Lần ấy, sau khi viên quan ba Pháp bỏ mạng trên đường từ Hà Đông về Xuân Mai,
lính Pháp nống ra các vùng phụ cận lùng bắt du kích... Đẩy đám dân chạy loạn
tìm đến nơi nương náu là gò anh chăn vịt. Trong số những người đến tá túc có một
thôn nữ không phải dân địa phương. Cô từ Hưng Yên, do không chịu nổi ông bố dượng
hà khắc, bỏ đi buôn hàng xén rồi phiêu dạt đến vùng này. Cô có khuôn mặt nhẹ
nhõm. Đến khi bọn Pháp tiến ra Đồng Lác rồi về, mọi người đã ai trở về nhà nấy
thì cô dường như không biết đi đâu.
Chiều hôm ấy gã về muộn. Chỉ muốn lăn ngay ra đánh một giấc. Nhưng khi lầm lũi
bước vào lều, thấy cô gái ngồi gục đầu, toàn thân rung lên từng chặp, gã phát bẳn
lên: "Định ăn vạ ai ở đây?". Cô gái ngẩng lên nhìn gã, không có vẻ gì
là sợ, dù giọng run run: "Cháu xin cậu! Cháu chẳng có chỗ nào mà về".
- Cô không sợ tôi à? - Giọng gã đã mềm hơn.
- Cháu cũng chả biết. Cùng đường thì liều thân, cậu không thương... thì cũng
còn hơn chết đường, chết chợ.
- Nếu tuần bắt gặp thì biết ăn nói thế nào?
Gã lấy hết can đảm hỏi cái điều gã vẫn lo sợ. Nào ngờ cô gái như có sẵn lối
thoát cho gã.
- Thì cậu cứ nhận cháu là vợ...
Đêm tân hôn của vợ chồng lão Đình đáng để cả hai cùng đem theo xuống mồ. Lão vụng
về tập làm chồng. Vợ lão, dù đã được các bà mụ dạy, vẫn không giúp gì được lão.
Mãi gần sáng, khi bất ngờ điều ấy xảy ra, tuyệt đối bí hiểm, thì cũng bất ngờ vợ
lão chồm bật dậy, chân tay khua khoắng loạn xạ. Có tiếng quăng mình phần phật của
con rắn nào đó đang hốt hoảng bỏ chạy...
"Bây giờ bà ấy chẳng biết gì nữa" - Lão Đình thở dài như trút ra những
năm tháng vẫn nén chặt trong lồng ngực. Lão chăm chăm nhìn vào mặt vợ như để
tìm lại nét thôn nữ ngày nào. Lão thì thầm: "Chúng ta đã có nhau ngần ấy
năm. Ví thử không có mình làm sao tôi sống nổi. Đã hẹn nhau cùng sống cùng chết
kia mà".
Vợ lão vẫn chìm sâu vào cơn hôn mê. Lão lại lang thang ngược thời gian về với
những kỷ niệm.
Năm sau, lão Đình thôi không chăn vịt nữa. Có được ít vốn, lão đưa vợ về quê
chuộc lại ruộng vườn bị bố lão gán mất vì thua bạc. Em lão, ba đứa chết mất
hai. Mẹ lão vẫn phiêu dạt theo những người nhà quê ra phố làm vú nuôi. Lão bắt
tay gây dựng lại từ đầu. Ngoài làm ruộng, vợ chồng lão đi buôn chuyến. Lão mò
lên tít vùng Kim Bôi, Lạc Thuỷ mua sa nhân về bán cho các lái buôn người Tàu.
Có đêm cả hai vợ chồng lão xuýt bị hổ ăn thịt ở dốc Cun. Khi con hổ chồm chỗm
hiện ra, đuôi quật xuống đất, lão cầm chắc chết cả mười phần, nhưng chả hiểu
sao con hổ nhìn vợ chồng lão ôm nhau thì bỏ đi.
