22 October 2026

TRAO MÙA TRAO CHỮ (Kỳ 1) - Pierre Nguyễn

Sáng thứ Năm tháng Chín

KHAI TỪ

Sáng thứ năm tháng chín. Cái sáng có nước da mỏng, cái gió đã bỏ được thói quen mùa hạ. Ngoài hiên, một chiếc lá không vàng hẳn, chỉ hơi xao xác ở mép, như người đàn bà còn son đã biết có một sợi tóc bạc lẫn trong mái tóc. Mùa không đến bằng tiếng kẻng. Mùa đi cũng không xách va li. Nó chỉ đổi chỗ trong ánh sáng, trong vị nước, trong hơi đất, trong tiếng chim gọi muộn hơn một chút ở cuối vườn.

Tôi ngồi trước một chữ. Chữ cũng có mùa của nó.

Có những chữ mới hôm qua còn dùng như một chiếc đũa ăn cơm, hôm nay bỗng nằm đó, lạnh, cũ, như một cái đũa ngà lấy từ hòm gỗ của người xưa. Có những chữ tưởng đã chết trong bụi sách, vậy mà chỉ cần một bàn tay biết nhặt, biết lau, nó sáng lên ngay. Chữ tạ. Chữ từ. Chữ biệt. Chữ ly. Chữ tuyệt. Mỗi chữ một dáng. Chữ đứng nép ở cửa. Chữ bước qua bến. Chữ quay lưng. Chữ cúi đầu. Chữ chặt phăng một sợi dây đã mục. Ngôn ngữ biết đứng, biết đi, biết ngồi lì một chỗ, biết đổi sắc đổi hương muôn hình muôn dạng. Có khi ngôn ngữ cũng trao mùa như sáng nay.

Bởi thế tôi viết khảo ngữ.

Không phải để làm ông thầy đồ đeo kính lão, cầm roi mây, rình bắt lỗi một chữ nói trại ở ngoài chợ. Không phải để dựng những cột mốc biên giới giữa chữ Hán-Việt với tiếng Việt, rồi phát hộ chiếu cho từng chữ trước khi cho nó vào câu văn. Chữ đã đi xa hơn những người làm luật cho chữ. Nó đã qua bao nhiêu cửa ải của lịch sử. Nó đã từ một trang kinh, một bức biểu, một bài phú mà lách vào câu hò, vào tiếng ru, vào miệng người bán nước, vào lá thư yêu viết vội, vào câu chửi thề cũng có khi rất đắt của một người đàn bà mất gánh hàng.

Tôi viết khảo ngữ để tự hỏi một điều rất nhỏ mà không nhỏ. Khi ta nói một chữ, trong chữ ấy có bao nhiêu người đã nói trước ta. Có bao nhiêu mùa mưa nắng đã đi qua. Có bao nhiêu cuộc gặp gỡ, tiễn đưa, bao nhiêu lần một bàn tay đã giơ lên vẫy rồi hạ xuống. Một chữ không phải hòn đá cuội nằm ngoan trong lòng từ điển. Nó có gia phả, có nết, có bạn bè, có những lần thất lạc và những lần đổi tên. Có chữ làm quan ở triều đình, về già mới chịu ra ngồi uống nước ở đầu ngõ. Có chữ từ bến sông đi vào trang sách. Có chữ từ trang sách mới chịu lội về bến sông.

Tôi đã đi qua vài thứ tiếng. Mỗi thứ tiếng có một khí hậu. Tiếng Pháp biết rút dao bằng lưỡi mảnh và sáng. Tiếng Anh có lối đi nhanh của một đoàn tàu không chờ khách muộn. Tiếng Việt thì khác. Tiếng Việt biết nhai chậm một tiếng thương. Biết kéo dài một chữ nhớ. Biết làm cho một tiếng gọi mẹ trở thành cả một mái nhà. Nó cũng biết đùa, biết lắt léo, biết nửa nói nửa giấu, biết đẩy cái đau sang phía một hình ảnh để người nghe còn chịu nổi.

