Khi thầy trò chia tay ra về, tôi cám ơn thầy, đánh bạo chúc
thầy một mùa hè tươi đẹp, bằng tiếng Đức:
“Vielen Dank, Herr Professor. Ich wünsche Ihnen einen
schönen Sommer!”
Thầy Ngữ gật gù và đáp lại… bằng tiếng Việt:
“Không có chi! Cám ơn em đã dành chút thì giờ cho ông thầy học
cũ. Hôm nào tôi mời em lại nhà chơi nhé. Nhớ rủ cô bạn thân của em theo cho
vui, tên… gì há?”
“Dạ, Ngọc Mai, thầy!”
Thầy Ngữ đọc cho tôi nghe địa chỉ của thầy. Tôi giả bộ như
đang cố ghi nhớ, nhưng kỳ thực học trò đứa nào chẳng biết thầy ở đâu! Tôi vui vẻ
đạp xe về nhà, tâm trạng khác hẳn lúc ở nhà dắt xe ra, buồn thiu, không biết sẽ
đạp đến đâu, bao giờ mới về…
o O o
Nghe tiếng chó sủa vang và thấy tôi cùng Ngọc Mai đang đứng
lấp ló trước cổng, thầy Ngữ từ trong bước ra, xua con vật vào trong và cất tiếng
chào mời:
“A, Ái Liên và Ngọc Mai! Vào đi hai em!”
Hai đứa tôi cúi đầu chào thầy rồi líu ríu đi theo thầy vào
bên trong. Thầy không đưa chúng tôi vào gian nhà chính mà lại hướng chúng tôi về
phía căn nhà khách nằm bên tay phải. Toàn bộ khu nhà của thầy, kể cả sân trước
rộng rãi, nằm trông ra mặt biển xanh ngắt bên kia đường, y như trong một cảnh
phim Âu châu nào tôi đã từng xem. Ở nhà, thầy Ngữ mặc một cái quần jeans xanh
nước biển đậm và một cái áo thun xám có in hàng chữ “Alles hat ein
Ende, nur die Wurst hat zwei” 9 Trông thầy trẻ
trung hẳn ra, khác với lúc thầy oai nghi, mô phạm đứng trên giảng đường, mặc áo
sơ-mi và quần tây, thỉnh thoảng lại mang cà-vạt hay khoác thêm một cái áo vét
bên ngoài.
Nhà khách không rộng lắm, nhưng cũng đầy đủ như một căn nhà
chính hiệu, tuy tất cả đều dồn chung vào một không gian, không có tường ngăn
cách. Chỗ để tiếp khách nằm bên phải từ ngoài cửa bước vào, có cửa sổ nhìn ra
biển. Bên cạnh bộ xô-pha là một chiếc dương cầm loại upright, đặt kế bên kệ chất
đầy sách. Bên trái là một cái sofa bed và trong góc là một gian bếp nhỏ. Cánh cửa
phía bên trái chắc là dẫn vào một phòng tắm mini, tôi thầm đoán vậy.
“Mời hai em ngồi đây, tôi làm chút gì để uống nhé, Tee?
Kaffee? Wasser?” thầy Ngữ chỉ tay về hướng có chiếc bàn bên trên có một
bình hoa hướng dương vàng ruộm, rực rỡ trong ánh nắng hè đang chiếu vào căn nhà
nhỏ.
Ngọc Mai, hình như giỏi tiếng Đức hơn tôi, tinh nghịch hỏi:
“Kann ich bitte Wein haben, Herr Professor?” 10
“Es ist noch nicht fünf Uhr, 11” thầy
Ngữ nheo mắt cười. Bây giờ tôi mới để ý là thầy thích vừa cười vừa nheo mắt,
làm câu thầy đang nói thêm phần ý nhị.
“Irgendwo ist es fünf Uhr!” 12 Ngọc
Mai cũng lém lỉnh đối đáp lại. Nhưng con nhỏ vội nói thêm, “Xin lỗi thầy, em
đùa chút cho vui, để ôn lại tiếng Đức với thầy đó mà. Thầy cho tụi em xin nước
lọc là được rồi.”
Lúc hai đứa tôi xin phép thầy Ngữ cầm ly nước lên để uống,
thầy khẽ gật đầu và nói:
“Tôi mời hai em vào nhà khách này thay vì nhà chính vì sau
khi vợ tôi mất, tôi ở đây phần lớn thời gian, lâu lâu mới qua bên kia để lau
chùi. Ở bên đó buồn lắm, nhìn đâu cũng thấy kỷ niệm.”
Hai đứa chúng tôi ngồi im, không biết nói gì. Lần đầu tiên
thấy thầy Ngữ mở lòng ra như vậy, tôi thấy ngùi ngùi xúc động. Chợt thầy đứng
lên, tiến về cái piano hiệu Sauter, bảo:
“Để tôi đàn tặng hai em một bài nhé!”
