
“Người nào
trong các người chưa từng phạm tội,
hãy ném đá người
nầy trước đi!” (John 8:7)
Tôi kể người Đức
mừng lễ Giáng Sinh rất kỹ, ngay từ đầu tháng mười một người ta đã bày bán những
vòng hoa Advent với bốn ngọn nến để chuẩn bị cho tuần vọng, và chưng như vậy
mãi cho đến lễ Ba Vua, ngày mùng sáu tháng Giêng mới tháo đèn, tháo hoa và mang
thông đi vất. Tôi cười:
- Điều buồn cười
là nôn nả như vậy đó, nhưng khi mua những vòng hoa Advent về, thì người ta cũng
phải đợi đến ngày thứ nhất của tháng mười hai mới được đốt lên ngọn đầu tiên.
Chonteaul bảo
tôi:
- Ở Hoa Kỳ cũng
có bán nhiều Advent wreath, nhưng phần lớn người ta chỉ chưng chứ không đốt. Và
nếu có đốt thì thường là cả bốn ngọn vào đêm Giáng Sinh. Không rõ có ai mỗi tuần
đốt một ngọn như vậy không.
Tôi nói có lẽ
truyền thống ấy phổ biến ở Âu châu nhiều hơn ở đây. Chonteaul “ờ”, rồi cười:
- Nhưng là tín đồ,
thì đốt tuần tự mỗi tuần thêm một ngọn, hay đốt cùng một lúc cũng giống nhau vì
đó chỉ là biểu tượng của sự sáng. “Sự sáng đã đến thế gian”, phúc âm John nói
như thế, đúng không?
Tôi cười, trêu
Chonteaul giỏi Kinh Thánh. Cô không nói gì, nhưng lát sau bỗng nói:
- Chị được đi nhiều
nơi, sống ở nhiều nơi, thích ha.
Tôi phì cười:
- Đi nhiều thì khổ
nhiều, sống nhiều nơi thì cực nhiều chứ hay ho gì. Cuộc sống đẩy đưa tôi mới phải
đi như thế chứ đâu có muốn.
Chonteaul trêu lại:
- Rồi chị có định
qua châu Phi sống không?
Tôi đáp có thể
khi các cháu tôi lớn thì tôi đi theo đoàn truyền giáo sang Honduras ở Nam Mỹ
hay đi Mozambique sống vài năm… Chonteaul bật cười còn lớn, hỏi như vậy là đủ
năm châu và không còn chỗ nào chị muốn đi và muốn sống nữa phải không. Tôi ngó
cô, nửa đùa nửa thật:
- Còn chứ, còn
thiên đàng nữa. Tôi sẽ đi thiên đàng vì tôi tin vào sự giáng sinh, sự thương
khó và sự chết của Chúa Giê su. Tôi cũng thuộc Kinh Thánh như cô, tôi biết khi
Chúa Giê xu về trời có nói “ta đi sắm sẵn cho các con một chỗ, hễ ta ở đâu thì
các con cũng sẽ ở đó”.
Chonteaul gật gù:
- Tôi cũng sẽ tới
đó vì tôi tin Chúa giống như chị.
Chonteaul hỏi tôi
có thích thành phố này không và đã đi những nơi đâu. Tôi đáp hầu hết những nơi
có cảnh đẹp tôi đều được giới thiệu và được đến tận nơi. Chonteaul bỗng cười cười,
“ngó vậy chứ có một chỗ ở thành phố này tôi đã tới, còn chị thì chẳng bao giờ
đâu”… Tôi hỏi là nơi nào mà ly kỳ vậy. Chonteaul im, lát sau mới đáp là hôm nào
có dịp tôi sẽ nói cho chị nghe.
