Thời
Đệ nhị thế chiến
Thế chiến
Thứ hai bùng nổ năm 1939, Hoa kỳ trung lập đứng ngoài cuộc giao tranh mà họ cho
là không liên hệ, đây gọi là chủ trương biệt lập Isolationism.
Mặc dù
đứng ngoài vòng chiến để được yên thân nhưng vẫn bị giáng một đòn nặng sáng
ngày 7-12-1941 khi hạm đội lớn của Nhật tấn công Trân Châu Cảng, căn cứ Hải
quân Mỹ tại Hawaii. Khi bắt đầu cuộc Thế chiến, nước Nhật có 10 hàng không mẫu
hạm được coi là lớn và tối tân nhất thời đó. Trận đánh đã gây kinh hoàng cho cả
nước Mỹ, gây thiệt hại nặng, khoàng 20 tầu chiến bị chìm hoặc hư hại, 188 máy
bay bị hủy hoại 2,400 thủy thủ, phi công bị giết.
Hôm sau
Mỹ tuyên chiến với Nhật và hai ngày sau 11-7 Đức, Ý cũng tuyên chiến với Mỹ, dù
muốn dù không Hoa Kỳ phải từ bỏ biệt lập sang tham chiến, một cuộc chiến đẫm
máu nhất từ xưa đến nay. Theo hồi ký của Đại tướng Eisenhower, cựu Tư lệnh quân
đội đồng minh tại Âu châu, khi cuộc chiến bắt đầu, phe trục Đức -Ý -Nhật mạnh
hơn đồng minh. Ông cũng cho biết Mỹ Anh đã thỏa thuận giải quyết chiến trường
Âu châu trước vì Đức Quốc Xã nguy hiểm hơn Nhật và vì sợ chúng chế tạo vũ khí
giết người hàng loạt (1). Mỹ đưa 80% lực lượng sang Âu châu chỉ để lại
20% tại Thái Bình Dương. Đưa quân sang Âu châu không phải để giải phóng cho các
nước Pháp, Bỉ, Hòa Lan.. như người Mỹ thường kể mà chỉ là để tự vệ cho chính
họ, để ngăn ngừa hậu họa.
Năm 1942
đồng minh bắt đầu thắng thế, Nhật thua to tại trận thủy chiến Midway, Đức Ý
thua hai trận lớn tại Bắc Phi và Stalingrad. Năm 1944 Đức Quốc Xã thất bại trên
khắp các mặt trận miền đông, tháng 6-1944 đồng minh Anh-Mỹ đổ bộ vào Normandie,
tháng 2 năm sau đã vào tới miền tây nước Đức,
Từ ngày 4
tới 11-2-1945, khi chiến tranh Âu châu gần kết thúc Roosevelt, Staline,
Churchill họp nhau tại Yalta để bàn về tổ chức lại Âu châu thời hậu chiến. Thực
ra chỉ là để chia chác ảnh hưởng với nhau vì thế tác giả Arthur Conte năm 1974
đã viết cuốn sách về hội nghị này “Yalta Ou Le Partage Du monde”, Hội Nghị
Yalta Hay Sự Chia Phần Thế Giới
Tháng
4-1945 đồng minh đã tiến tới biên giới Tiệp Khắc nhưng phải dừng lại vì xứ này
đã được nhường cho Nga, chương cuối của bộ Lịch Sử Thế Chiến Thứ Hai (2)
có nói về sự bất đồng ý kiến giữa Anh và Mỹ. Người Anh đề nghị tiến chiếm Đông
Âu không nhường Nga và đặt họ trước sự đã rồi nhưng Mỹ không chấp nhận, người
Anh nhận định Mỹ ngây thơ và nhát.
Mặt trận
châu Âu kết thúc, Mỹ nhường Đông Âu cho Nga để nhờ họ phụ giúp đánh quân Nhật
tại Á châu vì lực lượng địch còn khoảng bốn, năm triệu, trù tính đánh từ một
năm rưỡi tới hai năm mới xong.
Năm 1957
C.V Gheorghiu (3) nhà văn nổi tiếng Lỗ Ma Ni viết Les Sacrifies du
Danube, Những Kẻ Hy Sinh Vùng sông Danube, truyện dài trên 100 trang thể hiện
nỗi uất hận của những nước Đông Âu trong vùng Danube: Hung Gia Lợi, Nam Tư, Lỗ
Ma Ni, Tiệp Khắc, Bảo Gia Lợi … đã bị Tây Phương, Hoa Kỳ nhường cho Xô Viết năm
1945. Tác giả nói để cứu nền văn minh Tây Âu, Mỹ đã nhường Đông Âu cho Sô viết
khiến cho trên 150 triệu người đã bị tan gia bại sản, trở thành nô lệ cho Cộng
Sãn Xô viết.
Truyện
sẩy ra tại Bảo Gia Lợi thể hiện nỗi ám ảnh kinh hoàng của người Đông Âu: Một
người chạy trốn Cộng Sản sang phần đất tự do bị trúng đạn của lính biên phòng,
hai người nhân đạo cứu anh đem về nhà băng bó vết thương. Một người ứa nước mắt
bảo vết thương đã có dòi, người kia đề nghị đi tìm bác sĩ hoặc đưa nạn nhân đi
nhà thương nhưng anh này gạt đi bảo: “Nếu tìm bác sĩ thì rồi bọn công an CS
cũng sẽ biết, sẽ tìm đến đây, người nạn nhân này sợ công an còn hơn dòi bọ,
chẳng thà để hắn chết vì dòi bọ còn hơn để hắn sa vào tay bọn mật vụ CS”
Trước Thế
chiến thứ hai chỉ một mình nước Nga theo Cộng Sản, Staline chủ trương tiến lên
chủ nghĩa xã hội trong phạm vi đất nước trái với Trosky , Đệ tứ quốc tế muốn
tiến lên vô sản hóa toàn thế giới. Thế chiến Thứ hai chấm dứt là cơ hội bằng
vàng cho Staline bành trướng thế lực bằng họng súng mà chẳng cần thực hiện cách
mạng vô sản theo đường lối cổ điển Mác Lê. Người Mỹ đã vô tình mở đường cho Xô
Viết đi làm “nghĩa vụ quốc tế”. Các nước tư bản dân chủ tự do Đông Âu đã cùng
Tây phương chiến đấu chống phát xít Đức đến khi chiến thắng đã bị Hoa Kỳ tàn
nhẫn bán đứng cho Xô viết làm nô lệ.
Sau 1945
Xô Viết tiến chiếm các nước Đông Âu, cướp bóc, vơ vét quí kim, vàng bạc trong
ngân khố các nước nạn nhân, dựng lên các chính quyền CS chư hầu và tiếp tục
bành trướng tại Á châu. Đại tướng Eisenhower nói trong hồi ký: năm 1939 quân sự
của Hoa Kỳ rất xoàng, lục quân còn thua cả Ba Lan nhưng sau Thế chiến đã trở
thành cường quốc mạnh nhất hoàn cầu. Năm 1939 Lục quân Mỹ chỉ có 170,000 người
nhưng năm 1945 Lục quân Mỹ thành 6 triệu. Măm 1939 Mỹ chỉ có khoảng 2500 máy
bay và 760 tầu chiến nhưng năm 1945 họ có khoảng 80,000 máy bay và 2,500 tầu
chiến (4)
Cuộc
nội chiến Trung Hoa
Các hạm
đội Mỹ, Anh từ Âu châu chuyển về Thái Bình Dương để kết thúc mặt trận châu Á,
Sô viết cũng chuyển quân bằng đường bộ từ Tây sang Đông như đã thỏa thuận tại
Yalta. Ngày 6 và 9 tháng 8-1945 Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố lớn ở
Nhật, ngay sau đó một triệu rưỡi quân Nga tấn công lộ quân Quân Đông Nhật tại
Mãn Châu. Sự thực Xô Viết chỉ nhẩy vào ăn có sau khi Mỹ đã ném bom nguyên tử,
khoảng một triệu quân Nhật đầu hàng. Người Nga lấy kho vũ khí to lớn của Nhật
kể cả xe tăng thiết giáp giao cho Mao Trạch Đông, thật là giáo vào tay giặc.