Ta nói tạ từ, từ biệt, giã từ, vĩnh biệt, đoạn tuyệt, từ bỏ. Tưởng chỉ là mấy anh em hàng chữ, ngồi chung một chiếu rượu chia ly. Nhưng nhìn kỹ mới thấy mỗi chữ uống một thứ rượu khác nhau. Tạ từ còn lau miệng chén, còn đáp lễ chủ nhà rồi mới đứng dậy. Cáo biệt chỉnh lại vạt áo trước khi lui. Từ biệt nói lời chia tay trong ánh mắt còn kịp gặp nhau. Giã từ đã bước đi mà tai còn nghe tiếng người gọi phía sau. Vĩnh biệt đặt chén xuống, biết từ đây không còn có dịp nâng lên cùng người cũ. Đoạn tuyệt rút con dao mỏng, cắt phăng mối dây đã trói mình. Từ bỏ có lúc là nỗi thua cuộc, có lúc lại là cái tự do đắt giá nhất một đời người mua được.

Tôi chọn những chữ chia tay không phải để rắc thêm tro lên đời sống. Chia tay là một trong những việc con người phải học từ lúc biết khóc. Đứa trẻ chia tay cái nôi. Người trai chia tay sân trường. Người đàn ông chia tay cha mẹ. Người già chia tay bạn bè, chia tay một căn nhà, chia tay cả tiếng bước chân quen trong đêm. Ai chỉ biết gặp mà không biết biệt thì chưa hiểu hết cuộc đời. Gặp gỡ mở cửa. Chia tay mới biết cánh cửa ấy đã nặng bao nhiêu.

Ngôn ngữ Việt Nam giàu có ở chỗ nó không bắt mọi cuộc mất mát phải mặc cùng một chiếc áo. Một cuộc tiễn người ra ga không giống một lời từ chối. Một cuộc đoạn tuyệt không giống một lần giã từ. Một người chết không giống một tình yêu chết. Mỗi nỗi mất cần một chữ riêng, như mỗi thứ rượu cần một cái chén riêng. Đổ rượu nếp vào ly pha lê kiểu Tây chưa chắc đã làm rượu ngon hơn. Đem chữ vĩnh biệt dùng cho một chuyến đi vài tháng cũng giống như thế. Chữ sẽ vỡ tiếng.

Có người hỏi khảo ngữ để làm gì. Tôi nghĩ khảo ngữ là một cách cầm lại chiếc đèn cũ, soi vào những chữ ta dùng hằng ngày. Soi để thấy trong một chữ tạ có cả ân nghĩa lẫn động tác cáo lui. Soi để biết từ biệt không chỉ nói với người đang đứng trước mặt, bởi tuổi thơ, quê hương, mùa hạ, cuộc đời cũng có thể nhận một lời chào nếu lòng người đủ sức gọi chúng thành người. Soi để biết giã từ không yếu đuối, đoạn tuyệt không phải lúc nào cũng can đảm, từ bỏ không phải lúc nào cũng là thua.

Chữ, khi được hiểu kỹ, không làm câu văn kiêu căng hơn. Nó làm câu văn thật hơn. Người viết biết một chữ đã đi qua những đâu sẽ bớt vung tay ném chữ như ném sỏi xuống ao. Ông sẽ biết lúc nào dùng một chữ xưa cho câu văn có cái bóng của cổ nhân. Biết lúc nào phải bỏ chữ xưa đi để nghe cho rõ nhịp thở của người đang sống. Biết lúc nào nên để hai chữ trái gốc ngồi cạnh nhau, bởi trong tiếng Việt, những cuộc hôn phối đẹp nhất thường không hỏi giấy khai sinh.

Tôi không định mở một lớp dạy chữ. Tôi chỉ muốn đi chậm một quãng qua tiếng Việt. Đi chậm như người sành trà cầm chén trà lên nhìn nước, ngửi hương, rồi mới uống. Trong một chữ nhỏ có thể có cả tiếng mái chèo khua trên sông, cái hắt hiu của một ga xép, mùi giấy dó, chén rượu tiễn hành, tiếng guốc ai đi khuất cuối hành lang. Có chữ nghe qua tưởng đơn sơ, nhưng nếu biết cúi xuống, ta sẽ thấy trong lòng chữ còn một mùa chưa tan.

Sáng thứ năm tháng chín này, mùa trao một ít lạnh cho ngọn gió. Tôi nhận lấy cái lạnh ấy để trao lại mấy chữ. Trao mùa, rồi trao chữ. Mong người đọc, sau mỗi cuộc đi qua một chữ quen, bỗng thấy nó không còn quen như cũ. Nó sâu thêm một chút. Nó có da thịt hơn một chút. Nó biết đứng dậy, biết đi, biết ngoái lại, biết chia tay.

