Chiều. Những chiếc lá vàng lặng lẽ chao xuống vệ đường nằm trơ tấm thân da
bọc xương, những bàn chân ngang qua dẫm tan tành xác lá. Một con chó ghẻ lê la
đi tìm miếng ăn. Đã ba hôm rồi nó không có cái gì vào bụng. Tai nó vểnh lên
chừng như nghe ngóng, hai chiếc mũi hểnh lên hít hít.
Nó mon men vào quán phở. Buổi chiều khá thưa khách. Nó len dưới những gầm
bàn mong tìm thấy chút thức ăn thừa. Một lão nhà giàu đang sì soạp húp nước lèo
trông thấy con chó ghẻ lão vội ngừng ăn xì xằng:
– Chó ghẻ… kinh quá!
Mụ chủ quán béo phúng phính vội vã chạy tới xin lỗi rối rít và xách gậy xua
đuổi con chó. Con chó ghẻ hốt hoảng cong chiếc đuôi nhớp nháp chạy chối chết…
Khi cảm thấy đã an toàn nó dừng lại thở dốc. Một đám trẻ con đi học về trông
thấy con chó liền hùa nhau lấy đá ném.
Chưa kịp thở xong con chó lại một phen chạy thục mạng.
Một thằng bé cười hềnh hệch nói:
– Nhà tớ chả bao giờ nuôi chó. Cái giống ấy bố mẹ tớ bảo là chúa bẩn thỉu.
Một thằng khác nói:
– Nhà tớ thì có nuôi nhưng chỉ nuôi chó Nhật thôi. Chứ chó nội thì không, mà
loại chó ghẻ lở thì cứ phải là “xử đẹp” bố tớ bảo thế…
Con chó cứ cắm đầu chạy cho tới khi lạc vào một con hẻm nhỏ. Trời càng lúc
càng thấp xuống. Chiều mùa thu u uất như bãi đời hoang lạnh. Một lão ăn mày gầy
guộc ngồi nép trong xó tường đang chuẩn bị ăn chiều. Bữa ăn của lão chỉ là bát
cơm nguội xin được từ lúc trưa và hai con cá trích. Trông thấy con chó lão vội
gọi “cúc cúc”, con chó ngước lên nhìn lão bằng ánh mắt dò xét. Không thấy có sự
nguy hiểm nó chầm chậm tiến lại gần. Lão ăn mày xén nửa “khẩu phần” của mình
cho con chó. Nó dúi mõm ăn không kịp nhai. Nhìn nó ăn lão lắc đầu ái ngại, hai
hạt lệ ứa ra khóe mi lão. Trước đây khi còn ở đỡ ăn nhờ thằng con trai lão cũng
đã từng trải qua những lần đói rệu rã nên lão hiểu cái khổ của sự đói khát mà
con chó phải chịu đựng. Bây giờ đi ăn xin tuy không còn đến nỗi không có cái ăn
nhưng nếu lão lại đèo bòng thêm con chó này nữa thì sao? Lão lắc đầu, khẽ thở
dài. Con chó đã xơi sạch phần thức ăn. Lão dành luôn phần mình cho nó. Con chó
không khách sáo ăn tuốt. . .
Đêm. Thành phố ngập trong muôn ánh đèn và nhịp sống sầm uất. Con chó lần mò
vào khu ổ chuột. Nó chỉ dám quẩn quanh ở khu này chứ chả dám léng phéng ra
ngoài kia. Nó sợ những con người giàu có. Trước đây nó là con thú cưng của một
vị đại gia nhưng từ khi nó bị ghẻ thì người ta đã đánh đập vứt bỏ nó.
Lúc chiều nó quấn quýt quanh lão ăn mày ý như xin ở lại nhưng lão đã đuổi nó
đi. Tuy là chó nhưng chừng như nó hiểu “lão nghèo khổ” quá nuôi cái thân lão
chưa đủ nói gì nuôi cả nó. . .
Trời bắt đầu gieo mưa. Thứ mưa nhè nhẹ nhưng buồn não nùng.
Có mấy gã thanh niên đi nhậu về. Đang phóng xe máy vù vù thoáng thấy con chó
chúng liền phanh gấp. Một thằng nhìn lũ bạn cười toe toét:
– Sao tụi mày? Kiếm tiền mai nhậu chứ?
Một thằng khác lắc đầu:
– Chó ghẻ thế này ai thèm mua?