Nga cũng tháo gỡ hết các nhà máy tại đây đem về nước.
Năm 1946
Tổng thống Truman cử Tướng George Marshall sang Tầu ngăn cản một cuộc chiến tranh
Mao – Tưởng hy vọng họ lập chính phủ liên hiệp sống chung hòa bình. Người Mỹ
vẫn lạc quan ngây thơ không hay biết gì về âm mưu thâm độc của Staline, ông ta
đã lừa gạt họ từ đầu chí cuối. Mao vận động Nga yêu cầu Anh, Mỹ bắt ép Tưởng
Giới Thạch ký đàm phán (5). Sau hơn một tháng thảo luận từ cuối tháng
8-1945 tới 10-10-1945 hai bên ký hòa ước tháng 1-1946 nhưng chỉ được 6 tháng
cuộc nội chiến bùng nổ. thời gian này CS Tầu chỉ khiểm soát 1/4 đất đai và 1/3
dân số.
Tưởng
Giới Thạch đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân từ miền nam lên Mãn Châu, họ được Mỹ
giup về không vận, đây là nơi thử thách đầu tiên của cuộc chiến tranh Quốc –
Cộng. Tưởng thắng được những tháng đầu rồi dần dần mất ưu thế, năm 1948 đánh
dấu khúc quành cuộc chiến. Quốc Dân Đảng chia rẽ lại cách xa căn cứ tiếp liệu
tại miền trung nước Tầu, cuối cùng đất đai bị Cộng quân chiếm. Mao vừa khủng bố
và dụ dỗ người dân để đưa họ ra trận tuyến gian khổ. Quốc dân đảng cũng mất
lòng dân vì dùng bạo lực nên họ đã bỏ theo CS (6). Mãn châu là khởi đầu
cuộc chinh phục nước Tầu của Mao Trạch Đông, Quốc dân Đảng (QDĐ) mất hơn triệu
quân tại đây và bắt đầu thất thế.
Tháng
3-1947 Quốc Dân Đảng chiếm Diên An đến năm 1948 Cộng quân lại tái chiếm, từ 12-
9 tới 12-11-1948 diễn ra những trận đánh lớn, Quốc Dân Đảng ở thế thủ, dần dân
xa cách Mỹ, Cộng quân chiếm được nhiều thành phố lớn Hoa Bắc như Thẩm Dương và
Trường Xuân, họ chiếm Mãn châu hoàn toàn. Mao tiêu diệt được 144 sư đoàn thiện
chiến của Quốc Dân Đảng. Cuối năm 1948, đầu 1949 bà Tống Mỹ Linh phu nhân Tưởng
Giới Thạch sang Mỹ xin viện trợ nhưng không được họ đáp ứng. Tháng 9-1948 Cộng
quân chiếm tỉnh Sơn Đông, tháng 4-1949 Cộng quân vượt sông Dương Tử chiếm Nam
Kinh Thủ đô Quốc Dân Đảng Trung Hoa, họ tiến về Hoa Nam.
Ngày 1
tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung
Hoa, thủ đô là Bắc Bình, nay đổi là Bắc Kinh. Cuối năm 1949 Tưởng Giới Thạch và
khoảng 2 triệu người thuộc phe Quốc Dân Đảng chạy khỏi Đại lục tới đảo Đài
Loan.
Dư luận
Mỹ chỉ trích, lên án Tổng thống Truman đã để mất Trung Hoa vào tay Cộng Sản.
Thượng nghị sĩ Joe McCarthy cho rằng việc ngăn chận CS Tầu cần phải viện trợ
nhiều hơn và có lẽ phải dùng cả không lực. Người ta bắt đầu hỏi ai đã làm mất
Trung Hoa? tỷ lệ ủng hộ Truman từ 70% xuống còn 35%. Bộ trưởng ngoại giao của
Truman bị coi là thằng hèn, Tướng George Marshall, bộ trưởng ngoại giao tiền
nhiệm bị coi là tên phản bội.
Thượng
nghị sĩ Cộng Hòa Peter Beinart nói nhiều thập niên sau, Lyndon Johnson hồi đó
là Thượng nghị sĩ Texas cho rằng Truman đã không tròn trách nhiệm để mất Trung
Hoa, khi Johnson lên làm Tổng thống (1964) ông đã cố không đi vào vết xe đổ của
quá khứ.
Nhiều
người Mỹ cho rằng cuộc Cách mạng Trung Hoa chỉ là sự nối dài quyền lực của Sô
Viết. Dean Rusk (phụ tá bộ trưởng ngoại giao thời Truman 1949-51, Kennedy,
Johnson 1961-69) mô tả cuộc Cách mạng Trung Hoa không phải của người Tầu mà là
Made in Moscow, được làm tại Mạc Tư Khoa. Nhiều người Mỹ cho rằng CS đang tiến
bước mạnh và nếu không ngăn chận chúng sẽ tràn ngập thế giới. (7)
Các tài
liệu về cuộc chiến vĩ đại này cho biết:
Năm
1946-1947 Tưởng có hơn 4 triệu quân chủ lực – Mao có khoảng 1 triệu 3 trăm ngàn
quân chủ lực và 2 triệu du kích,
Giữa năm 1948 Tưởng còn 3 triệu rưỡi – Mao có 2 triệu 8,
Tháng
6-1949 Tưởng còn 1 triệu rưỡi – Mao có 4 triệu
Dư luận
chê Quốc Dân Đảng Trung Hoa có một lực lượng hùng hậu, được Mỹ viện trợ 4 tỷ đô
la quân sự nhưng lại bị Cộng quân yếu hơn đánh bại. Người ta cũng nêu lý do
Quốc Dân Đảng mất lòng dân, tàn ác trong khi đối phương tuyên truyền khiến đạo
quân ngày càng lớn mạnh chuyển bại thành thắng.
Nhưng
cũng có tài liệu nói sau Thế chiến thứ hai, cán cân quân sự nghiêng về
phía Cộng Sản Tầu. Chủ lực quân của họ tăng lên 1 triệu 2 và 2 triệu du kích.
Vùng kiểm soát của họ có 19 căn cứ chiếm 1/4 lãnh thổ Trung quốc và 1/3 dân số
gồm nhiều tỉnh thành quan trọng. Ngoài ra Nga Sô đã trao cho CS Tầu vũ khí lấy
được của Nhật cũng như đã viện trợ cho họ nhiều vũ khí, CS cũng được Nga giao
cho miền Đông Bắc Trung Hoa (8)
Quốc Dân
Đảng có lợi thế về đất và sức mạnh quân sự, họ chống quân Nhật hồi Thế chiến
thứ hai đã bị mất nhiều đơn vị tinh nhuệ trong những trận đánh lớn khi ấy CS
Tầu ít thiệt hại, họ ít đụng chạm Nhật. Tưởng Giới Thạch cho Mãn Châu là một vị
trí chiến lược quan trọng cần phải chiếm giữ và đã đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân
lên đánh CS được Mỹ giúp chuyển quân bằng không vận từ miền Trung lên. QDĐ thua
trận mùa thu 1948 đó là một khúc quành quan trọng trong cuộc chiến tranh
Quốc-Cộng , QDĐ chia rẽ và vì xa trung tâm tiếp liệu ở miền Trung nên đã thảm
bại (9)
Một phần
vì tại Hoa Bắc, Mãn Châu địch mạnh, một phần QDĐ bị suy yếu vì Thế chiến thứ
hai, sự sai lầm của Tưởng cho chuyển quân lên vùng xa xôi nên đã mất hơn một
triệu quân. Địch tuyển được nhiều quân, đánh biển người, một chiến thuật man rợ
và lợi hại khiến QDĐ ngày càng thua nhiều trận lớn. Tướng George Marshall nói
không có dấu hiệu gì cho thấy Nga Sô viện trợ quân sự cho Mao, đó là điều ngây
thơ lạc quan, khinh địch vốn dĩ của người Mỹ. Cuộc chiến Quốc – Cộng kéo dàì
mấy năm, sôi động nhất là những năm 1947, 1948, 1949, hai bên đánh bằng cấp
quân đoàn, lộ quân có khi lên tới hàng trăm sư đoàn. Nếu không có viện trợ của
Sô Viết, Tầu cộng lấy đạn dược tiếp liệu ở đâu để đánh những trận long trời lở
đất trong cuộc chiến vĩ đại này?
