10 September 2026

ƯỚC VỌNG HÒA BÌNH - Nguyễn Thanh Bình

 

Buổi tối, trong nhóm chat gia đình, dì Bé thông báo gọn lỏn: “Cô Chiến Tranh mất rồi!”. Mấy anh chị em, cậu cháu nhắn tin, bày tỏ cảm xúc, cùng nhau chia sẻ hỏi thăm chuyện buồn. Kéo lên phía trên chút là nội dung những dòng tin trước đó về bệnh tình của bà. Bà vẫn cứ ở vậy, sống một thân một mình từ nhỏ cho đến lớn, không chồng không con và vẫn vui vẻ cho đến tận khi qua đời vì sức khỏe, vì già yếu.

Bà Chiến Tranh là chị em cô cậu với ông Ngoại, nên từ nhỏ mẹ tôi cũng như mấy cậu dì đều gọi cô và đối xử khá thân thiết. Tôi hồi còn nhỏ xíu cũng chỉ biết dạ, chào thưa “bà Tám”, lớn lên chút mới biết tên thật của bà là “Chiến Tranh”, một cái tên gợi lên quá nhiều điều, khiến nhiều người không khỏi giật mình…

Tôi thuộc lứa con cháu được sinh ra sau thời chiến. Ngày ấy, cho đến khi biết tên bà là Chiến Tranh thì cũng chỉ thấy ngồ ngộ, hơi là lạ, chứ làm sao hình dung nổi cảm giác của ông cố khi quyết định đặt tên cho cô con gái út của mình là “Chiến Tranh” đâu.

Có lẽ, khi đặt tên cho con mình, mỗi bậc làm cha mẹ đều ít nhiều gửi gắm vào đó những ước vọngnhững tin yêu… Tôi chỉ không hiểu sao ngày ấy, ông cố lại chọn tên “Chiến Tranh” để đặt cho bà, một cái tên mà ắt hẳn tất cả nghe qua, đều sẽ nghĩ ít nhiều đến những cảnh bom rơi đạn lạc, đến cả những mất mát lẫn đau thương… Hay là trong ông, chiến tranh đã để lại những ký ức không thể xóa nhòa? Tôi cũng không tài nào mà biết được.     

Mang tên Chiến Tranh là vậy, chứ bà Tám lại rất hiền, sống thân thiện với họ hàng bên nhà ngoại tôi. Sự kiện nào lớn bên gia đình này, bà Tám cũng thu xếp tham gia đầy chân tình. Tôi vẫn còn nhớ mãi hình ảnh nụ cười hiền hậu với khóe miệng hơi mom móm và cảnh bà Tám lặn lội từ quê nhà theo vô tận Sài Gòn để tham dự lễ cưới, chúc mừng hạnh phúc của chúng tôi ngày đó.

Giờ thì bà đã mất, cái tên Chiến Tranh của bà rồi cũng lùi lại rất lâu về sau, nhưng có lẽ với những người đã trải qua chiến tranh, những người chịu ảnh hưởng từ hậu quả của chiến tranh, thì vẫn còn đó những ký ức sâu đậm của một thời, của một giai đoạn khó thể nào quên…

Để kể lại về ký ức chiến tranh, không ít người sẽ chọn khoe thành tích hào hùng của mình trên chiến trường ngày ấy, có người sẽ khoe những tình cảm bạn bè, tình đồng đội đồng chí còn giữ được cho đến tận hôm nay, cũng có người sẽ khoe khéo những mối tình nam nữ phơn phớt qua hay thật sự đậm sâu trên bước đường hành quân của mình… Song, tôi biết vẫn có không ít những người nuốt lệ, đắng đót từng câu từng chữ khi ghi lại quãng đời của mình trong khoảng thời gian này, kể cả người trực tiếp trở về từ cuộc chiến hay những người sinh sau đẻ muộn như lứa chúng tôi, chỉ có thể lờ mờ cảm nhận được hậu quả của chiến tranh.

Nhưng tôi biết, cho dù bắt đầu câu chuyện chiến tranh với một tâm thế nào, thì tất cả đều vẫn không thể tránh được thực tế hiển nhiên của nó. Nhìn thẳng vào sự việc, nghiêm túc đánh giá nhìn nhận, có chủ kiến… cũng là một trong những cách thể hiện sự trưởng thành của một con người.

