
Tôi gặp và quen với chị Trâm trong một tiệm phở hiếm hoi của thành
phố Columbus thuộc tiểu bang Ohio, vào một ngày hè năm 2010.
Thấy tôi có vẻ giống một người Việt, chị tự ý đến bàn tôi trước
để làm quen. Chị than là ở cái tỉnh bơ vơ giữa lòng nước Mỹ này,
thật không phải là dễ khi kiếm được một người đồng hương để nói
chuyện! Tôi đồng ý với chị, mời chị ngồi và ngỏ lời khen, vì chị
đã biết tìm đúng chỗ: một tiệm phở !
Quả thật tình đồng hương đã gắn kết chúng tôi thân mật với nhau
thật dễ dàng. Qua những câu chuyện và lời tự giới thiệu, tôi biết
chị sinh trưởng trong một gia đình “có-công-với-cách-mạng”. Năm 1977,
khi chị mới 2 tuổi, cha chị đã hy sinh tại mặt trận Tây-Nam
(Campuchia). Mẹ chị là đảng viên, có chức, có quyền tại tỉnh nhà.
Ngay từ những ngày còn rất trẻ, chị đã được gửi đi du học tại Úc.
Và khi trưởng thành, chị nhanh chóng trở thành một giáo sư ngoại
ngữ, căn bản là Anh Văn, môn học mà chị có năng khiếu nhiều nhất.
Bình thường, tôi không thấy hào hứng lắm khi phải nói chuyện với một
người có một lý lịch như của chị Trâm. Nhưng với vẻ hồn nhiên của
chị ngày hôm đó, nhất là sự thành thực, cởi mở, và vô tư của một
người sinh ra sau chiến-tranh – một cuộc chiến mà chị không biết gì
nhiều – đã làm thay đổi cảm nghĩ của tôi, và tôi đã phải nhìn chị
như là một, trong những người trẻ tương lai của đất nước.
Là một giáo sư xuất sắc trong thành phố, chị còn góp phần không
nhỏ trong việc truy tìm hài cốt các liệt sĩ. Nhờ vậy, cộng thêm sự
vận động của bà mẹ, một lần nữa chị lại nhận được một học bổng
du học, lần này tại Hoa-Kỳ. Chị rất phấn khởi, để hết tâm theo học
và cho đến hôm nay, chị đã qua được gần hết 2 năm đầu cho chặng đường
tiến đến một psychology degree.
Tôi có hỏi đùa tại sao chị lại chọn một môn học “bí-hiểm” tại
một tiểu bang xa xôi này ? Chị cho biết phải chọn Ohio University là
vì ở đây, học phí tương đối thấp so với các tiểu bang khác. Chị lại
tình cờ có một người bà con ở ngay đây, không xa khu học xá của chị
là bao. Còn chị chọn psychology, vì nó có liên hệ đến cái công việc
tay trái của chị. Tại Việt Nam, người ta qúi mến chị,̣ vì chị không
chỉ đơn thuần là một giáo sư Anh ngữ, mà chị còn là một “nhà
ngoại-cảm”.
“Nhà-ngoại-cảm” ! Chà ! Tôi có quen một vài nhà báo, một vài nhà
giáo, nhiều nhất là… nhà binh, nhưng tôi phải thú thực với chị Trâm
là tôi rất mơ hồ với cái “nhà ngoại-cảm” này của chị, và mong chị
giải thích. Chị Trâm vui vẻ cắt nghĩa cho tôi, một cách rất khái
quát: Vũ trụ như ta thấy, là tổng hợp bởi những eidos, tạm
gọi là những thực thể. Thực thể có hai loại: thực thể tinh tế hay
còn gọi là linh hồn, không nhìn thấy được và có trước thực thể
vật lý, còn được gọi là thể xác, có thể nhìn thấy và cảm
nhận được. Con người là kết hợp bởi hai thực thể nói trên. Khi chết
đi, linh hồn rời bỏ thể xác, nhưng vẫn tiếp tục sống trong một thế
giới không nhìn thấy, tồn tại song song với thế giới chúng ta. Tuy
sang thế giới khác, linh hồn vẫn còn ít nhiều liên hệ với con người
trên thế gian, và chỉ có một số rất… rất ít người có khả năng tiếp
xúc được với những linh hồn. Những người này, hoặc vì có “duyên
nợ”, hoặc là được trao một “sứ mệnh” nào đó, có thể trò chuyện,
giao tiếp được với những linh hồn, thường là trong giấc ngủ… Người ta
gọi những người như vậy là “nhà ngoại-cảm”. Ở Việt Nam sau năm 1975,
nhu cầu tìm kiếm hài cốt của các thân nhân có con em bị hy sinh trong
chiến tranh lên rất cao, nhất là tại miền Bắc. Công việc truy tìm này
thường dẫn đến những vụ lên đồng lên bóng, gọi hồn, cầu cơ… và cũng
từ đó, phát sinh ra những nhà ngoại-cảm giả mạo; lợi dụng lòng khao
khát và sự mê tín của những thân nhân nhẹ dạ, họ đã dùng đủ mọi mánh
khóe để làm giầu một cách rất vô lương tâm !