Sau này năm 1985 cựu Tổng thống Nixon nói (10) Sô Viết không phải gửi quân
nhưng đã thống trị được 9 nước kể từ 1974, Nixon cảm phục Liên sô không đem
quân qua, chỉ đứng ngoài giật giây mà đã chiếm được nhiều nước. Cuộc chiến
tranh Quốc – Cộng 1946-1949 cho thấy Nga không đem quân vào, trong khi Mỹ đã
đưa vào 50,000 quân mà vẫn thất bại.
Hoa Kỳ
nhường Đông Âu cho Nga năm 1945 để nhờ họ đánh quân Nhật là một lỗi lầm tai
hại, vừa mất Đông Âu rồi mất cả Trung Hoa. Khi Mỹ đã ném bom nguyên tử xuống
Nhật thì Sô Viết mới nhẩy vào ăn có. Họ chiếm Mãn Châu, tháo gỡ sạch các nhà
máy đem về nước, lấy kho vũ khí lớn của Nhật giao cho Mao đưa tới khúc quành bi
thảm cuộc chiến tranh Quốc – Cộng.
Người Mỹ
bỏ rơi Tưởng Giới Thạch vì vai trò chống Nhật của ông đã hết, Thế chiến thứ hai
kết thúc, đã đến lúc người ta vắt chanh bỏ vỏ. Họ bỏ Trung Hoa cũng vì không
thấy tầm quan trọng của vấn đề, chưa nhìn ra hậu quả lớn lao ngay sau đó, nó
làm lệch cán cân quân sự quốc tế của hai phe và đưa tới các cuộc chiến đẫm máu
khác ngay trong năm sau.
Ngày
5-12-1949 Mao đã ra lệnh sửa chữa các sân bay, chuẩn bị đổ bộ chiếm Đài Loan.
Ngày 5-1-1950 Truman tàn nhẫn tuyên bố thừa nhận Đài Loan là lãnh thổ Trung
Quốc, ông ta nói sẽ không can dự vào cuộc tranh chấp, sẽ không viện trợ quân sự
cho Tưởng, có nghĩa là công khai tuyên bố bỏ Đài Loan (11). Mỹ công kích
Tưởng và các Tướng lãnh QDĐ bất tài, tham nhũng làm mất Trung Hoa để tự bào
chữa cho dã tâm của mình.
Chiến
dịch cứu nguy Điện Biên Phủ năm 1954
Giữa năm
1950 Bắc Triều Tiên được Nga Sô, Trung Cộng yểm trợ vượt vĩ tuyến 38 xâm lược
Nam Triều Tiên. Sô Viết đã chiếm được Đông Âu, Trung Hoa, đã có bom nguyên tử
tháng 8-1949 nhờ đánh cắp tài liệu, bây giờ Nga không ngán Mỹ, công khai đương
đầu với Mỹ. Cuộc chiến bùng nổ, Tổng thống Truman đưa quân vào nam Triều Tiên
can thiệp dưới danh nghĩa Liên Hiệp Quốc. Mỹ lại tuyên bố bảo vệ Đài Loan vì
nay đã thấy rõ mối đe dọa bành trướng của Nga, Trung Cộng, cương quyết không
nhường đất cho CS.
Đài Loan
thoát chết, Mỹ bảo vệ hòn đảo này để phòng thủ cho chính họ. Vừa chiếm trọn nước
Tầu, đuổi Tưởng ra Đài Loan, Trung Cộng đã trực tiếp, gián tiếp gây chiến tại
Triều Tiên và Đông Dương. Cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh từ
ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946 đến nay đã được 4 năm
Năm 1946
Việt Minh yếu thế rút vào hậu phương. Quân Pháp tại phía trên vĩ tuyến 16 có
hơn một sư đoàn không đủ để bình định hết miền Bắc mà chỉ đủ giữ các thành phố.
Từ 1947-1949 Pháp mở những cuộc hành quân tiêu diệt chủ lực quân VM nhưng họ
lẩn tránh để bảo toàn lực lượng, tổng cộng khoảng 40,000 người.
Trung
Cộng tiến tới biên giới Bắc Việt tháng 11-1949 là lúc chấm dứt chương thứ nhất
của cuộc chiến tranh Đông Dương và nó đã quyết định số phận của người Pháp, họ
không hy vọng gì chiến thắng.(12)
Việt Minh
được Trung Cộng huấn luyện tại biên giới. Năm 1950 họ giúp VM thành lập năm sư
đoàn chính qui: 304, 318, 312, 316, 320 và sư đoàn 351 vũ khí nặng. Tháng
10-1950 VM đánh thắng trận Cao Bắc Lạng, nó đã làm rung động cả nước Pháp, họ
không ngờ VM mạnh đến thế. Pháp thiệt hại 7,000 người vừa bị giết và mất tích,
VM tịch thu được rất nhiều vũ khí có thể trang bị cho một sư đoàn (13)
Cuối năm
1950 Ba Lê cử Tướng de Lattre sang làm Tư Lệnh quân viễn chinh Pháp tại Đông
Dương, viên dũng tướng này chuyển bại thành thắng đánh bại VM và các cố vấn Tầu
nhiều trận trong năm 1951. De Lattre chết đầu năm 1952, Tướng Salan lên thay
tình hình quân sự ngày một xấu, VM ngày càng mạnh.
Đầu thập
niên 50 Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp nhưng thực sự giúp từ 1952, trong khi đó
họ còn phải tham chiến tại Triều Tiên. Henri Navarre cựu Tư Lệnh quân viễn
chinh Đông Dương nói:
“Qua kinh
nghiệm đau thương Trung Hoa và nhất là Triều Tiên, người Mỹ mới nhận ra mối
nguy Cộng Sản bành trướng tại Đông Nam Á, nhưng họ biết trễ mất 5 năm”
(14)
Đúng ra
Hoa Kỳ phải thức tỉnh sớm hơn là để nước đến chân mới nhẩy, họ đã lạc quan tin
tưởng Staline.
Salan giữ
chức Tư lệnh một năm rưỡi thì về Pháp, tháng 5-1953 Tướng Henri Navarre được cử
sang thay ở thời điểm mà ông bi quan cho là Đông Dương đang từ từ mất về tay
CS.
Cuối
tháng 7-1953 Triều Tiên đình chiến, Trung Cộng cung cấp nhiều viện trợ cho VM
hơn trước, Mỹ cũng tăng viện trợ cho Pháp, năm 1954 Mỹ đã gánh 78% chiến phí (15).
Cuối năm 1953 Navarre được lệnh bảo vệ Thượng Lào (16) và ông đã chọn
thung lũng Điện Biên Phủ cho đóng đồn lũy để chận đường chuyển quân của địch
sang Lào và mở mặt trận lớn tại đây để VM khỏi đánh Hà nội và châu thổ sông
Hồng. Nay quân lưu động VM rất mạnh khoảng 9 sư đoàn, gấp ba quân lưu động Pháp
gồm 7 Liên đoàn lư động và 8 tiểu đoàn nhẩy dù (17).
Navarre cũng
dùng kế dụ địch giết địch, nay VM ngày càng mạnh nên phải đưa chúng vào bẫy
giết một mẻ cho chết bớt đi nhưng mấy ai học được chữ ngờ: VM quá đông, hỏa lực
địch quá mạnh (18), ông ta đã đưa quân vào miệng cọp.
ĐBP là một khu lòng chảo có nhiều đồi núi bao quanh, một cánh đồng dài 16km,
rộng 9 km gần biên giới Lào – Việt. Trận ĐBP có tầm vóc lớn, toàn bộ chiến
trường Đông Dương. Căn cứ ĐBP được xây dựng kiên cố nhất Đông Dương hồi đó,
phía Bắc có hai tiền đồn với hai tiểu đoàn trấn giữ, khu Trung ương đóng trên 5
ngọn đồi gồm 8 tiểu đoàn, phía Nam cứ điểm Isabelle 2 tiểu đoàn.