Chonteaul là một
trong những người hát chính của Hội Thánh tôi đang sinh hoạt. Phần lớn tín đồ ở
đây là người Mỹ da trắng gốc đông Âu, Nga, Ukraine, kế đến là người gốc Na Uy,
Thụy Điển, Đức, Ba Lan, và rồi người Mỹ da đen. Số ít còn lại là châu Mỹ La
tinh đến từ Columbia, Uruguay, Chile. Và thành phần cuối cùng là… tôi, người vẫn
thường tự giễu mình vừa được hân hạnh là người châu Á duy nhất, cũng vừa là đại
diện “một và chỉ một mà thôi” cho châu Đại Dương. Mục sư của chúng tôi hay đùa
Hội Thánh ông đang quản nhiệm là một hiệp chủng quốc Hoa Kỳ thu nhỏ, vì cũng giống
như Hoa Kỳ, rất non tuổi đời nhưng tụ họp nhiều người đến từ khắp nơi trên địa
cầu. Mà thật là ngôi nhà thờ này mới được xây chỉ khoảng độ hơn mười năm, Hội
Thánh cũng chỉ thành lập sau đó không lâu, nên có thể được kể là một Hội Thánh
trẻ. Ngoài ra thì ngay cả mục sư quản nhiệm cũng chỉ lớn hơn con tôi chừng một
vài tuổi, còn ban chấp hành và ban hát có người chỉ mới vừa đủ quyền công dân,
có người vừa mới rời college, có người mới thành hôn. Chonteaul là người lớn tuổi
nhất trong ban hát ấy.
Lần đầu tôi nói
chuyện với Chonteaul là buổi sinh hoạt hằng năm của phụ nữ tại nhà thờ. Đề tài
thảo luận cho vui, nói về truyền thống đón Giáng Sinh ở những nước khác nhau
trên thế giới. Tôi tham gia kể chuyện Noel ở ba châu lục tôi từng sống qua. Lúc
trở lại ghế ngồi, Chonteaul bảo thấy cuộc đời tôi thật thú vị vì nhiều màu sắc
chứ không như cô, chỉ có đen hoặc xám. Tôi lắc đầu nói không phải vậy đâu, rồi
kể sơ qua về gia cảnh của mình như vẫn thường chia xẻ những nỗi buồn, những mất
mát của bản thân mình với những người thân quen để an ủi, rằng cuộc đời vốn nhiều
đau khổ nên bất cứ người nào cũng có thể phải gánh chịu chứ không riêng gì ai.
Chonteaul lắng nghe và gật đầu.
Chonteaul có một
giọng hát rất mạnh nhưng trầm ấm, phù hợp hoàn toàn với phong cách của ca đoàn
này. Là một Hội Thánh trẻ, ban lãnh đạo cũng trẻ nên từ cách thờ phượng, đến âm
nhạc đều khác khác hẳn với những nơi tôi từng sinh hoạt trước đây. Rock and
Roll, Techno cho đến cả Rap cũng được xử dụng. Hiếm hoi lắm mới nghe thấy một
bài có âm hưởng của Bach, đồng thời gần như những thánh ca truyền thống chỉ được
hát trong mùa lễ Giáng Sinh hay Phục Sinh, như thể để cho những tín đồ lão
thành cỡ… tôi đỡ thấy lạc lõng, cách biệt. Tuy nhiên có một điều cũng khá thú vị,
là đi nhà thờ này vài năm dường như đã quen, nên thỉnh thoảng có dịp đến các tiểu
bang khác, hoặc về Sàigòn, vào các nhà thờ “truyền thống” với lối thờ phượng cổ
điển, kể cả là nhà thờ Mỹ, tôi vẫn cảm thấy như thiêu thiếu một cái gì. Bầu
không khí nghiêm trang đến độ không ai dám rục rịch, không ai dám ho tiếng lớn ở
một vài thánh đường, cộng thêm các bản thánh ca có âm điệu du dương trầm bổng
giống nhạc thính phòng khiến có lúc tôi không dám nói là mình bị… buồn ngủ,
nhưng thật tình là tôi đã… đứng ngồi không yên. Tôi cứ nhơ nhớ cái không khí
sôi động, nhớ tiếng vỗ tay, tiếng reo mừng, tiếng tạ ơn rộn rã.
Năm đầu tiên khi
tôi mới đến nhà thờ này thì Chonteaul chưa vào ban hát. Tôi không nhớ rõ cô được
chọn vào lúc nào, nhưng không thể nào quên được hình ảnh lần đầu tiên cô xuất
hiện trên bục thờ phượng. Và mặc dầu tôi không phải là người chỉ quen với sự kỉnh
kiềng, nghiêm trang, khi nghe tiếng trống đờn ầm ĩ hay tiếng vỗ tay lào rào, rồi
lại thấy ca đoàn lắc lư, giơ tay lên giơ tay xuống lúc hát thánh ca thì khó chịu,
nhưng tôi đã chựng đi mất mấy giây lúc chạm mắt đến Chonteaul. Hôm ấy cô mặc một
cái quần jeans bó sát với những đường vải xé rách ở đùi và gối, cùng một cái áo
thun rộng kiểu asymetric slanted, nghĩa là một bên vạt thật dài còn vạt bên kia
thì khá ngắn. Một bộ đồ có thể nói là thích hợp để đi chơi ngoài phố vào mùa hè
hơn là đứng trước đám đông, mà lại đám đông của nhà thờ, như thể vượt quá con mắt
nhìn bình thường của tôi khiến tôi hơi xốn xang.