Rồi lão Đình gia nhập đội du kích Cửa Đền, phụ trách một tổ quay trở lại địa
bàn cũ hoạt động bí mật. Hồi này vùng quê lão Pháp đã lập tề nên lão ở dưới hầm
suốt ngày. Mọi tiếp tế đều trông vào vợ lão. Có lần mưa to suốt cả tháng ròng,
nước ngập lênh láng, nhóm du kích của lão phải đội hầm chui lên rút vào ẩn náu ở
cánh đồng Soi Hạ, kiệt sức dần vì đói và rét. Bên ngoài bọn lính Tây và đám tuần
đinh sục sạo suốt ngày đêm. Vậy mà không hiểu bằng cách nào vợ lão vẫn lọt được
qua mắt chúng, lội suốt đêm trong mưa tiếp tế kịp thời cho chồng và anh em
trong đội. Lão nhớ hôm đó lão cứ ôm chặt lấy vợ mà khóc...
Những giọt nước mắt sót lại suốt năm chục năm, tìm đường bò nốt ra khỏi mắt lão
Đình. Có phải vì những khổ cực, cơ hàn ngày ấy mà giờ đây vợ lão thành ra thế
kia. Lão lại thì thầm: "Mình còn chưa nói cho tôi biết bằng cách nào, với
chỉ một con dao cùn mà mình chẻ thành củi hết số cột gỗ lim cháy dở tịch thu của
chánh tổng. Tôi thì ngồi tù trong khi một nách mình hai đứa con dại". Đến
đây thì lão Đình không còn cầm lòng được khóc nấc lên...
Lão an táng vợ trên một gò đất cao ráo nhìn thẳng ra cánh đồng. Những cây bạch
đàn do chính tay vợ chồng lão chăm sóc, quanh năm rì rào như hát ru người dưới mồ.
Lão cảm thấy hài lòng về chỗ yên nghỉ của vợ. Hầu như chiều nào, vào lúc mặt trời
gác núi, lão Đình cũng ra thăm mộ vợ. Lão ngồi hàng giờ đồng hồ ôn lại với vợ
hàng trăm kỷ niệm đã xưa cũ, những kỷ niệm thành cuộc sống của họ. Lão nói bằng
thứ giọng say đắm, tựa như vợ lão vẫn đang vừa khâu vá vừa nghe. Lão thú nhận với
vợ cả những việc làm mà khi bà còn sống lão vẫn giữ bí mật. Chẳng hạn có lần
suýt nữa thì lão phản bội vợ với bà hội trưởng hội phụ nữ goá chồng. Vợ lão biết
nhưng không hé răng trách cứ nửa lời. Lão bảo lão biết ơn bà và thấy xấu hổ nên
tuyệt không dám chàng màng khuất tất nữa. Lão thề độc với vợ rằng chưa xảy ra
"chuyện ấy". "Tôi thề có 6 đứa con... còn nếu bà không tin thì
tôi cũng chẳng biết làm thế nào". Mọi việc vui buồn trong ngày, lão đều
nói với vợ dưới mồ. Chẳng hạn có lần các con lão muốn bố đi du lịch cho khuây
khoả, lão hỏi vợ. "Bà bảo có nên đi không? Sao hồi còn, bà lại không nghĩ
ra nhỉ". Rồi lão nói luôn: "Tôi chả đi".
Những trận mưa đầu mùa bắt đầu trút xuống. Chỉ trong vòng vài hôm mà nước ngập
lênh láng. Nơi bà lão nằm, mặc dù cao hơn mặt ruộng nhưng cũng ngập tủm. Chẳng
còn thấy bất cứ cái gì ngoài nước. Lão Đình gần như phát điên, không ngớt nguyền
rủa trời đất. Nhưng bất chấp lời rủa sả của lão, nước vẫn cứ tuôn xuống. Lão
Đình rũ xuống như lá ngập sâu trong nước. Lão thương vợ lão một mình giữa mênh
mông nước, chết rồi vẫn chưa hết khổ.
Lão thầm trách các con lão, mới có vài tháng mà dường như cuộc sống của mẹ
chúng đã không còn hiện diện hàng ngày. Chúng đã lại lao vào trăm ngàn việc mưu
sinh, đã lại hào hứng với những dự định, đã lại lo gây dựng, cãi cọ, ghen
tuông... Lão cảm thấy có gì đó thật vô tình, bội bạc. Điều đó càng khiến lão
đau buồn, thất vọng và cô độc. Đêm đêm lão nằm nghe tiếng gà gáy eo óc, bồi hồi
tưởng tượng như vợ lão sắp trở dậy, lục cục nấu nướng, trong đó nhất thiết phải
có phích nước sôi già cho lão uống trà sáng. Và những hồi ức lại đưa kỷ niệm hối
hả tìm về, bất chấp cuộc sống cứ náo nức một cách đáng ghét. Lão thù ghét luôn
cả đám con cháu khi chúng ráo hoảnh khuyên lão nên quý trọng những tháng ngày
ít ỏi còn lại. Lão cần gì nữa kia chứ? Một nửa cuộc đời lão đang ở dưới mồ, lão
chả thiết để một nửa vật vờ lâu hơn nữa.