Và biết trao mùa.

TẠ TỪ, TỪ BIỆT, GIÃ TỪ

Một khảo ngữ về lời chia tay trong tiếng Việt

Có những chữ người ta dùng rất nhiều nên tưởng đã hiểu đến tận đáy. Tạm biệt khi ra khỏi một căn phòng. Chia tay khi hai người không còn đi cùng một lối. Giã từ khi khép lại một thời tuổi trẻ. Từ biệt khi rời xa cố nhân. Vĩnh biệt khi đứng trước sự mất mát không còn cứu vãn. Những chữ ấy cùng ở trong một miền mờ của chia lìa, nhưng mỗi chữ đem theo một dáng đi riêng. Có chữ bước lùi trong lễ độ. Có chữ quay lại nhìn. Có chữ khép cửa. Có chữ cắt đứt sợi dây. Có chữ chỉ còn dùng được khi con người đứng bên vực sâu của đời sống và hiểu không còn có ngày trở lại.

Người Việt sống trong một ngôn ngữ đã nhận chữ Hán qua nhiều thế kỷ rồi làm cho chúng đổi giọng, đổi nhịp, đổi thân phận. Nhiều chữ Hán-Việt đi vào lời nói thường ngày, mất bớt áo mũ của Hán văn, rồi trở nên gần gũi như tiếng nói trong nhà. Nhiều tiếng Việt lại đứng cạnh chữ Hán, tạo thành những tổ hợp không ai còn hỏi đâu là biên giới. Vì vậy khảo ngữ không thể chỉ là việc mở từ điển, thấy một chữ Hán rồi đem nghĩa đầu tiên ép lên mọi văn cảnh. Khảo ngữ là lần theo đời sống của chữ. Chữ từ đâu đến. Chữ đã từng mang nghĩa gì. Chữ đã được người Việt dùng ra sao. Và hôm nay khi đặt vào một câu thơ hay một câu nói, chữ ấy còn rung lên theo hướng nào.

Lời chia tay là một miền rất tốt để nhìn thấy đời sống ấy. Chia tay không đơn giản là đi khỏi một địa điểm. Một người rời nhà, rời quê, rời người yêu, rời tuổi thơ, rời một thói quen, rời một niềm tin, rời cả cuộc đời. Mỗi cuộc rời đi cần một cách gọi. Chữ được chọn sẽ cho biết người nói đang đứng ở đâu trong cuộc chia ly. Người ấy còn biết ơn hay đã lạnh lùng. Còn lưu luyến hay đã quyết tuyệt. Là người đi hay người ở lại. Là người từ chối một lời mời hay người chấp nhận sự bất lực của thời gian.

Bởi vậy, giữa tạ từ, cáo biệt, từ biệt, giã từ, tiễn biệt, ly biệt, vĩnh biệt, đoạn tuyệt, khước từ và tạ tuyệt có những đường ranh cần nhận ra. Những đường ranh ấy không phải hàng rào thép. Ngôn ngữ không vận hành như một bộ luật hình sự. Một chữ có thể đổi sắc theo văn cảnh. Một nhà thơ có thể nhân hóa tuổi thơ như một người bạn. Một người yêu có thể nói với mùa hạ như nói với một người tình. Nhưng sự tự do của văn chương không phải là sự lẫn lộn. Càng biết một chữ có những khả năng nào, người viết càng có quyền đẩy nó đến chỗ mới mà không làm nó gãy.

Tạ từ và cái lễ của người sắp đi

Tạ từ là một chữ cổ, ngày nay ít xuất hiện trong khẩu ngữ. Chính sự ít dùng ấy làm nó có vẻ lạ và quý. Khi gặp nó, nhiều người chỉ nghĩ đến tạ ơn rồi hiểu tạ từ là nói lời cảm ơn trước lúc ra về. Hiểu như thế chưa sai, nhưng chưa đủ.