Chonteaul là một
người phụ nữ khá lạ. Khá khác thường. Tôi ít khi có dịp trò chuyện với cô,
nhưng lần nào thấy tôi, cô cũng nhoẻn miệng cười, vui vẻ chào hỏi trước bằng một
lối chào hỏi cũng vô cùng đặc biệt. Về sau này tôi đã gọi đó là loại chào có…
nam châm. Bởi vì ở xa hay ở gần, ở trong hay ở ngoài khuôn viên nhà thờ, gặp mặt
là chào, nhìn thấy là cười thì đã đành, mà cái nụ cười “welcome” của cô bao giờ
cũng mở lớn hết cỡ, cộng thêm một tiếng reo to mừng rỡ như thể đã lâu ngày lắm
rồi mới có dịp gặp lại nhau, khiến người được chào dầu không thích cũng phải cười,
phải chào đáp lại. Trông cô lúc nào cũng vui mừng. Cũng hoan hỉ. Cũng
thành tâm. Cũng rạng rỡ, đến nỗi tôi đã phải tự hỏi không biết cô gái này lấy
đâu ra năng lượng để mà vui vẻ mãi như vậy.
Ban đầu Chonteaul
“hiện” ra trong mắt tôi hơi “kỳ kỳ”, nhưng dần dà về sau tôi bị cái nụ cười
tươi tắn ấy khuất phục lúc nào không hay. Như thể tôi bị “lây” bởi những niềm
vui biểu hiện hết sức tự nhiên trên mặt của cô, bị cuốn vào cái hạnh phúc nào
đó mà người phụ nữ này đang có được. Dẫu có nghe cô nói đời cô chỉ là màu đen
hoặc xám, nhưng tôi không hề biết cô đã khóc nhiều hơn tôi, không hay sự bất hạnh
và bão tố đi qua đời mình chẳng thấm thía chút nào so với những gì Chonteaul đã
chịu. Mãi đến tận gần lễ Giáng Sinh năm nay, tôi mới biết chốn mà Chonteaul bảo
tôi không thể tới, không thể sống được là ở đâu.
Như hầu hết các
nhà thờ tôi đã sinh hoạt, mỗi năm vào một ngày nào đó trước lễ Giáng Sinh thì
có một buổi nhóm thay vì được nghe giảng luận, sẽ nghe một hay vài thành viên của
Hội Thánh kể về ơn phước họ có được từ Chúa, hoặc Chúa đã thay đổi cuộc đời họ
như thế nào. Người nói tiếng Anh dùng chữ “testimony”, người Việt gọi là “làm
chứng”, còn một mục sư tôi quen thì thích dùng chữ “trải nghiệm”. Cuộc đời của
cô gái hay cười này, có lẽ nên nói là cả một chuỗi dài của những trải nghiệm,
vượt qua thương đau như thế. Cô kể nhà tù là nơi cô đã vào ra nhiều lần, cả hai
loại jail và prison, tạm giam và có án, với đủ loại tội phạm. Tội đầu tiên
trong đời là đánh nhau. Hay nói đúng hơn là cô đánh một cô bạn cùng lớp với lý
do là vì khi cãi nhau, cô bạn này đã la lớn, khai ra trước lớp cái bí mật của
Chonteaul, nói cho tất cả bạn bè biết là Chonteaul đang có bầu ở tuổi vị thành
niên.