Nỗi tuyệt vọng của lão Đình khiến các con lão buồn phiền. Chúng cảnh giác cắt cử
nhau theo dõi bố, đề phòng lão làm cái việc điên rồ là tự vẫn. Quả là lão đang
nung nấu tìm cách sớm về với vợ. Cuộc sống với lão hoàn toàn lạnh lẽo, ảm đạm,
không còn chút ý nghĩa nào nữa. Lão thèm chết kinh khủng. Lão âm thầm chuẩn bị
cho cái chết đó. Lão chỉ còn băn khoăn xem chọn cách nào để cái chết bớt thê thảm.
Cuối cùng thì lão đã có một kế hoạch cho mình. Lần này thì các con lão có tài
thánh cũng chẳng thể đoán ra.
Một buổi sáng khi chị con cả của lão Đình trở dậy, phát hiện ra có một tờ giấy
gài ở cổng. Lão Đình ngoệch ngoạc viết lại mấy chữ: "Đừng đi tìm bố, vô
ích, vì bố đã quyết. Vĩnh biệt các con!". Chị vội hô hoán các em, phân
công mỗi đứa toả đi một hướng để tìm bố. Chị chỉ hy vọng tìm được xác bố nữa
thôi. Vẫn biết bố đau buồn, tuyệt vọng nhưng chị không nghĩ bố lại cùng quẫn đến
thế. Các tin nhắn cũng được phát đi nhưng chẳng thể lần ra tăm hơi lão Đình. Chỉ
có thể là lão chui xuống mồ với bà Đình mới biến mất nhanh như thế. Một ông già
bảy mươi tuổi, chẳng đem theo chút của nả nào, làm sao tránh khỏi một cái chết
mất xác hoặc chết đường chết chợ ở nơi nào đó.
Càng tìm kiếm họ càng vô vọng.
Thấm thoát đã đến ngày giỗ đầu bà Đình. Những đứa con tụ tập tưởng niệm mẹ, sẽ
cùng ra thăm mộ để xin bà tha thứ về việc để bố mất tích. Bữa cơm tối dọn ra đã
lâu nhưng chẳng ai nuốt được khi cô con gái út cứ ngồi khóc dấm dứt. Trời u ám
bởi những cột mây đen sì đang đùn lên từ phía đông. Không hiểu sao tâm trạng của
những đứa con lão Đình cứ hướng cả về phía chân trời, nơi đang nháng lên từng đợt
ánh sáng, giống như lửa của những đám cháy mô tả ngày tận thế. Hình như với họ,
bố ra đi và mất tích sau những đám cháy ấy.
Dù không ai nói ra, trong họ vẫn le lói một hy vọng vào điều kỳ diệu nào đó. Chị
con cả là người đầu tiên đủ can đảm đi ra cổng, nơi rõ ràng chị và mọi người
nghe thấy tiếng đập rầm rầm.
Dưới ánh sáng đèn, lão Đình hiện ra như viên tướng cướp về già bị đàn em bóc lại
hết sạch. Cũng có thể nghĩ lão vừa chui lên từ những hố đào vàng, ngoại trừ vẻ
mặt sáng lên sự ranh mãnh. Có tới bảy chiếc tay nải được lão đeo lủng lẳng trên
mình kèm theo chiếc hòm có bánh xe kéo ở phía sau. Và lùi lại hơn một chút, nơi
vừa đủ tối để những người phía trong không nhận ra ngay, một bà lão quãng sáu
mươi tuổi đang đứng im chờ đợi.
Không cho các con lão kịp kinh ngạc và thay mọi lời giải thích, lão Đình quay lại,
giọng thản nhiên:
- Đến nhà rồi, mình ạ!