Tạ từ thường viết bằng hai chữ 謝辭. Chữ tạ 謝 trong Hán văn có một đời sống phong phú. Nó chỉ việc đáp lại ân tình, như tạ ơn. Nó chỉ việc nhận lỗi và xin được tha thứ, như tạ lỗi, tạ tội. Nó còn chỉ việc từ chối một điều được đưa đến, như tạ tuyệt. Và nó có thể chỉ động tác cáo lui, rời đi sau một cuộc gặp. Trong nghĩa cổ, tạ không chỉ là biết ơn. Nó là một cử chỉ đáp lại. Đáp lại một ân huệ. Đáp lại một lời mời. Đáp lại một cuộc tiếp đón. Cử chỉ ấy có thể dẫn đến sự lưu lại, cũng có thể dẫn đến sự rút lui.

Chữ từ trong tạ từ là 辭. Đây là chữ từ có nghĩa lời nói, lời biện giải, lời từ giã. Nó khác với chữ từ 詞 chỉ từ ngữ, ca từ, lời văn. Hai chữ cùng âm Hán-Việt, cùng xuất hiện trong nhiều tổ hợp văn chương, nên rất dễ lẫn. Nhưng trong tạ từ, điều quan trọng là lời nói ở phút lui bước. Người ta không lẳng lặng bỏ đi. Người ta dùng lời để trả lại cho cuộc gặp một hình thức hoàn tất.

Tạ từ vì thế không phải một tiếng chào rỗng. Nó có cái lễ. Một người đến thăm nhà, nhận chén trà, nghe chuyện, được tiếp đãi, đến lúc ra về thì tạ từ chủ nhà. Chữ ấy gợi hình ảnh người khách đứng lên, không quên ân tình, cúi đầu đáp lễ, rồi đi. Nếu chỉ nói rời đi, ta mới kể được sự vận động của thân xác. Tạ từ cho thấy vận động của quan hệ. Người ấy rời nhà người khác nhưng không coi cuộc gặp như chưa từng có. Người ấy để lại một lời đáp.

Trong văn cổ, thư từ, hồi ký, truyện chương hồi hoặc một cảnh có nghi thức, tạ từ rất đắc địa. Nó hợp với một nếp sống coi trọng lễ. Nó cũng hợp với một giọng văn muốn làm cho sự ra đi có dáng vẻ chừng mực. Không có trong đó sự đau đớn vỡ bờ của vĩnh biệt. Không nhất thiết có sự day dứt của giã từ. Nó là một cuộc lui bước biết ơn và có khuôn phép.

Tạ từ cần được tách ra khỏi tạ tuyệt. Tạ tuyệt viết 謝絕. Chữ tuyệt 絕 là dứt hẳn. Tạ tuyệt là lịch sự từ chối. Người ta tạ tuyệt một lời mời dự tiệc. Người ta tạ tuyệt một đề nghị giúp đỡ. Người ta tạ tuyệt việc tiếp tục giao du. Trong tạ tuyệt, điểm chính nằm ở hành vi không nhận. Một cánh cửa chưa mở đã được khép lại bằng sự nhã nhặn. Trong tạ từ, điểm chính nằm ở việc cuộc gặp đã đi đến lúc kết thúc. Một người đã bước vào nhà, đã dự phần trong cuộc chuyện trò, sau đó đáp lễ rồi ra đi.

Sự khác nhau ấy cho thấy một chữ chỉ thực sự có nghĩa khi đứng trong cả một tổ hợp. Tạ ơn là đáp lại ân nghĩa. Tạ lỗi là nhận phần lỗi về mình. Tạ tội là xin tha tội trước một quyền lực. Tạ tuyệt là từ chối. Tạ từ là đáp lễ để chia tay. Cùng một chữ tạ mà mỗi lần ghép với một chữ khác, cả cảnh huống đổi theo. Tách chữ tạ ra rồi khẳng định nó chỉ có nghĩa cảm ơn, hay chỉ có nghĩa từ chối, đều làm nghèo một chữ đã sống lâu trong Hán văn và tiếng Việt.

Cáo biệt và tư thế nghiêng mình

Nếu tạ từ là đáp lễ rồi lui, cáo biệt là thưa để biệt. Cáo biệt viết 告別. Chữ cáo 告 là báo cho biết, thưa trình, bẩm báo. Trong xã hội có tôn ti, cáo là lời của người dưới với người trên, của khách với chủ, của người ra đi với nơi đã đón nhận mình. Ta còn nghe cáo từ, cáo lui, cáo quan, cáo bệnh. Mỗi chữ đều có một cử chỉ tinh thần. Người nói không chỉ thông báo một sự việc. Người nói đặt sự việc ấy trước người khác bằng một giọng có lễ.