Việt Minh
đưa gần hết các sư đoàn chính qui của họ vào trận đánh tổng cộng 63,000 người (19),
Pháp có 12 tiểu đoàn sau cho nhẩy dù thêm 5 tiểu đoàn tổng cộng khoảng 16,000
người. Ngày giao chiến đầu tiên 13-3-1954 căn cứ Béatrice sụp đổ trước trận
pháo kích dữ dội của 40 khẩu pháo VM (20), hôm sau căn cứ Gabrielle cũng
bị đánh sập. Tình hình quân sự ĐBP ngày một xấu, phi trường bị pháo kích hư
hại, sau ngày 26-3-1954, khu lòng chảo chỉ còn tiếp tế tăng viện bằng thả dù
quân lính cũng như lương thực, đạn dược.
Do sự sai
lầm của Navarre đã chọn địa điểm xa xôi, hiểm trở để lập căn cứ chỉ liên lạc
với hậu cần bằng máy bay không có đường bộ trong khi không quân Pháp quá yếu,
toàn chiến trường Đông Dương chỉ có khoàng 200 máy bay (21). Tiếp tế bằng thả
dù rất khó khăn vì bị phòng không địch chế ngự, nhiều kiện hàng thực phẩm, đạn
dược đã lọt sang khu vực VM, kể từ sau ngày 26-3 số phận của Điện Biên Phủ coi
như đã được quyết định rồi.
Pháp cũng
như Mỹ đều đã thấy nguy cơ ĐBP sẽ thất thủ, giữa năm 1953 Trung Cộng ký đình
chiến Triều Tiên rồi quay về giúp Việt Minh đánh Pháp, viện trợ quân sự của họ
tăng vọt lên. Từ cuối tháng 3, Tòa Bạch Ốc đã nghiên cứu kế hoạch cứu nguy ĐBP
bằng oanh tạc ồ ạt với khoảng gần 100 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi chiếc
mang 9 tấn bom cùng với 400 máy bay chiến đấu hộ tống. Kế hoạch này do Đô đốc
Arthur Radford, Tham mưu trưởng liên quân đề nghị được Tổng thống Eisenhower,
Phó Tổng thống Nixon, Bộ trưởng ngoại giao Foster Dulles ủng hộ, chấp thuận.
TT
Eisenhower muốn hỏi ý kiến Quốc hội vì rút kinh nghiệm chính phủ Truman tham
chiến tại Triều Tiên không hỏi Quốc hội đã bị chỉ trích. Kế hoạch này đã được
Giáo sư, tác giả Bernard Fall và nhà nghiên cứu Philippe Devillers tường thuật
lại thập niên 60. Mấy năm gần đây, Giáo sư Fredrik Logevall và ký giả Ted
Morgan cũng nghiên cứu lại đề tài này trong hai tác phẩm của họ (22).
Xin sơ lược như sau:
Ngày thứ
bẩy 3-4-1954, tám vị Trưởng khối đại diện Quốc hội được chính phủ mời tới Bộ
ngoại giao để hội thảo bí mật với Dulles, Radford, một số cố vấn. Foster Dulles
nói Tổng thống Eisenhower yêu cầu mời họp và Tổng thống muốn được Quốc hội
thông qua một quyết định cho phép Hành pháp xử dụng không quân, hải quân tại
Đông Dương. Đô đốc Radford nói về tình trạng nguy khốn của ĐBP, còn Dulles cảnh
giác nếu Đông Dương mất Đông Nam Á sẽ lọt vào tay CS và rồi Mỹ sẽ phải rút về
Hawaii nếu Mỹ không giúp Pháp và chính phủ địa phương (QGVN) và sẽ khiến Pháp
từ bỏ cuộc chiến.
Đô đốc
Radford nói về kế hoạch “Kên kên” (Vulture): Gồm hai Hàng không mẫu hạm Essex
và Boxer, có tăng cường bởi không lực tại phi trường Clark Phi Luật Tân. Theo
tin tức Pháp tổng cộng có 60 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi cái mang 9 tấn
bom, khoảng 450 máy bay chiến đấu hộ tống bảo vệ. Theo nguồn tin Mỹ tổng cộng
98 pháo đài bay B-29, mỗi cái mang 14 tấn bom gồm hai cánh ở Okinawa và một tại
Clark field, có khoảng 450 máy bay chiến đấu theo hộ tống để phòng ngừa Mig
Trung Cộng nếu có.
Cuộc
tranh luận sôi nổi, ông Trưởng khối thiểu số Thượng viện Lyndon B. Johnson đòi
hỏi phải có liên minh các nước. Cả tám vị dân cử cho Hành pháp biết Quốc hội
ủng hộ chiến dịch “Kên Kên” dưới ba điều kiện.
1- Lập
liên minh các nước tự do ở Đông nam Á, Phi LuậtTân và Liên Hiệp Anh.
2- Pháp phải nhanh trả độc lập cho các nước Đông Dương
3- Pháp phải ở lại tiếp tục chiến đấu.
Những lý
do thực tiễn đó đã hủy hoại mọi cơ hội cứu ĐBP vì không còn đủ thời giờ đi tìm
đồng minh thành lập “Mặt trận thống nhất” để được chấp thuận kế hoạch “Kên Kên”
trong khi ĐBP ngày càng nguy ngập, Trung Cộng tăng cường viện trợ pháo binh và
cao xạ cho VM.
Ba Lê
chính thức xin Mỹ dùng không quân oanh tạc ồ ạt cứu ĐBP trong khoảng thời gian
này. Cùng ngày Tổng thống Eisenhower viết thư dài cho Churchill nói ý niệm về
một mặt trận thống nhất. Người Anh kinh ngạc khi nhận thư Eisenhower, họ chống
lại bất cứ hành động nào có thể phương hại Hội nghị Genève sắp nhóm họp. Ba
ngày sau Churchill trả lời thư, ông nói sẽ bàn với Dulles tại London ngày 12-4.
Người
Pháp chán nản coi kế hoạch Kên Kên như bỏ, họ lên kế hoạch cứu quân nhân còn
trong trại.
Khi
Dulles đang bàn với Pháp về kế hoạch Kên Kên tại Paris, Tướng Partridge, Tư
lệnh không quân Mỹ tại Viễn đông tới Sài Gòn, ông tiếp xúc với Cao ủy Maurice
Dejean và Tướng Tư Lệnh Navarre khiến họ vẫn hy vọng vào sự can thiệp của Mỹ.
Dulles ở Paris ngày 23-4, Hội nghị Genève bắt đầu ngày 26-4, Pháp chỉ hy vọng
vào ngưng bắn, họ năn nỉ Dulles thực hiện kế hoạch “Kên Kên”. Tổng thống
Eisenhower cho Dulles biết sẽ không có oanh tạc quanh ĐBP nếu không thỏa mãn
yêu cầu của các vị đại diện Quốc hội ngày 3-4. Không quân Mỹ chỉ hành động
trong khuôn khổ lực lượng đồng minh sau khi họ bàn luận và biểu quyết.
Chiều
ngày 23-4 đã xóa sổ vấn đề ĐBP mà người Pháp không biết. ngày 24-4 Eden tới
Paris họp về NATO, đô đốc Radford thuyết phục ông chỉ cần ủng hộ tượng trưng.
Eden vẫn cứng rắn và nói tại cuộc chiến Triều Tiên, mới đầu Mỹ oanh tạc sau Mỹ
cũng đổ bộ quân vào, sau đó Mỹ lại thúc giục các nước đồng minh gửi quân vào. Ngày
chủ nhật 25-4, Eden về Luân Đôn dự phiên họp nội các giải quyết một lần cho
xong.