Chonteaul kể đến
đây thì bật cười, cũng vẫn cái nụ cười tươi tắn như mọi ngày:
- Thành thật mà
nói là con bé này đã bị đánh rất oan ức. Bởi vì nó đã không nói bậy về tôi,
không nói sai sự thật về tôi. Và tôi, lúc ấy mười sáu tuổi, có bầu thật, sắp có
con thật, còn đang hoang mang không biết phải đối phó với hoàn cảnh của mình
như thế nào, khi thấy bí mật bị lộ ra, đã hoảng hốt đến cùng cực. Tôi đã nghĩ
phải nhất định xông vào con bé này đánh cho nó một trận để nó chừa cái tội lẻo
mép. Nhất là lúc nó la bai bải lên tại tôi giống mẹ tôi, chưa nứt mắt mà đã có
quan hệ tình dục với người nọ người kia, nên khi mang thai rồi thì không ai chịu
nhận trách nhiệm…
Chonteaul nói hiếm
có một đứa bé mười sáu tuổi biết được mình đã làm sai những gì, và càng khó nhận
thức là mình đã làm người khác tổn thương ra sao. Vì vậy nên khi bị bạn làm cho
đau đớn bằng lời, thì Chonteaul đã trả đũa lại bằng hành động. Cô đã nhào đến
đánh cô bạn gái tới sưng cả mặt. Cô kể:
- Kết quả cuối
cùng thì tôi bị vô khám mặc dầu bạn tôi đã nói lời xin lỗi trước tòa … Tù thì
tù! Lúc ấy tôi chỉ nghĩ chuyện mình cố giấu đã bị phanh phui, nên không còn sợ
gì nữa. Nhưng khi được thả về nhà rồi, tôi bỗng nhận ra là nhà tù thật không có
gì ghê gớm lắm như mình đã tưởng, mà ngược lại cái nhà giam ở ngoài đời mới
đáng sợ. Tôi sợ ánh mắt khinh khỉnh của người khác. Tôi sợ tiếng chì tiếng bấc.
Tôi sợ người ta chỉ trích việc của tôi làm… Vì thế tôi gần như mất hẳn thăng bằng
hơn với chung quanh. Vừa xấu hổ, vừa có cảm giác bị xem thường, lại bị hất hủi,
xa lánh thật, thêm vào đó là không tìm được sự trợ giúp tinh thần của người
thân, càng lúc tôi càng bất ổn và suy sụp. Cuối cùng, hệt như nhiều đứa trẻ
mang thai ở tuổi vị thành niên khác, tôi bỏ học, lang thang, sau đó đã trở
thành môt đứa nghiện ngập, hút xách, rồi kế đến là trộm cắp và bê tha. Tôi làm
đủ thứ chuyện phạm pháp, vào tù ra khám như cơm bữa.
Chonteaul kể cô
có thêm một đứa con khác ở tuổi mười bảy, rồi lại một đứa nữa ở tuổi hai mươi.
Không ai thừa nhận, không ai giúp nuôi con, cho đến khi nuôi không nổi nữa, cô
đã mang đứa bé nhất đem cho một gia đình không có con. Cô bảo thật ra đó là cái
quyết định làm cô đau đớn, nhưng vì cô không muốn lập lại những điều mẹ cô đã
làm với cô, nên đành phải nhận chịu sự chia cách với đứa bé.
Chonteaul cũng là
một đứa trẻ vô thừa nhận, nhưng bị ruồng bỏ một cách rất tàn nhẫn. Mẹ cô đã
mang thai cô lúc mới chỉ vừa mười bốn tuổi như lời cô bạn nói. Vì sợ hãi, vì
không dám nói ra với người lớn, và chắc có lẽ không làm sao bỏ được cái thai
đi, nên mẹ cô đã phải mang rồi sinh cô ra. Nhưng khi Chonteaul được hai tháng
thì bà mẹ trẻ này quyết định bỏ trốn, quyết định phủi tay với cô, do đó đã mang
cô ra ngoài trời bão tuyết, để nằm dưới một gốc cây với hy vọng là cô sẽ chết
đi vì thời tiết giá lạnh. Nhưng chính ngay giữa lúc cô sắp sửa không còn hơi để
khóc nữa, bà ngoại cô đột ngột trở về nhà từ chỗ làm. Chonteaul bật cười:
- Có lẽ tôi là được
ơn Chúa nhiều hơn quí vị… Vì quí vị đang nhìn thấy tôi vẫn sống sờ sờ và sống rất
khỏe nữa là khác, đúng không? Có nhiều người đã hỏi Thiên Chúa đã ở đâu mà để
cho con người phạm tội, nhưng chắc ít người nghĩ đến chuyện dẫu Thiên Chúa có
hiện ra, có cản ngăn như thế nào đi chăng nữa mà một khi những ý nghĩ đen tối,
những chọn lựa tàn nhẫn đã ở trong trí của một con người, thì người ta sẽ cứ đi
theo con đường mình đã chọn. Như ban đầu Chúa đã bảo Adam đừng ăn trái cấm,
nhưng ông vẫn nghe lời vợ để phạm tội không vâng lời. Rồi chuyện tiếp theo là
sau khi Cain giết anh mình do ghen tức, Chúa ban mười điều răn cho loài người,
trong đó có điều “chớ phạm tội giết người”, mà người đời sau của Cain là Môise
vẫn ra tay đâm chết một người Ai Cập đến nỗi phải bỏ xứ mà đi. Đến cả như vua
David, người được hưởng đủ mọi ơn, khi về già đã ôn lại và ăn năn những hành động
tội lỗi mình đã làm, trong đó có việc ông âm mưu đẩy tướng Uri ra mặt trận để
Uri bị giết rồi soán đoạt vợ của vị tướng này… Từ Adam, Cain, Môise cho đến vua
David đều là những người được Chúa yêu mến, đều nhận được sự dạy dỗ của Chúa, đều
biết mình sẽ phải chịu sự đoán phạt nếu phạm tội nhưng vẫn không quay mặt với tội
lỗi, và vẫn làm điều Chúa cấm…
Chonteaul nói tiếp:
- Lúc ngồi tù lần
đầu tiên, tôi đã ngờ ngợ sự nhận ra tội lỗi nằm ở ngay trong lòng con người.