Khách cáo biệt gia chủ. Học trò cáo biệt thầy. Viên quan cáo biệt triều đình. Người đi xa cáo biệt quê nhà. Những ví dụấy cho thấy cáo biệt thường hợp với không khí nghi thức. Nó có thể buồn, có thể tha thiết, nhưng nỗi buồn được giữtrong khuôn phép. Người nói không đòi hỏi được níu lại. Người nói nhận ra cuộc gặp có một điểm kết thúc và tự đặt mình đúng vào vị trí phải lui.

Cáo biệt cũng có thể dùng với người thân hoặc nơi chốn. Không có một luật nào cấm nó. Nhưng khi đi với một đối tượng rất gần gũi, chữ cáo làm câu văn bớt riêng tư, tăng độ trang trọng. Một người viết “cáo biệt mẹ già” có thể gợi một cảnh cổ điển hơn “từ biệt mẹ già”. Cảnh ấy có dáng của kẻ lữ hành trước giờ lên đường, có chút bi tráng, có chút nghi thức của một đời xưa. Trái lại, “chia tay mẹ” là tiếng nói gần gũi của đời thường. Cùng một cuộc đi, ba chữ chọn khác nhau đã dựng nên ba không khí khác nhau.

Điều cần giữ ở đây không phải là một thang cấp cứng nhắc. Có người từng muốn xếp cáo biệt thấp hơn từ biệt, hoặc bảo cáo biệt chỉ là xã giao còn từ biệt mới có tình cảm. Cách xếp ấy không giúp ích nhiều. Một chữ đi vào văn cảnh sẽmang theo tình cảm của người nói. Cáo biệt trong một bức thư có thể chỉ là công thức lễ độ. Cáo biệt trong một bài thơcó thể là tiếng nói của người biết mình đi rất xa. Chữ không tự mang toàn bộ tình cảm. Chữ mở ra một tư thế, rồi văn cảnh làm tư thế ấy đầy lên.

Từ biệt và quyền nhân hóa của tiếng Việt

Từ biệt viết 辭別. Từ là lời từ giã. Biệt là chia xa. Từ biệt theo nghĩa căn bản là nói lời chia tay. Nhưng chính vì nó là lời nói, nó có khả năng hướng đến rất nhiều đối tượng. Ta từ biệt cha mẹ, bạn bè, cố nhân. Ta từ biệt một thành phố, một mái trường, một mùa hè, một dòng sông, một thời tuổi trẻ. Ta từ biệt cuộc đời. Không có lý do gì bắt buộc đối tượng phải là một người đang đứng trước mặt để nghe lời ấy.

Một lối lý luận khô khan từng cho rằng tuổi thơ không có tri giác nên không thể là đối tượng của từ biệt. Lý luận ấy quên mất bản chất của ngôn ngữ. Ta gọi quê hương là mẹ. Ta trách thời gian tàn nhẫn. Ta hỏi dòng sông có còn nhớ. Ta nói chuyện với căn nhà cũ, với cái bóng của mình, với một người đã chết từ lâu. Đó không phải là lỗi ngữ pháp. Đó là năng lực nhân hóa đã có từ buổi đầu của thơ ca.

“Từ biệt tuổi thơ” vì vậy hoàn toàn đúng. Câu ấy có vẻ trang trọng và tự ý thức. Nó gợi một người đứng trước cánh cửa của tuổi nhỏ, nhìn thấy mình không thể bước ngược vào. Chữ từ biệt ở đây không chỉ báo sự trưởng thành tự nhiên. Nó nói đến một hành vi tinh thần. Người lớn lên tự nói với phần đời cũ của mình một lời chia tay.

“Giã từ tuổi thơ” cũng hoàn toàn đúng. Nhưng nhịp khác. Giã từ mềm hơn, có nhiều hồi âm hơn. Nó gợi một bước chân vừa đi vừa ngoái. Nếu từ biệt tuổi thơ là một câu có đường nét rõ, giã từ tuổi thơ là một câu có bóng mờ. Một bên nghiêng về sự khép lại trong ý thức. Một bên nghiêng về sự lưu luyến trong ký ức. Khác nhau ở giọng, không phải ở luật cấm.