***

Gia đình bên ngoại tôi vào mỗi dịp Tết đều cố gắng dành ra một ngày trọn vẹn, định trước. Đó là ngày mà các anh chị em cùng tề tựu đông đủ nhất có thể, nhóm họp hỏi thăm, quan tâm nhau. Bà ngoại tôi mất sớm từ năm 1991, khi ấy bà mới được 59 tuổi. Ông ngoại cũng mất vào 2003, năm ông 73 tuổi. Giờ chỉ còn mấy anh em trong nhà quây quần sinh sống cùng nhau, với những thế hệ cháu con tiếp nối. Mấy anh chị em chia nhau đi lập nghiệp xa hết, chỉ còn cậu thứ Bảy ở gần nhà ngoại, giữ gìn từ đường để đến Tết mấy gia đình lại có chỗ mà về. Cậu Hai trở thành người lớn tuổi nhất trong đại gia đình lúc này. Và cứ mỗi năm một chút, câu chuyện gặp nhau vẫn luôn là nhắc nhớ ông bà ngoại, ôn lại những kỷ niệm của ngày xưa. Ông bà ngoại có tất cả mười người con, song thời chiến tranh, loạn lạc, y tế yếu kém, đã không thể giữ được ba người. Gia đình lúc này chỉ còn lại bảy người. Mẹ tôi là người con thứ ba trong gia đình, sau cậu Hai và một dì nữa cũng đã mất sớm.

Mấy anh em chúng tôi vẫn hay cùng nhau lật lại những tấm hình đã cũ mà nhìn lại mẹ cùng mấy cậu dì đã lớn lên quanh ngoại ngày ấy như thế nào. Những tấm hình đen trắng, đôi chỗ loang lổ úa màu, rạn nứt nhẹ theo thời gian, song phần lớn vẫn giữ được những nét mặt của người được chụp. Cậu Hai sẽ như là một “hướng dẫn viên lịch sử”, người duy nhất còn có thể nhớ những mốc thời gian quan trọng của đại gia đình, vì mấy cậu dì còn lại đều nhỏ xíu, thậm chí có người lúc ấy còn chưa được sinh ra, chưa được có dịp góp mặt trong hình…

Theo những câu hỏi trong nhóm chat gia đình, cậu Hai lại từ từ giải thích: “Hình này má và mấy anh em chụp ở chùa Khải Đoan (Buôn Ma Thuột)”; “em Hải mất ở Dục Mỹ”; “lúc đó 1964, em Bảy chưa ra đời”…

Ai cũng chùng lòng xuống khi nghe cậu nhắc đến những địa danh cũ, ở những chốn xa xưa… “Quang Trung, Đồng Đế, Dục Mỹ hay Lam Sơn” – cái địa danh quân trường ở Khánh Hòa xa lắc ấy giờ cũng không còn nghe đến tên nữa, ngoại trừ trong những bài nhạc vàng về đời lính. Thời ấy chiến tranh tao loạn, ông ngoại đi lính, bà ngoại mới tầm 30 tuổi đã phải nách các con nhỏ theo ông lếch thếch từ chiến trường này cho tới khu nhà binh kia. Cậu Hai, dì, mẹ tôi đã phải lên tuốt Buôn Ma Thuột thuở thiếu thời, dạt về sống ở Dục Mỹ. Rồi cuối cùng đến khi chiến sự chấm dứt hẳn, ngoại mới quay về quê nhà ở Phan Rí mà sinh sống, lập nghiệp bằng một lò gạch nho nhỏ, bà ngoại mở thêm tiệm may. Vậy mà ông bà ngoại lo được cho các con đi học đầy đủ. Thêm những cậu dì nho nhỏ sau đó mới lục tục ra đời…

Sự kiện 30/4/1975 ngày ấy không khác gì một lát dao cắt, lạnh lùng xắn qua chặng đời dài của một dòng họ, một gia đình. Nhát đứt ấy có thể cắt ngang ngọt lịm khiến nửa này nửa kia xa rời cách nhau tới cả hai bán cầu trái đất. Song, cũng có thể là những vết cắt dai dẳng, không lìa được, để lại những di chứng đau khổ dằng dặc đến mấy chục năm sau…

Suốt cả một thời gian khai báo sơ yếu lý lịch, tôi vẫn còn nhớ rõ ở phần hồ sơ luôn được chia ra thành hai mục rõ ràng: “Trước 30/4/1975 làm gì, ở đâu? – Sau 30/4/1975 làm gì, ở đâu?”. Các cô chú cậu dì tôi đều phải khai báo chi tiết những sự kiện trong ấy để có thể được xem xét việc học, xem xét việc làm, thậm chí xem xét đến cả việc hôn nhân…