Khi xông vào đánh con bạn, tôi đã hết sức mong nó sẽ đấm lại mình một phát, xô
tôi té nhào xuống đất một cái thật mạnh, thật đau, để tôi được… sẩy thai. Lúc ấy,
tôi vẫn còn chưa trưởng thành, chưa thấy rõ được điều ác xảy ra là do sự quyết
định của chính mình. Về sau này, khi ngồi khám nhiều lần, tôi đã có ý muốn sẽ
không dính dáng đến những chuyện phạm pháp, không làm những điều sai trái nữa,
nhưng ra khỏi tù, đối diện với những ghẻ lạnh, những khinh bỉ từ người nọ người
kia, là tôi lại không muốn bắt đầu một cuộc sống lương thiện.
Người phụ nữ mỉm
cười:
- Tôi quen ông bà
mục sư quản nhiệm một cách rất tình cờ. Lúc được nghe lời mời đến nhà thờ tôi
đã phì cười, nhưng một hôm buồn tình, tôi đi theo họ cho… đỡ chán, thì bắt gặp
đoạn phúc âm này: “Khi đó Đức Giê-su lên núi Ô-liu. Lúc trời vừa sáng,
Ngài trở vào đền thờ. Cả đoàn dân đều đến với Ngài và Ngài ngồi xuống dạy dỗ họ. Các
chuyên gia kinh luật và người Pha-ri-si giải đến một người đàn bà ngoại tình bắt
đứng giữa họ. Họ nói với Ngài: “Thưa Thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả
tang phạm tội ngoại tình, nên chiếu theo luật Môi-se, những hạng đàn bà ấy
phải bị ném đá xử tử, còn Thầy thì dạy thế nào?” Họ nói vậy cốt gài bẫy
Chúa để có lý do cáo tội Ngài.
Nhưng Đức Giê-su
cúi xuống, lấy ngón tay viết lên mặt đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Ngài đứng
lên bảo: “Người nào trong các người chưa từng phạm tội, hãy ném đá người nầy
trước đi!” Rồi Ngài lại cúi xuống viết lên mặt đất. Nghe vậy, họ lần lượt
bỏ đi từng người một, người cao tuổi đi trước, để Ngài ở lại một mình với người
đàn bà đang đứng đó. Đức Giê-su đứng lên hỏi: “Nầy, mấy người kia đâu cả rồi?
Không ai kết tội chị sao?” Người đàn bà trả lời: “Thưa ông, không ai cả!” Đức
Giê-su bảo: “Ta đây cũng không kết tội chị đâu; về đi, từ nay đừng phạm tội nữa!”
(Phúc Âm Giăng 8:1-11)”.
Chonteaul ngó
chúng tôi:
- Mỗi lần hết hạn
tù, được thả về, là các quan chức và cảnh sát nhà giam lại nhắn nhủ với tôi rằng
họ mong tôi sẽ bắt đầu một cuộc đời đàng hoàng, tử tế, chứ không phải sẽ trở lại
nơi đó trong một con người quỷ quyệt hơn, tệ hại hơn khi trước. Và lần nào cũng
dọa nếu phạm tội lần nữa thì sẽ biết tay họ. Tôi đã đáp tôi đâu có muốn như vậy.