Cũng nên nói như vậy về từ biệt cố nhân và giã từ cố nhân. Từ biệt cố nhân có vẻ cổ điển. Nó dễ gợi hai người đối diện nhau bên bến nước, ở cửa thành, trên một con đường sắp chia ngả. Giã từ cố nhân thiên về tiếng nói nội tâm hơn. Người viết có thể đã không còn gặp cố nhân. Cố nhân có thể chỉ còn trong trí nhớ. Giã từ lúc ấy là cách người sống tự khép một chương của lòng mình. Cả hai cụm đều tự nhiên. Không có sự lạc điệu chỉ vì một chữ nghe gần đời thường đứng bên cạnh một danh từ Hán-Việt.

Tiếng Việt đã làm điều đó rất lâu. Nó ghép chữ Hán với tiếng Việt, ghép từ cổ với khẩu ngữ, ghép câu Kiều với lời ăn tiếng nói. Chính sự pha trộn ấy tạo nên độ giàu của tiếng Việt. Ai đòi mọi tổ hợp phải cùng gốc gác mới hài hòa sẽ làm ngôn ngữ nghèo đi. Điều làm một câu hay không phải lý lịch của từng chữ. Điều làm câu hay là nhịp, cảnh, ý và mức độ chính xác của cảm xúc.

Giã từ và sự trở về của hồi ức

Giã từ và từ giã là hai tổ hợp đã ở rất sâu trong cảm thức Việt Nam hiện đại. Chúng đi qua thơ, ca khúc, văn xuôi, điện ảnh. Giã từ dĩ vãng. Giã từ vũ khí. Giã từ mùa hạ. Từ giã cõi đời. Chỉ cần nghe những cụm ấy, người đọc đã thấy một cuộc rời đi không còn là động tác đơn thuần. Nó đã thành một tiếng vọng.

Có người dễ gọi giã là thuần Việt chỉ vì nó nghe mềm và gần. Với khảo ngữ nghiêm túc, không nên kết luận quá nhanh về lai lịch sâu xa của một yếu tố chỉ bằng trực giác. Muốn truy từ nguyên phải dựa vào tư liệu ngữ âm, văn bản cổ và sựđối chiếu thận trọng. Nhưng có một điều không cần do dự. Trong đời sống tiếng Việt, giã từ đã được Việt hóa trọn vẹn. Nó không đứng ngoài lời nói của người Việt như một cổ vật Hán văn. Nó sống trong tâm tình Việt, trong nhịp Việt, trong cách người Việt gọi tên những điều không thể giữ.

Giã từ tuổi thơ là một cụm từ quen thuộc vì tuổi thơ không nằm ở phía sau như một chiếc ghế bị bỏ lại. Nó tiếp tục ở trong mỗi người, dù người ấy không còn có quyền trở lại. Người ta lớn lên bằng cách mất dần những quyền tưởng rất nhỏ. Không còn chạy chân trần qua sân. Không còn tin mọi lời người lớn. Không còn thấy một buổi trưa dài vô tận. Giã từ tuổi thơ là thừa nhận sự mất ấy, nhưng không phủ nhận phần tuổi thơ còn sống trong mình.

Giã từ vũ khí lại thuộc một thế giới khác. Vũ khí là vật cụ thể, nhưng trong một nhan đề hay trong một câu văn lớn, nó có thể trở thành biểu tượng của chiến tranh, của bạo lực, của cả một thời đại buộc con người phải cầm lấy súng. Giã từ vũ khí không chỉ là đặt súng xuống. Nó là khước từ một trật tự đã biến vũ khí thành số phận. Một tổ hợp từ đôi khi lớn lên vượt khỏi nghĩa đen như thế.

Từ giã cõi đời là cách nói về cái chết. Nó không dùng chữ chết, nhưng không hề làm cái chết biến mất. Nó chỉ đổi điểm nhìn. Nếu vĩnh biệt thường là lời người ở lại nói với người đã mất, từ giã cõi đời thường đặt sự chú ý vào người rời thế gian. Một người từ giã cõi đời. Một người đã đi khỏi cõi người. Trong câu ấy có sự chấp nhận một hành trình đã đến điểm tận cùng.