Tất cả nỗ
lực để cứu ĐBP bằng không quân sụp đổ cuối tuần này, ngày 24-4 Dulles tại tòa
Đại sứ Mỹ Ba Lê gửi văn thư cho Bidault (Bộ trưởng ngoại giao Pháp) nói (năm
1966 mới được tiết lộ)
“Một
quyết định chiến tranh phải có phép của Quốc hội (US) mới thực hiện được”
Cuối thư
nói ĐBP không phải là quá quan trọng, không cần cứu bằng không quân, ta đã gây
thiệt hại nặng cho địch. Bidault gửi thư trả lời cùng ngày nói lực lượng địch
tập trung đông đảo tại ĐBP sẽ khiến cuộc oanh tạc không những cứu được ĐBP mà
còn thay đổi toàn bộ cán cân cuộc chiến.
Còn một
nỗ lực cuối cùng, Pháp cử người gặp thủ tướng Chrchill để thuyết phục ông ta
tại Luân Đôn ngày 27-4. Chrchill tiếp Đại sứ Pháp René Massigli, ông vẫn cứng
rắn từ chối nói.
“Chúng
tôi đã chịu mất Singapore, Hong Kong, Tobruk, người Pháp sẽ phải chịu thua tại
ĐBP”
Chiến
dịch Kên Kên chết lịm dần, Thiếu tướng Caldera, Tư lệnh không đoàn B-29 tại phi
trường Clark Phi luật Tân đi thăm Đông Dương một lần nữa ngày 26-4, vẫn chuẩn
bị oanh tạc ĐBP một khi có lệnh. Tất cả gồm 80 oanh tạc cơ tấn công liên tiếp
quanh ĐBP và kho hậu cần tại Tuần Giao với phi hành đoàn hỗn hợp Pháp-Mỹ. Một
sĩ quan cao cấp không quân Pháp đã từ Sài Gòn qua Clark Field chuẩn bị chiến
dịch, có lẽ tình thế chưa tuyệt vọng.
Màn bi
kịch cuối cùng là cuộc họp của Tổng Thống Eisenhower, Đô đốc Radford, các viên
chức cao cấp ngày 29-4 tại Hoa Thịnh Đốn, họ duyệt lại toàn bộ tình hình một
lần nữa. Trong số các nhà quân sự chỉ có Đô đốc Radford vẫn ủng hộ hoàn toàn dù
là can thiệp đơn phương (không cần Quốc hội) của Mỹ để cứu ĐBP khỏi sụp đổ. Tư
lệnh Hải quân, Đô đốc Carney và Tướng Twining, TMT không quân không nhiệt tâm
với kế hoạch này, Tướng Ridway, TMT lục quân Mỹ chống đối hoàn toàn kế hoạch.
Cuối cùng TT Eisenhower quyết định không giúp Pháp, một tuần sau, ngày 7-5-1954
ĐBP hoàn toàn thất thủ, hơn mười ngàn tù binh bị bắt mà phần lớn đã chết trong
trai giam.
Dù Anh có
đồng ý tham gia, ủng hộ hay không, Eisenhower vẫn có toàn quyền quyết định
(không cần Quốc hội), mười hai năm sau ông cho biết không muốn cho Hoa Kỳ sa
vào cuộc chiến tốn kém. Nếu chiến đấu một mình sẽ làm cho Mỹ cạn kiệt tài
nguyên, đánh con rắn Trung Cộng phải đánh dập đầu chứ không đánh cái đuôi nó.
Như thế
quyết định không cứu Pháp ở ĐBP chính là của Mỹ, của cấp thượng đỉnh: Các vị
Trưởng khối dân cử, Bộ Tham mưu liên quân và Tổng thống, nên khi quyết định đã
xong không thể đổ lỗi cho Anh (23), các vị đại diện Quốc hội đòi hỏi.
-Trước hết thành lập liên minh các nước
- Pháp trả độc lập cho các nước Đông Dương
-Pháp phải tiếp tục cuộc chiến (24)
Ba điều
kiện của tám vị đại diện Lập pháp Mỹ đưa ra đòi thành lập liên minh các nước
chống CS tại ĐNÁ thực hiện chiến lược be bờ ngăn chận CS để bảo vệ an ninh cho
Mỹ. Đòi Pháp phải trả độc lập cho Đông Dương sau đó ở lại chiến đấu cho quyền
lợi của Mỹ. Ngoại trưởng Dulles đi vận động suốt tháng 4-1954 (25), ông
ta đi hàng trăm dặm viếng thủ đô các nước không CS tại châu Âu, châu Á và cả
Phi châu, Nam Mỹ. Trung bình Dulles 200 dặm một ngày để thành lập Liên minh
chống Cộng nhưng không có kết quả, Anh, Pháp đều không tham gia, họ không có
nhiều quyền lợi tại đông nam Á, đó là chuyện riêng của Mỹ.
Việc Hoa
Kỳ không thực hiện được chiến dịch Kên Kên đã ám ảnh theo đuổi chính phủ
Eisenhower một cách kỳ lạ ngay cả sau khi ngoại trưởng Dulles qua đời năm 1959
(26). Người ta hối tiếc đã để Việt Minh, phía CS thắng lớn đưa tới khúc
quành lịch sử.
Bernard
Fall nói
“Trong
trường hợp này, lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, họ đã bỏ rơi một đồng minh
trong khi nước này (Pháp) tham gia một cuộc chiến mà Mỹ đã khuyến khích người
ta chiến đấu, nó đi xa hơn mục tiêu chính trị của nước này (Pháp) và nhất là
vượt quá khả năng quân sự của họ. Ở đây ĐBP không phải chỉ là thất trận của
Pháp mà cả của Mỹ. (27)
Từ năm
1952, 1953, Pháp đã mệt mỏi vì cuộc chiến Đông Dương, chêt người tốn của, Mỹ đã
tăng viện trợ cho Pháp những năm 1953, 1954 để khuyến khích họ tiêp tục chiến
đấu ngăn chận CS tại ĐNA có lợi cho Mỹ hơn là cho Pháp. Và rồi cuối cùng Mỹ bỏ
rơi họ vì nhiều tính toán nào sợ sa lầy, mất phiếu, sợ Trung Cộng đưa quân vào…
ĐBP đã
khiến các giới chức quân sự chính trị lưu ý khi Tướng De Gaulle xác nhận rằng
trong cuộc khủng hoảng mà không liên hệ trực tiếp nước Mỹ, ta không thể tin tưởng
họ được (28).
Tính già
hóa non, người Mỹ bỏ Đông Âu dẫn tới mất Trung Hoa, mất nước Tầu đưa tới ĐBP,
bỏ rơi Pháp đưa tới chiến tranh VN
Cuộc
chiến Việt Nam
Bernard
Fall nhận định ĐBP đóng vai trò chiến lược quan trọng đối với Hoa Kỳ, nó cũng
là thời điểm Quân đội CSVN thành hình để trở thành lực lượng CS tại ĐNÁ. Sau
này tình thế đã khiên Mỹ phải can thiệp vào miền nam VN những năm 1965, 1966…mà
họ đã tránh hồi 1954, già néo thì đứt giây. Hậu quả mà Mỹ đã phải gánh chịu vì
tránh can thiệp ĐBP mà họ sợ sa lầy năm 1954 để rồi sau đó mười năm phải đối
đầu một cuộc chiến khác đẫm máu hơn (29)
Hai cuốn
sách Mỹ mới viết gần đây cũng nhận định ĐBP thất thủ đã khiến Mỹ phải tham
chiến tại VN. Fredrik Logevall Giáo sư lịch sử , tác giả cuốn “Tàn Lửa Của Cuộc
Chiến Tranh, Sự Sụp Đổ Của Đế Quốc Pháp Và Khởi Đầu Cuộc Chiến Của Người Mỹ tại
Việt Nam, dầy 840 trang, in năm 2012 (Embers of War, The Fall of An Empire And
The Making Of America’s Vietnam). Tác giả nói ĐBP đã làm sụp đổ đế quốc Pháp và
khiến người Mỹ tham dự vào cuộc chiến VN.
Ký giả
Ted Morgan viết “Thung Lũng Tử Thần,Thảm Kịch Điện Biên Phủ Đã Đưa Mỹ Vào Cuộc
Chiến Việt Nam, dầy 722 trang, in năm 2010” (The Valley Of Death, The Tragedy
At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam War). Tác giả cũng muốn nói
Mỹ không anh tạc cứu ĐBP nên đã phải đối đầu với cuộc chiến VN.