Thầy Ngữ biết đàn! Hồi giờ chúng tôi đâu có biết. Thầy ngồi
xuống thẳng người trước cây đàn, bắt đầu cho hai bàn tay với các ngón thuôn dài
nhảy múa trên các phím đàn. Sau vài nốt nhạc réo rắt đầu tiên, tôi nhận ra đây
là bài “Für Elise” nổi tiếng. Thầy Ngữ như hoá thành một người
khác, không phải là ông thầy thường giảng văn phạm trên bục, mà giờ đây trông
thầy như Beethoven đang say sưa trong một thế giới khác, thế giới của âm thanh
và nhịp điệu. Thầy như quên hẳn có Ngọc Mai và tôi đang ngồi ngẩn người nghe những
cung bậc đầy cảm xúc, tuồng như người chơi đàn đang trút hết bao nhiêu nỗi niềm
vào trong đó. Sau bản nhạc, chúng tôi ngồi nói chuyện thêm một chút rồi xin
phép thầy Ngữ ra về. Không biết Ngọc Mai cảm thấy sao trong lòng, còn tôi thì
người cứ lâng lâng, không biết vui hay buồn, thấy cuộc sống này rộng lớn hơn là
những gì chung quanh mình từ bấy lâu nay.
Những ngày sau đó, âm điệu của bài “Für Elise” cứ
ám ảnh trong đầu tôi. Tôi biết, tuy nói là đàn bài này cho Ngọc Mai và tôi
nghe, chắc thầy Ngữ dành cho vợ thầy thì đúng hơn. Tôi được biết rằng người vợ
mất sớm của thầy tên là Elsa, gọi thân mật từ tên Elisabeth. Cô là người Đức, gặp
thầy trong trường đại học trong thời gian thầy du học. Sau khi hai người lấy
nhau ở Leipzig, cô theo thầy về Việt Nam, rồi mãi mãi gọi nơi này là quê hương
khi nằm xuống.
Für Elise, hay Für Elsa gì cũng thế,
phải không thầy? Tôi nghe mình thổn thức nói thầm trong lòng như thế. Chắc sẽ
không bao giờ là Für Ái Liên đâu! Chỉ gặp thầy có hai lần từ
hôm trước tới giờ, mà tôi thấy hình ảnh, giọng nói, tiếng cười của thầy Ngữ sao
mà thân ái, gần gũi, dịu êm là thế…
Một hôm, tôi chợt nảy ra ý đạp xe ngang trước nhà thầy Ngữ,
mong tình cờ nghe được tiếng dương cầm của thầy từ trong đó bay ra, biết đâu được.
Thế là tôi lên xe, đạp một mạch đến nhà thầy. Dừng xe lại trước ngôi nhà lộng
gió biển, tôi tần ngần ngó vào nhà, lòng thầm mong con chó của thầy không thấy,
kẻo nó lại sủa vang lên thì phiền lắm. Đúng là thầy Ngữ đang chơi đàn bên
trong. Thầy đang chơi bài “Tristesse” quen thuộc của Chopin. Bỗng
con chó ở đâu cất tiếng sủa liên hồi. Tôi hoảng hồn, chưa biết làm sao thì thầy
Ngữ từ trong căn nhà khách đã chạy vội ra. Thấy tôi, thầy cười chào:
“Ủa, Ái Liên! Em ghé chơi à?”
Thầy vẫn mặc quần jeans, hôm nay là màu đen, và trên cái áo
pull cũng màu đen của thầy là câu “Was mich nicht umbringt, macht mich
stärker” 13 Nhưng thầy không ra một mình, theo
sau thầy là một phụ nữ người Âu, tóc vàng, hai mắt xanh như biển. Cô nhìn tôi với
một nụ cười nửa vui nửa buồn. Tôi lắp bắp:
“Ơ, em định đến nhờ thầy cắt nghĩa giùm mấy câu khó hiểu
trong bài “Du bist die Ruh” 14 mà…
thôi, thầy đang có khách! Bữa khác em đến cũng được. Chào thầy!”
Vừa nói, tôi vừa hối hả leo lên xe, đạp đi mất, không kịp
nghe giọng ngạc nhiên của thầy Ngữ đuổi theo:
“ÁI Liên, quay lại đây! Khách khứa gì đâu? Tôi ở nhà một
mình mà.”
Hai tai tôi ù đi, không biết vì xúc động mạnh hay vì gió biển
đang thổi thật rát hai bên thái dương. Tôi đạp những vòng xe mải miết, hai mắt
cay xè, cũng không biết là mình đang khóc hay vì hơi muối mặn nồng từ đại dương
bay đến. Mùa hè mới bắt đầu, mà sao tôi thấy như nó vừa kết thúc.
Trần C. Trí
________________________________