Nhưng thật ra cuối cùng rồi tôi cũng lại phạm vào những việc bất lương. Chuyện
dễ hiểu là chung quanh tôi chỉ có những người muốn kéo tôi đi cùng với họ, và
còn lại là những người sẵn sàng ném đá tôi. Và trên những điều đó là chính tôi
đã không thoát ra khỏi được những ý nghĩ tối ám. Bước khỏi nhà giam, được trả tự
do, hoàn toàn không có nghĩa sẽ thoát được những hành vi tội lỗi, và những tư
tưởng lầm lạc. Nên vì vậy tôi cứ bước ra bước vào cánh cổng sắt ấy nhiều lần,
mãi cho đến khi tôi bắt gặp đoạn phúc âm trên. Thật ra đó chỉ là những khởi đầu
với những gì Chúa đã dành cho tôi. Những vị quan chức, những người cảnh sát lúc
mở cánh cổng nhà tù cho tôi trở về đời sống tự do cũng nói tôi “đừng phạm tội nữa”,
nhưng tôi hoàn toàn không thấy sự nhân từ của họ, không như khi Chúa đã nói với
tôi “ta không bắt tội con”. Vì sau đó Chúa mở mắt cho tôi thấy nhiều điều kỳ diệu
ở quanh tôi. Tôi đã được quen biết với những người muốn sống giống như Chúa, học
cách thương yêu như Chúa, tha thứ như Chúa và thông cảm người khác như Chúa.
Chonteaul đã gặp
một người đàn ông ở tại Hội Thánh và trở thành một đôi bạn thân. Về sau cô gặp
thêm mẹ của anh, là người biết rất rõ về quá khứ của cô nhưng sẵn sàng thương
yêu đùm bọc và giúp cô đứng dậy, chấp nhận cô thành con dâu của mình. Chonteaul
cũng nhận ra ở ngay trong nhà thờ có thể sẽ vẫn có nhiều kẻ không mấy thiện cảm
với cô, nhưng cô tin rằng với tình yêu của Chúa, họ sẽ hiểu cô hơn. Bằng chẳng,
cô cũng vẫn yêu họ như Chúa đã yêu cô. Mặc cảm dần dà biến mất, Chonteaul trở
nên yêu đời và yêu người là vì thế. Cô nói:
- Như một bài hát
chúng ta vẫn thường hát tại đây, “no longer a slave to fear, I am a child of
God…”(*), chính bản thân tôi không còn cảm thấy mình là nô lệ của tội lỗi nữa,
tôi không còn sợ hãi bất cứ điều gì vì tôi đã trở thành con cái của Chúa. Phải,
“Ngài đã rẽ mặt biển để tôi bước qua. Tất cả những sợ hãi của tôi đã được chôn
vùi bằng tình yêu tuyệt đối của Ngài. Ngài đã giải cứu tôi, nên tôi có thể đứng
lên và hát, tôi là con dân Ngài. (Tạm dịch từ lời bài hát đã dẫn, “You split
the sea. So I could walk right through it. All my fears were drowned in the
perfect love. You rescued me. So I could stand and sing. I am gthe child of
God”)…
Buổi tối hôm ấy,
khi ngồi nhìn Chonteaul hân hoan kể chuyện lòng mà nước mắt tôi cứ tràn ra. Tôi
không chỉ thương cô, nhưng cũng nhớ lại chính mình đã từng cầm những hòn đá lên
tay, chỉ chưa kịp ném vào người phụ nữ có nụ cười tươi tắn luôn muốn nói với cuộc
đời rằng cô đang có niềm vui vì cô đã thoát ra khỏi một cuộc đời tối ám, bẻ gãy
được những suy nghĩ và những hành động tối ám ấy mà thôi. Tôi đã ra về với lòng
đầy ăn năn và thống hối. Tôi nhận ra một bài học lớn trong cuộc đời theo Chúa của
mình. Tôi đã cám ơn Chúa nhiều lần, cám ơn Chonteaul nhiều lần vì câu chuyện đã
được nghe, vì những nụ cười của cô. Và vì tôi biết tôi sẽ nhìn lại con người và
thái độ sống của chính mình…
Hoàng Nga
(*) Nhạc và lời của
Brian Johnson, Jonathan David Helser và Joel Case.