Năm 1954
Thượng nghị sĩ Johnson, trưởng khối thiểu số đã đưa điều kiện đòi hỏi
Eisenhower phải lập liên minh các nước, nó được tám vị dân cử đồng ý và đã cản
trở hành pháp thực hiện Kên kên.
Bất ngờ
cuối thập niên 50 Hà Nội phát động chiến tranh xâm lược miền nam VN. Dưới thời
Kennedy 1961, 62, 63 cuộc chiến chưa mở rộng nhiều. Lyndon B. Johnson lên thay
Kennedy bị ám sát cuối 1963 và đắc cử TT 1964. Rút kinh nghiệm biến cố do chính
mình gây ra tháng 4-1954, nay 1964, khi làm Tổng thống ông đã vận động được
Quốc hội ủng hộ Hành pháp ra Nghị quyết tháng 8-1964 dành cho Tổng thống quyền
hạn can thiệp vào miền nam VN. Những năm 1964, 1965 lợi dụng tình hình chính
trị miền nam xáo trộn, Cộng quân gia tăng xâm nhập quân chính qui và bắt đầu
đánh lớn, miền nam có nguy cơ mất về tay CS
Tháng
2-1965 qua thăm dò của Harris poll, 78% người dân ủng hộ cuộc chiến chống CS
tại đông nam Á, lưỡng viện Quốc hội ủng hộ Chính phủ, thuyết Domino được tin tưởng
mạnh
Đầu tháng
3-1965, sau khi đắc cử Tổng thống, Johnson cho oanh tạc giới hạn Bắc Việt mục
đích ngăn chận xâm nhập và vận chuyển tiếp liệu của địch vào miền nam để khiến
họ phải từ bỏ cuộc chiến ngồi vào bản hội nghị. Cuộc oanh tạc không có kết quả
nên Johnson và các cố vấn phải thay đổi kế hoạch bằng đưa thêm quân vào VNCH để
có thể thắng bằng cuộc chiến dưới đất (30)
Tổng
thống Johnson đã có một lựa chọn định mệnh, đưa Hoa Kỳ đi vào con đường can
thiệp vào VN ồ ạt (31). Trong giai đoạn định mệnh này Johnson đã oanh
tạc Bắc Việt và đưa quân vào VNCH từ 23,000 ngươi (1964) lên 175,000 (1965).
Trung bình mỗi năm tăng quân 100,000 cho tới năm 1968 lên tới đỉnh cao 536,100
người
Giữa năm
1965 VNCH có nguy cơ sụp đổ trong vòng 6 tháng, BV tấn công liên tục, tình hình
quân sự ngày càng xấu (32). Thực trạng nguy kịch của miền nam VN khiến Johnson
quyết định đưa quân vào. Những năm 1964, 1965 tỷ lệ ủng hộ của người dân và
Quốc hội rất cao người ta tin tưởng vào thuyết Donino và chính sách be bờ ngăn
chận CS tại ĐNA. Rút kinh nghiệm năm 1950 TT Truman để mất Trung Hoa, Johnson
quyết không để VN lọt vào tay CS.
Chính
sách oanh tạc và quân sự của Johnson có mục đích đe dọa địch để chúng phải vào
bàn hội nghị nhưng ông đã thất bại, sau này TT Nixon nhận xét
“Ta cần
phải biết rằng không thể mơn trớn dụ dỗ Hồ Chí Minh từ bỏ cuộc chiến. Chúng ta
phải bắt buộc ông ta từ bỏ nó” (33)
Johnson
đã sai lầm 1954 nay lại sai lầm thêm một lần nữa, ông ta chủ quan khinh địch,
Hà Nội đã có khối CS quốc tế Nga, Trung Cộng, Đông Âu đứng sau lưng.
Các chiến
dịch quân sự tại miền nam VN tuy có kết quả cụ thể, giết được nhiều Việt Cộng,
từ đầu 1965 cho tới cưối 1967, trong vòng ba năm địch bị thiệt hại 344,000 quân
(34) nhưng chúng vẫn tiếp tục xâm nhập. Cuối năm 1968 trả lời phỏng vấn nữ ký
giả Ý Fallaci, Võ Nguyên Giáp cho biết đã mất hơn nửa triệu quân.
Cuộc
chiến tranh hạn chế của Johnson và Bộ trưởng quốc phòng McNamara thất bại. Sau
này tháng 4-1969 Tướng Westmoreland, cựu Tư lệnh Mỹ tại VN và Đô đốc Grant
Sharp, Cựu Tư lệnhThái Bình Dương đã công bố bản phúc trình công kích chính
sách chiến tranh và oanh tạc hạn chế của Johnson-McNamara, không cho đánh qua
hậu cần địch Mên, Lào… đã đưa tới thất bại
CSBV đưa
84,000 quân vào trận tổng tấn công Tết Mậu Thân đầu năm 1968, tổng cộng 58, 370
tên bị giết, 9,400 người bị bắt làm tù binh. Mặc dù thảm bại, nhưng Hà Nội đã
thắng lớn về chính trị, phong trào phản chiến tại Mỹ lên rất cao, người dân
quyết tâm đòi hòa bình, vào lúc này số binh sỉ Mỹ tử trận tại VN đã lên gần
20,000 người. Miền nam VN thắng một trận lớn nhưng thua cuộc chiến.
Năm 1965
tỷ lệ ủng hộ là 61%, cuối 1966 còn 51%, cuối 1967 còn 48%, tháng 2-1968 còn
41%, cuối 1968 chỉ còn 35% (35).
Sau trận Tết Mậu Thân, TT Johnson đề nghị Hà Nội đàm phán nếu không sẽ cho nếm
mùi sức mạnh, CSBV nhận lời. Hòa đàm Paris mở đầu từ 10-5-1968.
Johnson-McNamara
thất bại không thắng được BV khiến cho cuộc chiến tại đất nhà lên cao, hai nhà
chính trị đã phạm nhiều sai lầm trong việc lãnh đạo cuộc chiến mà đáng lý ra
phải Việt Nam hóa chiến tranh từ 1965.
Năm 1969,
Nixon đắc cử Tổng thống thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, cho rút quân về
nước, phong trào phản chiến lên cao mạnh hơn trước rất nhiều. Năm 1968 quân đội
VNCH có 820,000 người, năm 1969 lên 897,000 người, năm 1970 lên 968.000, năm
1971 lên 1,046,250, năm 1973 lên 1,110,000.
Năm 1969
Mỹ rút 61,000 người, năm 1970 rút 141,000 người, năm 1971 rút 178,000 người,
năm 1972 chỉ còn 24,000 người, năm sau còn 50 người. (36). Trận Mậu Thân
1968 đánh dấu ý định rút bỏ Đông Dương của người Mỹ, năm 1969 họ rút quân dần
dần thỏa mãn nguyện vọng người dân.
VNCH được
Hoa Kỳ yểm trợ đã mở cuộc hành quân sang Miên ngày 13-4-1970 để phá hủy các căn
cứ hậu cần an toàn của BV, nơi xuất phát những cuộc tấn công VNCH và để giúp
chính phủ Miên chống lại áp lực của CS.
Cuộc hành
quân sang Kampuchia từ 29-4-1970 tới 22 -7-1970 đã đánh bại và ruồng bố được
khoảng 40,000 quân CS, giết trên 10 ngàn cán binh,
Kế đó
cuộc hành quân Lam Sơn tại Hạ Lào bắt đầu ngày 8-2-1971, BV phản công mạnh. Ông
Thiệu lệnh cho các Tướng lãnh ngưng tiến quân. Giữa tháng ba, một thời gian
ngắn sau khi quân đội VNCH tới Tchpone, họ rút lui về phía nam theo đường 914
bị Cộng quân truy kích thiệt hại nhiều. Cho tới 25-3-1972 cuộc hành quân coi
như chấm dứt, tổng cộng chỉ kéo dài 45 ngày. Mặc dù không đạt kết quả nhưng
cũng gây nhiều thiệt hại nặng cho CSBV.