Cuộc chiến đã lùi xa hơn năm mươi năm, những con người thanh niên phơi phới tuổi trẻ hoặc “vắt mũi chưa sạch” giai đoạn ấy nay đều đã lên chức ông, bà cả. Giờ ngồi nhìn lại nhau, lật lại những tấm hình cũ, lòng không khỏi bùi ngùi xúc động. Qua những câu chuyện được nhắc lại của cậu Hai, của dì… mấy anh em chúng tôi càng thêm thương cảm những lớp người lớn thời ấy. Những người đã vượt qua biết bao nghịch cảnh, sóng gió mà tiếp tục việc học, việc làm, gầy dựng cơ ngơi để lũ con cháu chúng tôi có điều kiện như hôm nay. 

Cuộc chiến đã mang ông ngoại vào đời lính, biến bà ngoại tôi trở thành “người yêu của lính” một cách bất đắc dĩ. Mà, đâu phải chỉ ở một gia đình tôi, dòng họ tôi, mà tình trạng này như phủ khắp chiều dài đất nước. Mỗi gia đình đều dự phần vào cuộc chiến, không ít thì nhiều. Hơn năm mươi năm trôi qua, không chỉ người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, mà cả người ở nhà, người gián tiếp ảnh hưởng, người sinh sau đẻ muộn hẳn đều thấm thía hết những giá trị hòa bình mà cuộc chiến “không thể khác” ấy đã mang lại.

Trong lúc thế giới quay cuồng với những trái bóng ở World Cup 2026, thì ở đâu đó phần còn lại của thế giới người dân vẫn đang rên siết dưới mưa bom, dưới hầm trú ẩn. Một cuộc chiến khơi mào từ đầu năm 2022, vẫn còn âm ỉ dai dẳng cho tới hôm nay và như chưa hề có dấu hiệu kết thúc. Trong quãng thời gian ấy, vẫn không thiếu những cuộc xung đột lớn giữa các quốc gia vốn thù nghịch từ lâu. Chưa kể, những cuộc nội chiến vẫn âm ỉ đâu đó giữa những sự va chạm về quyền lợi, về ý thức hệ, sẵn sàng bùng phát bất cứ lúc nào.

***

Hồi còn học phổ thông, mỗi lần viết bài nghị luận về những tác phẩm văn học của Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ… đến phần cuối bài, tôi vẫn thường tự đặt câu hỏi cho mình: “Trong lúc Việt Nam đang rên siết dưới làn bom đạn chiến tranh thế này thì phần còn lại của thế giới kia đang làm gì? Liệu họ có quan tâm đến không?”. Rồi khi lớn hơn một chút, có điều kiện tra cứu Internet, tôi đã bắt đầu tự trả lời cho mình câu hỏi ấy qua những mốc thời gian lớn trong lịch sử.

Ví dụ, năm 1945, Việt Nam vừa vất vưởng trải qua nạn đói, một tổ chức gọi là Việt Minh vừa thành công trong việc giành độc lập, dựng lên một nhà nước non trẻ thì khi ấy ở nước Mỹ đã hoàn thành công trình Lầu Năm Góc (cơ quan đầu não của Bộ quốc phòng nước này), dân chúng thế giới bắt đầu quan tâm tới “graffiti“, xuất hiện khái niệm “coffee break” (một quãng thời gian nhỏ để nghỉ ngơi, thư giãn giữa sự kiện)…

Ví dụ, năm 1954, khi Việt Nam vừa kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, thế giới vẫn bình thản quay cuồng với những rock and roll, theo dõi dòng phim khoa học viễn tưởng (science-fiction) mới xuất hiện, còn Trung Quốc thì trình làng Thái cực quyền (Tai chi) …

Năm 1968, Việt Nam gọi là “tổng tiến công” Tết Mậu Thân, thì thế giới hào hứng ghi nhận việc phát minh ra nút Alt trên bàn phím, lực lượng đặc nhiệm SWAT mới bắt đầu ra đời, cũng là năm ghi nhận Ngày Martin Luther King lần đầu tiên…

Năm 1972, Việt Nam đang rên siết dưới “mùa hè đỏ lửa”, thì thế giới phát minh đĩa mềm (floppy disk) để lưu trữ dữ liệu, phát minh loạt sản phẩm thân thiện với người dùng (user-friendly), chính thức gọi tên nếp nhăn giữa trán là “worry line“!