Giã từ có thể đi với người, nơi chốn, đồ vật, lý tưởng, thói quen, tuổi tác, tình yêu. Ta giã từ người yêu. Ta giã từ thành phố cũ. Ta giã từ những đêm mất ngủ. Ta giã từ một cái tên. Ta giã từ một căn bệnh trong ước vọng. Sự kết hợp rộng ấy cho thấy giã từ là một động từ có khả năng chạm đến nhiều tầng của đời sống. Nó thường mang độ dịu. Nhưng dịu không có nghĩa yếu. Có những cuộc giã từ rất can đảm. Người ta giã từ một tình yêu vì biết giữ lại chỉ làm cả hai đau thêm. Người ta giã từ một ảo tưởng để đi vào sự thật. Người ta giã từ một đời sống quen thuộc để còn giữ được mình.

Tiễn biệt và con mắt của người ở lại

Mọi cuộc chia tay có ít nhất hai phía. Có người bước đi. Có người đứng lại. Từ biệt, cáo biệt, giã từ thường nghiêng về người đi. Tiễn biệt nghiêng về người ở lại.

Tiễn biệt thường liên hệ với chữ 餞別. Nghĩa cổ của tiễn có bóng dáng một cuộc tiệc đưa người lên đường. Xưa kia, tiễn hành không chỉ là một cái vẫy tay ở cổng. Có chén rượu. Có thơ. Có lời chúc. Có quãng đường tiễn nhau qua bến, qua cầu, ra khỏi thành. Ly rượu không xóa nỗi buồn. Nó cho nỗi buồn một hình thức. Người ta uống để dằn lòng, để lời không nói được có chỗ trú.

Trong tiếng Việt hiện đại, tiễn biệt đã rộng hơn nghĩa tiệc tiễn. Ta tiễn biệt một người bạn đi xa. Ta tiễn biệt một đồng đội. Ta tiễn biệt người thân trong tang lễ. Không cần có rượu, không cần có một đoàn người đi theo. Điều còn lại là sự hiện diện của người ở lại. Người ở lại nhìn người kia rời xa. Có khi đưa tiễn bằng bước chân. Có khi chỉ bằng một cái nhìn. Có khi chỉ bằng im lặng.

Tiễn chân cụ thể hơn. Nó gợi đôi chân thật đi cùng đôi chân thật, ít nhất là đến đầu ngõ hay đến cổng nhà. Tiễn đưa bao quát hơn. Nó có thể dùng trong nhiều cảnh. Tiễn biệt trầm hơn và trang trọng hơn. Khi một người con tiễn biệt cha, câu ấy đã mang cả thời gian chung sống, cả một phần đời không thể nói hết. Khi người con nói vĩnh biệt cha, câu ấy chạm đến sự không còn gặp lại. Tiễn biệt và vĩnh biệt không trùng nhau. Một chữ nói về cử chỉ của người ở lại. Một chữ nói về tính chung cuộc của cuộc chia ly.

Ta ít nói tiễn biệt tuổi thơ theo nghĩa thông thường. Không phải vì ngữ pháp cấm. Chỉ vì trong lối hiểu quen thuộc, tuổi thơ không phải một người lên đường để ta đứng lại đưa tiễn. Ta thường giã từ tuổi thơ hoặc từ biệt tuổi thơ. Nhưng thơ có quyền đảo vai. Một câu như “tuổi thơ tiễn biệt tôi” vẫn có thể đẹp nếu toàn bài tạo được một thế giới nơi tuổi thơ có mắt, có bàn tay, có khả năng đứng bên hiên nhìn người lớn rời đi. Ngôn ngữ không đóng cửa với thơ. Chỉ cần người viết có đủ sức làm cho sự nhân hóa ấy thuyết phục.

Ly biệt, biệt ly và những năm tháng bị chia cắt

Từ biệt là hành vi nói lời chia tay. Ly biệt và biệt ly thiên về tình trạng bị chia xa. Chính sự khác nhau ấy làm hai chữ có một sức nặng khác.

Ly biệt viết 離別. Ly là rời xa. Biệt là chia tách. Ly biệt thường mang âm hưởng cổ điển. Nó gợi cảnh chinh phu rời nhà, người vợ ở lại, kẻ sĩ lên đường, người thân cách biệt vì công danh, chiến tranh hoặc thời thế. Trong ly biệt, cái đau không chỉ ở phút ra đi. Cái đau nằm trong thời gian chưa biết bao giờ dừng. Người ta không chỉ nói lời từ biệt trong một buổi sớm. Người ta sống trong cảnh ly biệt qua những mùa mưa nắng tiếp theo.