Thằng kia xì một tiếng:
– Ôí dào, bọn “khoái món MỘC TỒN ” chỉ biết cắm đầu ăn chứ làm quái gì biết
chó ghẻ hay chó chết. Mâý tay nhà hàng cũng chỉ biết thu lợi chứ đâu thèm quan
tâm tới an với chả toàn.
Bọn thanh niên vội vàng mở cốp xe lấy đồ hành nghề ra. Con chó bất ngờ bị
thít thòng lỏng vào cổ, hoảng vía nó cố giằng co mong thoát ra nhưng vô ích.
Càng giằng càng bị thắt chặt. Bọn thanh niên lên xe. Con chó ghẻ bị kéo lê đi.
Tiếng rên uất nghẹn của nó bị chặn ngang nơi cổ. Mưa ào xuống như trút. Sấm
chớp đình đoàng như muốn rạch nát màn trời. . . Tiếng rên thảm thiết của con
chó và những tiếng cười man dại của bọn thanh niên nhỏ dần nhỏ dần rồi chìm hẳn
vào vào màn mưa gió vô tình. Ngoài kia nhịp sống thành phố vẫn diễn ra như
thường nhật chẳng ai hay biết phía sau “cuộc sống sa hoa sầm uất” có một “sinh
linh vô tội” vừa bị chính con người cướp đi sự sống. . .
Đang thiu thiu ngủ trong tiếng mưa đêm ảo não lão ăn mày bất ngờ bị đánh
thức bởi tiếng xe máy gầm rú. Lão ngồi hẳn dậy. Đập vào ánh mắt lờ mờ của lão
là hình ảnh mấy tên thanh niên ngồi trên những chiếc xe “bụi” hả hê văng tục.
Con chó ghẻ nhìn thấy lão. Nó đưa ánh mắt thảm đạm hướng về phía lão, chừng
như muốn gửi lời biết ơn về bữa cơm cuối cùng trong cuộc đời bé nhỏ của mình
tới lão. Như một linh tính lão ăn mày cũng đã nhìn thấy nó. Con chó đáng thương
như số phận của lão. Một sức mạnh tiềm tàng từ đâu trỗi dậy, lão tung chăn lao
ra giữa đường chặn ngang bọn thanh niên. Một thằng hét toáng lên:
– Á. Lão già chết dẫm này, lão chán sống à.
Cả bọn dừng xe lại. Một thằng khác xấn tới nắm cổ áo lão:
– Này mắt mũi để đâu lão già. Chán đời cũng phải biết tìm nơi chốn nhé.
Lão ăn mày bình tĩnh nói:
– Các anh thả con chó đó ra.
Một tên thanh niên xì mũi:
– Tại sao chúng tôi phải thả nó ra?
– Vì đây là con chó của lão. Xin các anh đừng bắt nó. Bây giờ tôi chỉ có
mình nó bầu bạn thôi. Lão hạ giọng.
Một gã khác chen vào:
– Kệ xác lão. Chó của lão cũng đâu liên quan gì tới bọn này. Bèo bọt cũng
bán được ba bốn trăm ngàn thả nó ra mất mẹ bữa nhậu à.
Lúc này con chó đã hơi hoàn hồn. Nó ngước đôi mắt u buồn nhìn lão ăn mày
miệng ư ử như muốn nói gì đó. Nếu biết tiếng người hẳn nó sẽ nói “Cảm tạ lòng
tốt của ông. Nhưng cái phận tôi sống đã khốn nạn lắm rồi chết đi có khi lại là
sự giải thoát. Xin ông đừng đôi co với bọn bất lương này nữa kẻo gánh vạ vào
thân”
Lão ăn mày quay sang nhìn con chó, ánh mắt buồn rượi của nó rọi vào trái tim
già nua của lão. Hai hạt lệ ứa qua khóe mi gầy. Trong phút chốc một quyết định
lóe lên trong tâm trí, lão lần lưng quần lấy ra một bọc nhỏ trao cho bọn thanh
niên, nói:
– Đây là toàn bộ số tiền dành dụm của lão, xin các anh nhận lấy và tha cho
con chó tội nghiệp của lão.
Một tên chừng như là thủ lãnh của cả bọn “chộp” lấy túi tiền cười hỉ hả:
– Xem như lão biết điều. Rồi quay qua tên cầm thòng lọng gã bảo: “giải phóng
cho nó mày”
Đám thanh niên rồ máy và phóng vào màn đêm tăm tối. Con chó thoát khỏi tay
lũ tử thần gắng gượng vẫy chiếc đuôi cáu bẩn lê về phía lão ăn mày. Lão ôm nó
vào lòng và òa khóc như một đứa trẻ. Trời đã dứt mưa, chỉ còn vài sợi gió buồn
buồn bỡn cợt những tàng cây. Khu phố nghèo chìm trong giấc khuya bình thản.