Năm 1975, Việt Nam vừa xong hai cuộc chiến tranh lớn, tưởng như toàn cầu đều hay thì lược sử thế giới tóm tắt sự kiện trọn năm 1975 lại không một dòng nhắc đến điều này. Khi ấy, thế giới hồ hởi bởi phát minh ra cây ATM, thẻ ghi nợ, điện thoại di động (mobile phone)… và hàng loạt những điều mới mẻ khác.

Có nghĩa là câu thành ngữ “Đèn nhà ai nấy rạng”, không chỉ đúng trong một xã hội, một đất nước mà hoàn toàn còn có thể mở rộng ở quy mô toàn cầu. Trong một số trường hợp, vấn đề ấy có thể gọi là vang dội, liên quan đến nhóm này, đất nước này, nhưng lại hoàn toàn có thể chẳng liên quan gì đến một quốc gia khác. Cho đến những năm gần đây, rõ ràng là khi đọc tin trên mạng, chúng ta cũng sẽ hờ hững lướt qua những dòng tin chiến sự. Chúng ta vẫn cứ thấy chúng bình thường, rồi dần lọt tỏm trong những loạt tin thể thao, thời trang, mua bán bất động sản khác… trong khi đằng sau những dòng tin ấy là cảnh máu chảy đầu rơi, trường học, bệnh viện bị ném bom… Ví dụ như tin chiến sự ở dải Gaza suốt mấy năm nay hay xung đột nhà nước Israel– Palestine…

Thậm chí, những tin tức về chiến tranh, với những thiệt hại, mất mát, đau thương… mà cũng dễ dàng được cộng đồng mạng hiện nay sử dụng để bơm lên, đồn thổi, ăn theo tạo fake-news, lên theo trend và rồi cũng dễ dàng bị bỏ qua không khác một hot-trend khác trong thế giới mạng vốn đã quá xô bồ.

Nhớ lại tháng 2/2022, Nga phát động cuộc chiến quân sự tấn công vào Ukraine. Thế giới hầu như sôi sục ngay lúc ấy, chia phe phái, ủng hộ có, chống đối có, phân tích bình luận dự báo cuộc chiến các kiểu. Thậm chí đi sâu vào từng nhân vật cụ thể trong cuộc chiến, thần thánh hóa cũng có mà hạ bệ, nguyền rủa cũng có… Nhưng rồi vài tháng sau đó, khi Putin – người đứng đầu chính quyền Nga vẫn còn khư khư giữ nguyên quân lệnh tấn công, người dân Ukraine còn đang rên siết dưới mưa bom, lửa đạn thì thế giới đã quay sang tập trung vào hành trình lên ngôi vô địch FIFA World Cup của Messi và tuyển Argentina trên đất Qatar rồi!

Cho đến cuối năm 2023, khi lực lượng Hamas bất ngờ tấn công khủng bố vào Israel, khiến đất nước này phải huy động quân sự khẩn cấp để tổ chức đánh trả, giải cứu con tin… thì phần còn lại của thế giới vẫn đang vui với những dự án countdown, thậm chí một vài chính trị gia còn dành thời gian lên án sự áp dụng quân sự quá mức cần thiết của nhà nước Israel – nạn nhân ban đầu của cuộc chiến khủng bố phi nghĩa này! 

Trong những câu chuyện về ký ức chiến tranh, dù ở nơi này hay nơi khác thì nỗi buồn vẫn luôn luôn hiện hữu, phúc âm trong mọi sự. Đớn đau thay, nhiều khi nỗi buồn ấy không chỉ đến từ sự đau thương, mất mát hiện hữu, chực chờ đe dọa từng ngày từng giờ của bom đạn nữa, mà còn đến cả từ sự thờ ơ lạnh lùng của chính cộng đồng chung quanh…

Hôm trước, tôi vô tình đọc được một câu trên mạng: “Hòa bình – đó là khi bạn nghe tiếng máy bay và sẽ ngước mắt lên trời chiêm ngưỡng làn khói, chứ không phải vội vã chạy đi kiếm hầm trú ẩn”. Cậu Hai, mẹ tôi và mấy dì, những người từng theo ông bà ngoại sống quanh quân trường Dục Mỹ hẳn sẽ ấn tượng với âm thanh máy bay này lắm. Một thời chạy trốn tiếng bom đạn, giờ lùi sau tất cả, ai rồi cũng mơ về cuộc đời yên lặng, xây đắp cuộc sống ấm no trên một đất nước hòa bình…

Ước vọng hòa bình, đâu phải là câu chuyện to tát của một quốc gia, hay giữa những nhà lãnh đạo, mà điều đó luôn xuất phát từ ước mong bình yên bao đời nay của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi dân tộc…   

Nguyễn Thanh Bình