Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm (1930- 2017)
Có bữa tôi đang ngồi lơ tơ mơ hút thuốc thì chuông điện thoại reo:
– Tiến hả?
– Dạ…
– Vũ Đức Nghiêm đây…
– Dạ…
– Anh buồn quá Tiến ơi, mình đi uống cà phê chút chơi được không?
Tôi nhận lời sau một lúc tần ngần nên tuy miệng nói “được” mà cái giọng (nghe)
không được gì cho lắm. Tôi cũng thuộc loại người không biết làm gì cho hết đời
mình nên thường rảnh nhưng không rảnh (tới) cỡ như nhiều người trông đợi. Sống
ở Mỹ, chớ đâu phải Mỹ Tho mà muốn đi đâu thì đi, và muốn đi giờ nào cũng được –
mấy cha?
Khi Mai Thảo và Hoàng Anh Tuấn còn trên dương thế, thỉnh thoảng, tôi cũng
vẫn nghe hai ông thở ra (“anh buồn quá Tiến ơi”) y chang như thế. Chỉ có điều
khác là ông nhà văn khi buồn thì thích đi uống rượu, ông thi sĩ lúc buồn lại
đòi đi … ăn phở, còn bây giờ thì ông nhạc sĩ (lúc buồn) chỉ ưa nhâm nhi một
tách cà phê nóng. Ai sao tui cũng chịu, miễn đến chỗ nào (cứ) có bia bọt chút
đỉnh là được!
Vũ Đức Nghiêm sinh sau Mai Thảo và trước Hoàng Anh Tuấn. Ông chào đời vào
năm 1930. Hơn 80 mùa xuân đã (vụt) trôi qua. Cả đống nước sông, nước suối –
cùng với nước mưa và nước mắt – đã ào ạt (và xối xả) chẩy qua qua cầu, hay trôi
qua cống. Những dịp đi chơi với ông (e) sẽ cũng không còn nhiều lắm nữa. Tôi
chợt nghĩ như thế khi cho xe nổ máy.
Quán cà phê vắng tanh. Nhạc mở nhỏ xíu nhưng tôi vẫn nghe ra giai điệu của một
bài hát rất quen:
Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió thì thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.
Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho lòng nhớ thương…
– Hình như là nhạc Vũ Đức Nghiêm … Anh nghe xem có đúng không? Tôi đùa.
– Em nói nghe cái gì?
– Anh thử nghe nhạc coi…
– Nhạc của ai?
Tôi chợt nhớ ra là ông anh đã hơi nặng tai nên gọi cô bé chạy bàn:
– Cháu ơi, người ngồi trước mặt chúng ta là tác giả của bản nhạc Gọi Người
Yêu Dấu mà mình đang nghe đó. Cháu mở máy lớn hơn chút xíu cho ổng … sướng nha!
Thấy người đối diện có vẻ bối rối vì cách nói vừa dài dòng, vừa hơi quá
trịnh trọng của mình nên tôi cố thêm vào một câu tiếng Anh (vớt vát) nhưng ngó
bộ cũng không có kết quả gì. Đúng lúc, chủ quán bước đến:
– Cháu nó mới từ Việt Nam sang, ông nói tiếng Mỹ nó không hiểu đâu. Ông cần
gì ạ?
– Dạ không, không có gì đâu. Never mind!
Tôi trả lời cho qua chuyện vì chợt nhận ra sự lố bịch của mình. Cùng lúc,
bản nhạc của Vũ Đức Nghiêm cũng vừa chấm dứt. Tôi nhìn anh nhún vai. Vũ Đức
Nghiêm đáp lại bằng một nụ cười hiền lành và … ngơ ngác!
Tự nhiên, tôi thấy gần và thương quá cái vẻ ngơ ngác (trông đến tội ) của
ông. Tôi cũng bị nhiều lúc ngơ ngác tương tự trong phần đời lưu lạc của mình.
Bây giờ hẳn không còn ai, ở lứa tuổi hai mươi – dù trong hay ngoài nước – còn
biết đến tiếng “Gọi Người Yêu Dấu” (“ngập ngừng tha thiết bồn chồn”) của Vũ Đức
Nghiêm nữa. Thời gian, như một giòng sông hững hờ, đã vô tình bỏ lại những bờ
bến cũ.
Vũ Đức Nghiêm, tựa như một cây cổ thụ hiếm hoi, vẫn còn đứng lại bơ vơ bên
bờ trong khi bao nhiêu nhạc sĩ cùng thời đều đã ra người thiên cổ. Trúc Phương
là một trong những người này. Qua chương trình Bẩy Mươi Năm
Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam, nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam đã cho biết
nhiều chi tiết vô cùng thê thiết về cuộc đời của người viết nhạc (chả may) này.
Trang sổ tay hôm nay, chúng tôi xin được nắn nót ghi lại đây những nhận xét
của Hoài Nam, và mong được xem như một nén hương lòng (muộn màng) gửi đến một
người đã khuất:
“Trúc Phương là một trong những nhạc sĩ gốc miền Nam được yêu mến nhất, từng
được mệnh danh là ông vua của thể điệu Bolero tha thiết trữ tình. Ông tên thật
là Nguyễn Thiện Lộc, ra chào đời năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh
Trà Vinh, tức Vĩnh Bình – một xứ Chùa Tháp thu nhỏ ở vùng hạ lưu sông Cửu
Long…”
Tháng 4 năm 1975, Trúc Phương bị kẹt lại. Năm 1979, ông vượt biên nhưng bị
bắt và bị tù. Sau khi được thả, cuộc sống của ông trở nên vô cùng thê thảm về
thể xác vật chất cũng như tinh thần. Trong một đoạn video phỏng vấn ông, được
Trung Tâm Asia phổ biến tại hải ngoại, Trúc Phương cho biết:.
“Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rài đây mai đó,’bèo dạt hoa
trôi’… Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có
ngày nào gọi là no…Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi
sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không
ai đùm bọc ai được…đến nửa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc, lúc đó thì
bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy
thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả.Tôi nghĩ ra được một cách..là tìm nơi
nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra
giấy tờ…Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc
chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng…thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp
chiếc chiếu trả người ta..thế là mình lấy 1 đồng về….như là tiền thế chân…Một
năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng…Mà nói anh thương…khổ lắm….Hôm nào
mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi
thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí
mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi
,tôi đành phải trải chiếu gần chỗ ‘thằng cha đi tiểu vỉa hè’, thế rồi cũng phải
nằm thôi.Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát…mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái
hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn …Tôi nghĩ mà thôi , còn sống cho
tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…”
Chất liệu, rõ ràng, đã có (và có quá dư) nhưng cơ hội để Trúc Phương viết bài
sau này (tiếc thay) không bao giờ đến – vẫn theo như lời của nhà phê bình âm
nhạc Hoài Nam:
“Vào một buổi sáng năm 1996, Trúc Phương không bao giờ thức dậy nữa. Ông đã
vĩnh viễn ra đi. Tất cả gia tài để lại chỉ là một đôi dép nhựa dưới chân. Thế
nhưng xét về mặt tinh thần Trúc Phương đã để lại cho chúng ta một di sản vô
giá.”
“Chúng ta ở đây là những người yêu nhạc, trong nước cũng như hải ngoại, bên
này cũng như bên kia chiến tuyến. Bởi vì hơn ba mươi ca khúc nổi tiếng của ông
cho dù có một hai bài có nhắc đến chữ ‘cộng hoà’ vẫn phải được xem là những
tình khúc viết cho những con người không phải cho một chế độ chính trị nào.
Những con người sinh ra và lớn lên trong một cuộc chiến không lối thoát với
niềm khắc khoải chờ mong một ngày thanh bình . Cuối cùng thanh bình đã tới
nhưng không phải là thứ thanh bình mà những ‘con tim chân chính’ trong nhạc của
Lê Minh Bằng hằng mơ ước mà là thứ thanh bình của giai cấp thống trị, của một
thiểu số may mắn nào đó. Chính cái thanh bình ấy đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng
trong đó có người Việt Nam xấu số đáng thương tên Nguyễn Thiện Lộc, tức nhạc sĩ
Trúc Phương nổi tiếng của chúng ta.”
Thôi thì cũng xong một kiếp người! Và dòng đời, tất nhiên, vẫn cứ lạnh lùng
và mải miết trôi. Sáng nay, tôi lại chợt nhớ đến Trúc Phương sau khi tình cờ
đọc được một mẩu tin ngăn ngắn – trên báo Pháp
Luật, phát hành từ trong nước:
“Ngày 31-1, một số cán bộ hưu trí, người dân ở phường Bình Hưng Hòa B (quận
Bình Tân, TP.HCM) bức xúc phản ánh cuộc họp mặt đầu năm do phường tổ chức …
Ngay phần khai mạc lúc gần 9 giờ sáng, trên nền nhạc hip hop, hai phụ nữ ăn mặc
hở hang, thiếu vải lên nhún nhảy, múa những động tác khêu gợi. Hai thanh niên
múa phụ họa. Quan sát đoạn video chúng tôi thấy nhiều cán bộ hào hứng xem tiết
mục ‘lạ mắt’ này. Có cán bộ còn dùng điện thoại quay lại cảnh hai cô gái biểu
diễn, ưỡn người và ngực về phía khán giả. Nhiều người tham gia rất hào hứng,
chỉ trỏ, thì thầm vào tai nhau…
Chúng tôi tiếp tục liên lạc với bà Nguyễn Thị Bích Tuyền, Phó Chủ tịch
phường kiêm Chủ tịch Công đoàn phường … bà Tuyền lý giải: ‘Tiết mục múa chỉ
diễn ra gần 3 phút và đây là vũ điệu theo phong cách Hawaii nên hơi lạ…”
Nếu ngay sau khi chiếm được miền Nam mà qúi vị cán bộ cộng sản cũng có được
cách “lý giải” tương tự thì thì Mai Thảo, Hoàng Anh Tuấn … đã không phải bỏ
thân nơi đất lạ. Vũ Đức Nghiêm cũng đã tránh được những giây phút bơ vơ, ngơ
ngác, lạc lõng ở xứ người. Và Trúc Phương thì chắc chắn vẫn sẽ còn ở lại với
chúng ta, vẫn có những đêm khắc khoải buồn vào hồn không tên, thay vì nằm chết
cong queo trong đói lạnh – trên một manh chiếu rách – với tài sản duy nhất còn
lại chỉ là một đôi dép nhựa.
Mọi cuộc cách mạng luôn luôn có cái giá riêng của nó. Riêng cái thứ cách
mạng (thổ tả) của những người cộng sản Việt Nam thì đòi hỏi mọi người đều phải
trả cái giá (hơi) quá mắc mà thành quả – xem ra – không có gì, ngoài tội ác!
Tưởng Năng Tiến