Từ hôm đó con chó và lão ăn mày trở thành tri kỷ của nhau. Ngày nó cùng lão
lê la qua khắp thành phố xin ăn. Đêm nó nằm cạnh canh giấc ngủ cho lão. Bất kể
mưa nắng, nóng lạnh, sáng tinh mơ người ta đã thấy một người một chó dìu dắt
nhau đi, tối mịt người ta mới thấy họ trở về căn nhà bé nhỏ của mình “một góc
tường lở loác “. Dẫu sống trong cảnh cơ hàn tăm tối ấy nhưng đêm nào người ta
cũng nghe vẳng từ chốn “nghèo hèn ấy” tiếng hát của lão ăn mày và tiếng con chó
ử ử phụ họa. Những bài hát của lão chẳng ra một hệ thống nào nhưng thảy đều
chung một chủ đề đó là “sự tráo trở bạc đen của thói đời, sự ghẻ lạnh của tình
người, sự bất hiếu vô ơn của con cháu đối với ông bà cha mẹ”. Chẳng biết con
chó có hiểu gì không nhưng sau khi lão ngừng tiếng hát nó lại thoáng “thở dài
“, rồi như muốn an ủi lão nó dụi dụi cái móm trụi lơ vì ghẻ lở của mình vào tay
lão . Lão vuốt ve thân thể gầy rược của nó thầm thì:
– Kiếp động vật như mày lại có tình hơn kiếp người như chúng tao.
Lão khóc. Tiếng khóc nghẹn lại nơi cổ. Lão ngước nhìn bầu trời đêm. Những
ánh sao nhấp nháy nhìn lại lão. Lão nhớ có lần hồi lão còn trẻ lão đọc được ở
đâu đó đại thể: Một sinh linh trên thế gian này khi chết đi sẽ hóa thành một vì
sao. Những kẻ ác thì thành những vì sao u ám và những ai có trái tim nhân ái sẽ
thành những vì sao sáng chói trên bầu trời. Không biết sau này khi lão từ bỏ
cõi trần bụi bặm này linh hồn lão có hóa thành những vì tinh tú xa xăm kia
không? Và mày nữa, lão thầm nói với con chó, hi vọng mày cũng trở thành một vì
sao sáng. Lão cười. Lão thấy mình thật ngớ ngẩn. Thực tại kiếm miếng ăn còn
chưa ra ngồi đó mà mơ tưởng chuyện “huyễn hoặc”. Lão nằm xuống ôm con chó vào
lòng, cả người và chó chầm chậm đi vào giấc ngủ. Lão mơ thấy mình và con chó
bình yên rảo bước trong một vườn hoa rực rỡ, trên đầu đội một chiếc vòng chói
ngời những vì tinh tú. . .
Lão ốm. Toàn thân nóng hầm hập như vôi nung. Suốt ba hôm liền lão không
gượng dậy nổi. Con chó lang thang vào phía trong khu phố sầm uất. Nó sục sạo từ
sáng tới tối mới kiếm được chút thức ăn, khi thì mẩu bánh, lúc cục xôi của
những nhà giàu bỏ đi trong đám rác thải. Không ít lần nó bị người ta mang gậy
đuổi chối chết vì cái tội lùng xục vây bẩn. Từ lâu giữa lão ăn mày và con chó
ghẻ đã không còn sự phận biệt tầng lớp cấp cao hay hạ đẳng, người và chó như
hai kẻ đồng cam cộng khổ nên những gì nó đưa về lão đều sẵn sàng ăn.
Vì không biết nói như người nên không thể mở miệng xin sự bố thí của người
đời và thức ăn thừa người ta quẳng đi cũng có giới hạn nên có hôm con chó chả
kiếm được gì, những buổi như thế chó và người phải nhịn đói. Lão ăn mày ngày
càng ốm nặng thêm. Mọi bận lão chỉ ốm vài ba hôm không hiểu sao lần này đã mười
ngày trôi qua bệnh của lão không hề có dấu hiệu khả quan. Số tiền dành dụm cả
đời ăn xin của lão đã bỏ ra “chuộc mạng cho con chó” nếu không lão đã gắng đi
tìm hiệu thuốc mua thuốc uống.