Biệt ly viết 別離. Trật tự hai chữ đảo lại nhưng cả hai cùng chỉ sự chia xa. Trong tiếng Việt hiện đại, biệt ly thường đi vào thơ và ca khúc với màu buồn riêng tư hơn. Một cuộc biệt ly của hai người yêu có thể không cần đến chiến tranh hay lịch sử. Chỉ cần họ không còn có thể đi chung một đường. Biệt ly có thể nhỏ như một chuyến tàu. Cũng có thể lớn như một đời người.

Phân ly viết 分離 nhấn mạnh việc tách rời. Nó dùng được trong đời sống tình cảm, trong gia đình, nhưng cũng dùng trong kỹ thuật và khoa học. Vì thế phân ly có độ lạnh hơn. Một gia đình vì biến cố mà phân ly. Một cuộc hôn nhân dẫn đến phân ly. Trong hóa học, các thành phần bị phân ly. Chữ ấy mô tả rõ sự tách ra, nhưng ít mang chất thơ hơn ly biệt. Khi muốn nói số phận, người viết thường tìm đến ly biệt. Khi muốn nói cơ chế hay tình trạng, người viết có thể dùng phân ly.

Phân biệt là một trường hợp khác. Trong Hán văn cổ, 分別 từng có thể mang nghĩa chia tay, mỗi người một ngả. Nhưng trong tiếng Việt hiện đại, nghĩa chủ yếu đã chuyển sang nhận ra sự khác nhau hoặc đối xử khác nhau. Ta phân biệt thật giả, phân biệt màu sắc, phân biệt đối xử. Nếu đem phân biệt vào một câu hiện đại với ý chia ly mà không có văn cảnh cổ, người đọc rất dễ hiểu lầm. Chữ ấy vẫn có giá trị trong khảo cứu hay bản dịch cổ, nhưng không còn là lựa chọn tự nhiên cho một bài thơ hay một câu văn hiện đại về chia tay.

Phân kỳ lại không thuộc miền này. Phân kỳ chỉ việc chia thành từng kỳ, từng giai đoạn, hoặc trong một vài lĩnh vực chỉ hiện tượng tách hướng. Nó gần phân ly ở âm phân nhưng không đi vào nghĩa biệt ly. Đây là một nhắc nhở nhỏ. Những chữ cùng một âm đầu không tự nhiên thuộc cùng một gia đình nghĩa.

Vĩnh biệt và cánh cửa không mở lại

Vĩnh biệt viết 永別. Vĩnh là mãi mãi. Biệt là chia xa. Vĩnh biệt là lời chia tay không còn có ngày tái ngộ. Vì độ tuyệt đối ấy, chữ này gắn gần nhất với cái chết. Nhưng không nên giới hạn nó chỉ trong tang lễ. Một người rời quê hương và biết suốt đời không thể quay về có thể nói vĩnh biệt. Hai người đã cắt đứt hoàn toàn và hiểu kiếp này không gặp lại có thể nói vĩnh biệt. Trong văn chương, vĩnh biệt xuất hiện ở mọi nơi mà con đường trở lại đã bị lịch sử, số phận hay chính ý chí con người đóng kín.

Tuy vậy, vĩnh biệt không nên dùng bừa. Một cuộc chia tay ngắn hạn không cần đến nó. Người đi công tác vài tháng mà nói vĩnh biệt thì câu nói đã trở thành cường điệu hoặc đùa cợt. Vĩnh biệt chỉ có sức mạnh khi người nói hiểu sức nặng của chữ vĩnh. Nó dựng một bức tường thời gian. Sau bức tường ấy, kỷ niệm vẫn còn nhưng cuộc gặp không còn.

Có những cách nói làm dịu cái chết. Khuất bóng. Khuất núi. Đi xa. Về với tổ tiên. Từ giã cõi đời. Những cách nói ấy dùng hình ảnh để người sống có thể đi gần đến điều đau đớn mà không chạm thẳng vào nó. Vĩnh biệt thì khác. Nó không che. Nó là một lời nghi thức trước điều không thể đảo ngược. Xã hội cần những chữ nghi thức như thế để con người có chỗ đứng khi mọi lời thông thường đều bất lực.

(còn nữa)
Pierre Nguyễn