Kissinger
đàm phán đi đêm với BV tại Ba Lê, cuộc hội nghị kéo dài mấy năm. Hà Nội thương
thuyết rất dai dẳng, đây là cuộc hòa đàm bẩn thỉu nhất trong lịch sử ngoại giao
thế giới. Hà Nội không từ một mánh khóe hạ tiện nào để đạt thắng lợi tại bàn
Hội nghị. Tháng 3-1972, lợi dụng khi quân đội Mỹ rút về gần hết, Hà Nội mở trận
tổng tấn công miền nam VN với trên mười sư đoàn và nhiều xe tăng, đại bác.
Tháng 2-1972 Nixon sang Tầu bắt tay Mao Trạch Đông, cái bắt tay thay đổi nhiều
thập niên. Tháng 5-1972 Nixon họp thượng dỉnh tại Mạc Tư Khoa, hai bên thỏa
thuận tài giảm binh bị. Trong năm 1972 ông ta vừa đánh bại CSBV, bắt tay Trung
Cộng, hòa với Nga.
Trong
tháng 5 -1972 miền nam đã thắng thế BV, TT Nixon oanh tạc Cộng quân dữ dội bằng
B-52 để yểm trợ VNCH, ông nói chúng ta đã có khuynh hướng dọa cho dữ nhưng làm
ít, đó là điểm yếu của chính phủ Johnson
(I think
we have too much of a tendency to talk big and act little, I wrote “This was
certainy the weakness of the Johnson administration).
(37)
Nixon là
người cứng rắn dám dùng sức mạnh tối đa khi cần nhưng cũng không cứu vãn nổi sự
sụp đổ của miền nam VN về chính trị. CSBV bị thiệt hại nặng trong trận muà hè
đỏ lửa này, tháng 9/1972 có vào khoảng từ 70 ngàn cho tới 100 ngàn cán binh CS
bị giết, khoảng 700 chiến xa bị phá hủy (38). Sau trận thảm bại 1972, Hà Nội
chịu nhượng bộ tại bàn hội nghị: không đòi TT Thiệu từ chức, không đòi miền nam
trung lập, VNCH chống đối hòa đàm. Bầu cử Tổng thống 7/11/1972 về cử tri đoàn
Nixon thắng 49 tiểu bang, 520 điểm, thắng 47 triệu phiếu phổ phông, 60.7% số
phiếu bầu, hơn McGovern 18 triệu phiếu, trận thắng cử lớn nhất từ xưa tới nay.
Nixon đã đem quân về nước, lấy lại tù binh, không bỏ đồng minh, hòa với Nga,
bang giao với Trung Cộng
Trước sự
thúc ép của Quốc hội, Nixon ký kết Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, Cộng quân
không phải rút về Bắc, miền nam thắng mà như thua. Trước khi ký Hiệp định, Lập
pháp hứa với Hành pháp sẽ tiếp tục viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH nhưng khi
đã đem quân về nước, họ trở mặt cắt giảm dần dần.
Sau ngày
ngưng bắn Hà Nội hối hả đưa khoảng 18,000 xe vận tải và 70,000 người xâm nhập
miền Nam . Quốc hội Mỹ bắt đầu soạn tu chính án cấm xử dụng mọi ngân khoản cho
các cuộc oanh tạc tại Đông Dương. Nixon ký thành luật ngày 30-6-1973, có hiệu
lực ngày 15-8-1973. Tu chính án xác định từ nay không còn ngân khoản nào dùng
trực tiếp và gián tiếp cho các hoạt động quân sự của My tại Miên, Lào, Bắc và
Nam VN hay ngoài khơi Mên, Lào, Bắc, Nam VN.
Nixon
không còn thẩm quyền giữ hòa bình cho VN, Quốc hội đã cho phép lãnh đạo Hà Nội
tự do thao túng tại miền Nam VN. Quốc hội tiếp tục hạn chế quyền Tổng thống về
quân sự đó là Dự luật War Power act: Tổng thống phải thảo luận với Quốc hội
trước khi tham chiến. Ngày 7-11-1973 hình thành luật hạn chế quyền Tổng thống.
Sau ngày
ngưng bắn, Hà Nội chuyển vũ khí đạn dược vào Nam, Quốc hội cắt xén viện trợ cho
VNCH liên tục, ngân khoản do Nixon đề nghị đã bị Quốc hội cắt giảm từ hai tỷ
mốt (2,1 tỷ) tài khoá 1973 xuống một tỷ tư (1,4 tỷ) tài khoá 1974 và 700 triệu
tài khoá 1975. Trong khi ấy BV vẫn được CS quốc tế viện trợ dồi dào. Khi kết
thúc Hiệp định Paris, Nixon đã đề ra hai kế hoạch bảo đảm hòa bình: Trước hết
duy trì sự đe dọa trừng trị của Mỹ đối với một cuộc xâm lăng từ BV và sau đó là
viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH để cân bằng lực lượng nhưng chung cục cả hai
điều kiện trên đã bị Quốc hội phá hỏng hết (39)
Ngày 9/8/1974 Nixon từ chức vì vụ Watergate, Phó TT Gerald Ford lên thay, ông
tân Tổng thống này chỉ là bù nhìn khi đảng đối lập Dân chủ nắm ưu thế hoàn toàn
tại Quốc hội: 67% Hạ viện và 60% Thượng viện.
Quốc hội
Dân chủ kiên quyết chống chiến tranh VN, trả thù cho thất bại nhục nhã trong
cuộc bầu cử Tổng thống năm 1972 bằng cắt giảm viện trợ quân sự miền nam VN như
trên. Hậu quả của sự cắt giảm tàn nhẫn này là tháng 4-1975, pháo binh VNCH hết
đạn, máy bay hết săng, nhiên liệu…
Quốc hội
lợi dụng thành quả của Hành pháp Nixon: Hòa với Nga, bắt tay Trung Cộng để bỏ
Đông Dương, nay thiên hạ thái bình, thuyết Domino không còn ý nghĩa, CS không
còn là mối nguy đe dọa ĐNA.
Nhờ xương
máu của hàng triệu quân dân VNCH mà họ đã hòa được với Nga, Tầu khi cả hai phía
đã cùng mệt mỏi. Nay miếng xương Đông Dương không còn ý nghĩa.
Từ thập
niên 80 Hoa Kỳ và các nước Tây phương đầu tư vào Hoa Lục hy vọng nâng cao
đời sống của họ để rồi từ từ chế độ Cộng sản sẽ phai mầu hóa ra hiền lành không
còn hiếu chiến như xưa. Đầu thập niên 90 chế độ CS sụp đổ tại Liên Xô, Đông Âu
khiến người Mỹ càng tin tưởng họ đang được hưởng thái bình đời vua Nghiêu
Thuấn.
Mấy chục
năm trôi qua, người Mỹ bỏ Đông Dương vì tin rằng đã hòa được với CS quốc tế,
niềm tin nay đã thành ảo tưởng. Trung Cộng càng giầu, kinh tế phồn thịnh càng
hung dữ hơn trước.
Nay ngân
sách quốc phòng Trung Cộng (40) tăng lên 188 tỷ Mỹ kim gần bằng 1/3 của
Mỹ (640 tỷ).Trong vòng 10 năm từ 2002 tới 2012 chi phí quốc phòng Trung Cộng
tăng lên hơn gấp năm lần (41). Một hai thập niên trước họ chưa giầu mạnh
ra vẻ khiêm tốn nay ra mặt thách thức Mỹ tại biển đông.
Nga từ bỏ
chế độ CS, dân số chỉ còn 145 triệu nhưng cũng tăng cường ngân sách quốc phòng
lên 88 tỷ Mỹ kim đứng thứ ba trên thế giới, họ trở lại chính sách bành trướng
xa xưa. Tình hình Ukraine 2014 căng thẳng do Nga gây hấn can thiệp, Tổng thống
Putin sáp nhập những tỉnh biên giới và thách thức Mỹ, Tây Âu. Trong cơn nóng
giận ông ta hăm dọa: Nga là nước duy nhất trên thế giới có khả năng biến nước
Mỹ thành tro bụi.