Đêm nay lão ăn mày đã chìm sâu vào giấc ngủ sau một cơn ho sặc sụa. Con chó
ghẻ gối đầu lên chân nghếch mõm nhìn sao trời. Tiếng gió mùa thu luồn qua những
mái nhà tồi tàn tạo ra những âm thanh rặc rượi buồn. Những chiếc lá vàng lìa
cành buông xuống con ngõ dài hun hút không một ánh đèn, chốc chốc bị gió đùa
bật ra những cung âm như tiếng thở dài những mảnh đời quèn.
– Chó! chó!!! Bắt lấy con chó. Cha mẹ nó đồ chó mất dạy.
Mụ bán thịt lợn be be kêu lên như rống. Mọi người vội vàng đổ dồn ánh mắt về
phía mụ. Một con chó ghẻ miệng ngoạm miếng thịt đang luồn qua những chân bàn
tìm đường tẩu thoát. Một mụ đàn bà ăn mặc ra dáng sang trọng chạy lại hỏi giọng
quan tâm:
– Chuyện gì vậy chị?
Mụ bán thịt nhấm nhặng:
– Tổ cha đứa nào nhà vô nhân thất đức bày dạy cho cả chó đi ăn cướp. Đó đó
con chó ấy đó, nó vừa ngoạm mất gần kilogam thịt của tôi.
Mụ nhà giàu nhìn nhanh theo con chó:
– Aí dà thời này còn rảy nòi ra cái giống này nữa hả.
Dứt lời mụ ta đuổi theo cầm chiếc làn giáng luôn mấy phát vào đầu con chó
miệng la bài hãi: “Bà con giúp tôi chặn lại giết quách con chó khốn nạn này
cái.”
Những người xung quanh thấy không phải chuyện của mình nên chả ai thèm chen
vào. Mụ nhà giàu và con chó ghẻ vờn nhau một lát, cuối cùng con chó cũng luồn
ra khỏi những dãy chân bàn nhắm thẳng hướng cổng chợ chạy bán sống bán chết. Về
tới “nhà” con chó buông miệng thịt xuống thở dốc. Hồn nhập lại xác nó tiến về
phía lão ăn mày. Chừng như lão đang ngủ. Nó ghé mình nằm xuống cạnh lão. Lát lão
dậy, nó và lão sẽ “dùng bữa”. Lạnh lẽo. Nhịp thở của lão ăn mày hình như không
còn nữa. Con chó vùng dậy. Nó ngoàm áo lão day day. Im lặng. Nó liếm mắt lão,
miệng ưng ửng kêu. Im lặng… Tất thảy lúc này chỉ còn sự im lặng đáng sợ bao
trùm…
Lão ăn mày đã chết . Lão chết vì viêm phổi cấp. Khi lão sống không ai thèm
ngó ngàng tới lão nhưng khi lão chết “người ta không thể để xác lão nằm đó bốc
mùi”. Khu phố nghèo hùn nhau tích góp mua cỗ áo quan và đưa lão đi chôn ngoài
khu nghĩa trang dành cho tầng lớp bình dân. Không kèn không trống. Không lời
phúng điếu, không một tiếng khóc gọi là sự sưởi ấm linh hồn kẻ xấu số. Người ta
chôn lão như chôn một con chó con mèo, chỉ sang trọng hơn nhờ có cỗ quan tài rẻ
tiền.
Ba ngày liền người ta thấy một con chó ghẻ nằm trước mộ lão ăn mày, cạnh nó
là một miếng thịt đã bốc mùi hôi thối. Trước lúc lão ra đi về nơi cuối cùng của
niềm đau nó và lão chưa kịp ăn với nhau bữa ăn cuối cùng.
Sang ngày thứ tư. Ngày thứ năm. . . Hơn mười ngày tiếp theo sau một đêm mưa
gió tơi bời, sáng sớm ra người ta nhìn thấy xác con chó nằm co quắp bên ngôi
mộ. Nó đã chết vì mưa và giá lạnh. Cái giá lạnh u buồn cuối mùa thu. Nó từ giã
sự băng giá của cõi người để tìm về sự ấm áp bên cạnh con người khốn khổ đã cưu
mang và xem nó là bạn, đã đối xử với nó bằng tình yêu thương…
Ngày mai đã là mùa đông. Cả thành phố lại rợp màu sắc sặc sỡ của hàng trăm
loại áo khoác người ta khoác lên người để chắn che cái khắc nghiệt của thời
tiết. Nhưng phía sau những tấm áo lòe loẹt kia nơi sâu thẳm trái tim mỗi con
người có thật sự ấm chăng?
Trương Đình Phượng