Tác giả
Ted Morgan trong “The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led
America In to The Vietnam War”, trang 411 nói về Điện Biên Phủ
“Tháng 3
và tháng 4 năm 1954 Mao tăng viện trợ cho VM 4 tiểu đoàn phòng không, VM được
huấn luyện tại Trung Cộng với súng cao xạ 37 ly và đã được đưa tới ĐBP…..
. . . . Mao cho huấn luyện thêm hai sư đoàn pháo và hai tiểu đoàn công binh
cho VM. . .
Về việc cố vấn và viện trợ Mao có ưu thế hơn Mỹ nhiều, ông ta không phải vận
động quốc hội như Mỹ, Mao thảo lệnh và được thi hành ngay, Việt Minh không cãi
lại ý kiến của Trung Cộng trong khi Pháp luôn than phiền Mỹ can dự vào”.
Trong khi
Mao, Staline ban lệnh và được thi hành ngay, Tổng thống Mỹ phải thăm dò ý kiến
người dân, tham khảo Quốc hội, ngoài ra Anh-Pháp-Mỹ chia rẽ nhau vì quyền lợi,
như thế không thể thắng được cuộc chiến.
Tại một
đất nước mà chính phủ không có thực quyền, đảng nọ phá đảng kia, Quốc hội lộng
hành, người dân yêu sách… thì các đồng minh của họ bị chết oan vì bức tử là
điều không có gì khó hiểu.
© Trọng
Đạt
——————————————————-
Chú thích
(1) America in the seconde world war, US history.org
(2) Histoire de La Seconde Guerre Mondiale
(3) Constantin Virgil Gheorghiu, sinh 15-9-1916 tại Moldavie, Lỗ Ma Ni mất 22-6-1992 tại Paris . Tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Giờ Thứ Hai Mươi Lăm, La Vingt-cinquième heure
(4) America in the seconde world war, US history.org
(5) Quốc Cộng Đàm Phán, phim lịch sử Hồng Kông quay thập niên 80 kể lại giai đoạn này
(6) La Guerre civil en chine, Geographie.blog le monde.fr
(7) Communists Win China ’s War, Macrohistoory and World Time Line, Fsmitha.com
(8) Chinese civil war, Wikipedia
(9) Chinese Communist Revolution, Wikipedia
10) Richard Nixon, No More Vietnams trang 214
(11) Trần Vũ, Vì Sao Trung Quốc Không Giải Phóng Được Đài Loan? trang mạng Đời Sống Và Pháp Luật 2013
(12) Bernard Fall, Đường Phố Buồn Thiu (Street Without Joy) trang 28, 32
(13) Quân Sử 4, Quân lực VNCH Trong Giai Đoạn Thành Hình, Bộ TTM
VNCH trang 124, Street Without Joy trang 33
(14) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 27
(15) The Pentagon Papers Volum 1, Chapter 2
(16) Agonie de l’Indochine 188-200
(17) Sách kể trên trang 47
(18) Trang Vietnam.net ngày 6-5-2014 bài 8: “7 Tướng pháp và 1 Điện Biên” cho biết tỷ số quân VM 3.3 Pháp 1, pháo binh VM 3.1 Pháp 1
(19) Quân sử 4 trang 160.
(20) Trang Vietnam.net ngày 6-5-2014
(21) Agonie de l’Indochine trang 230
(22) Bernard Fall: Hell In A Very Small Place, The Siege of Dien Bien Phu ,
Philippe Devillers, End of a War, Indochina 1954
Fredrik Logevall: Embers Of War, The Fall Of An Empire And The Making of America’s Vietnam , Ted Morgan: The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam
(23) Hell In A Very Small Place trang 312
(24) Embers of War, The Fall of An Empire And The Making Of America’s Vietnam trang 469; Hell In A Very Small Place trang 301
(25) Embers of war trang 481
(26) Hell In A Very Small Place trang 313
(27) Sách kể trên trang 461
(28) Sách kể trên trang 461
(29) Sách kể trên trang 462
(30) Stanley Karnow. Vietnam A History trang 435
(31) McNamara, In Retrospect, The Tragedy and Lessons of Vietnam trang 169
(32) Ngô Quang Trưởng, Trận Chiến Trong Mùa Lễ Phục Sinh 1972, trang 16, 17; Stanley Karnow, Vietnam A History trang 440, 441
(33) Richard Nixon, No More Vietnams trang 82
(34) Sách kể trên trang 86
(35) Opposition to the US involvement in the Vietnam war, Wikipedia
(36) Vietnam war Allied troop Levels 1960-73, americanwarlibrary.com
(37) No More Vietnams trang 148
(38) Nguyễn đức Phương, Chiến TranhViệt Nam ToànTập trang 587
(39) No More Vietnams trang 189
(40) List of countries by military expenditures, Wikipedia
(41) Military budget of the People’s Republic of China , Wikipedia
(1) America in the seconde world war, US history.org
(2) Histoire de La Seconde Guerre Mondiale
(3) Constantin Virgil Gheorghiu, sinh 15-9-1916 tại Moldavie, Lỗ Ma Ni mất 22-6-1992 tại Paris . Tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Giờ Thứ Hai Mươi Lăm, La Vingt-cinquième heure
(4) America in the seconde world war, US history.org
(5) Quốc Cộng Đàm Phán, phim lịch sử Hồng Kông quay thập niên 80 kể lại giai đoạn này
(6) La Guerre civil en chine, Geographie.blog le monde.fr
(7) Communists Win China ’s War, Macrohistoory and World Time Line, Fsmitha.com
(8) Chinese civil war, Wikipedia
(9) Chinese Communist Revolution, Wikipedia
10) Richard Nixon, No More Vietnams trang 214
(11) Trần Vũ, Vì Sao Trung Quốc Không Giải Phóng Được Đài Loan? trang mạng Đời Sống Và Pháp Luật 2013
(12) Bernard Fall, Đường Phố Buồn Thiu (Street Without Joy) trang 28, 32
(13) Quân Sử 4, Quân lực VNCH Trong Giai Đoạn Thành Hình, Bộ TTM
VNCH trang 124, Street Without Joy trang 33
(14) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 27
(15) The Pentagon Papers Volum 1, Chapter 2
(16) Agonie de l’Indochine 188-200
(17) Sách kể trên trang 47
(18) Trang Vietnam.net ngày 6-5-2014 bài 8: “7 Tướng pháp và 1 Điện Biên” cho biết tỷ số quân VM 3.3 Pháp 1, pháo binh VM 3.1 Pháp 1
(19) Quân sử 4 trang 160.
(20) Trang Vietnam.net ngày 6-5-2014
(21) Agonie de l’Indochine trang 230
(22) Bernard Fall: Hell In A Very Small Place, The Siege of Dien Bien Phu ,
Philippe Devillers, End of a War, Indochina 1954
Fredrik Logevall: Embers Of War, The Fall Of An Empire And The Making of America’s Vietnam , Ted Morgan: The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam
(23) Hell In A Very Small Place trang 312
(24) Embers of War, The Fall of An Empire And The Making Of America’s Vietnam trang 469; Hell In A Very Small Place trang 301
(25) Embers of war trang 481
(26) Hell In A Very Small Place trang 313
(27) Sách kể trên trang 461
(28) Sách kể trên trang 461
(29) Sách kể trên trang 462
(30) Stanley Karnow. Vietnam A History trang 435
(31) McNamara, In Retrospect, The Tragedy and Lessons of Vietnam trang 169
(32) Ngô Quang Trưởng, Trận Chiến Trong Mùa Lễ Phục Sinh 1972, trang 16, 17; Stanley Karnow, Vietnam A History trang 440, 441
(33) Richard Nixon, No More Vietnams trang 82
(34) Sách kể trên trang 86
(35) Opposition to the US involvement in the Vietnam war, Wikipedia
(36) Vietnam war Allied troop Levels 1960-73, americanwarlibrary.com
(37) No More Vietnams trang 148
(38) Nguyễn đức Phương, Chiến TranhViệt Nam ToànTập trang 587
(39) No More Vietnams trang 189
(40) List of countries by military expenditures, Wikipedia
(41) Military budget of the People’s Republic of China , Wikipedia