Chị Trâm tự hào chị là một nhà ngoại-cảm, một nhà “ngoại-cảm
chân-chính”, vì tất cả những công việc chị làm, đều thực sự có sự
giao tiếp và giúp đỡ của những linh hồn, hiệu qủa chính xác và đều
là bất vị lợi. Chị chỉ làm để giúp người, không hề nhận của ai
một đồng một cắc nào. Chị đã tìm được cho vợ chồng một ông xã đội
trưởng ở Đức-Hòa hài cốt người con du kích của họ, đã hy sinh hồi
Tết Mậu-Thân. Chị đã tìm được một mồ chôn tập thể 17 liệt sĩ tại
Nam Lào… Gần đây nhất, trước khi sang Mỹ du học, chị đã góp phần tìm
được cho hai vợ chồng người chủ căn nhà trọ của chị, hài cốt người
con trai đã hy sinh tại chiến trường Quảng-Trị năm 1972.
Cơ duyên nào đã khiến chị trở thành một nhà ngoại-cảm là một
chuyện khá dài dòng – chị nói – Riêng về chuyện tìm kiếm hài cốt
người bộ đội đã hy sinh trong trận Quảng-Trị, biết tôi là một cựu
quân nhân của quân đội VNCH, chị muốn kể lại cho tôi nghe, vì chị nghĩ
nó có thể có ý nghĩa hơn, là kể lại cho những người xung quanh chị,
ở trong nước. Chị hẹn tôi Thứ Bẩy tuần sau, chị được nghỉ cả ngày,
có nhiều thì giờ hơn.
Tôi đến thành phố Columbus lạ hoắc này để thăm một bà chị họ bị
đau nặng. Bà đã hồi phục, mạnh khỏe trở lại và tôi có thể ra về,
nhưng tôi đã quyết định ở lại thêm một tuần nữa, vì không hiểu sao,
câu chuyện tìm hài cốt một người bộ đội này của chị, nó đã khích
thích sự tò mò của tôi khá nhiều!
Đó là một buổi sáng Thứ Bẩy thật đẹp! Tôi đến chỗ hẹn đúng
giờ, chị Trâm cũng đến rất đúng giờ. Sau những trao đổi xã giao
thường tình, chúng tôi ngồi nhâm nhi hai ly cà-phê, và đây, là câu
chuyện của chị…
oOo
Sau một vài thành công về việc tìm kiếm và thâu hồi hài cốt liệt
sĩ, các báo chí trong nước đua nhau tường thuật, nhiều đài truyền
hình xin được phỏng vấn… Tôi bỗng dưng nổi tiếng! Có rất nhiều người
tìm đến nhà cậy cục, nhờ vả… Tuy vậy, tôi không dám nhận lời giúp
bất cứ một ai, nếu như tôi không nhận được những tín hiệu, hoặc là sự
giúp đỡ của linh hồn những người quá cố. Trong số những người nhờ
vả, gần nhất có Dì An. An là tên vợ chồng người chủ căn nhà tôi đã
mướn tại quận 12, để tiện việc dậy học. Hai vợ chồng Dì An – tôi
thân mật gọi là Dì – đều đã lớn tuổi, người miền Bắc. Ông chồng
làm công an, thuyên chuyển vào Sàigòn sau năm 75 và trở nên rất giầu
có, làm chủ một dẫy nhà trọ. Dì An tâm sự với tôi, là vào khoảng
đầu tháng Sáu năm 1972, khi đứa con trai thứ nhì của vợ chồng dì vừa
được 16 tuổi , nó đã được nhà nước “mượn tuổi” trước để gia nhập
bộ đội, tăng cường cho mặt trận Quảng-Trị lúc đó đang trong giai đoạn
cực kỳ sôi động. Vào khoảng cuối tháng 9 năm 1972, có tin là Cổ
Thành Đinh-Công-Tráng cũng như toàn thể thị xã Quảng-Trị đã bị quân
đội miền Nam tái chiếm, mà đứa con thì vẫn bặt vô âm tín, vợ chồng
chị hết sức hoang mang, lo sợ… Và cuối cùng thì điều lo sợ đó đã
tàn nhẫn trở thành sự thực: đích thân Chính ủy Trung-Đoàn đến gặp
vợ chồng chị, trao tặng rất nhiều huân chương cùng những lời động
viên, ủy lạo… Tất cả, chỉ là để đổi lại sự vĩnh viễn ra đi của
đứa con 16 tuổi, mà xác của nó vẫn chưa ai biết là nằm ở nơi đâu,
xung quanh khu Thành Cổ!… Cho đến ngày gia đình dì vào Nam, dì vẫn
không nhận được thêm một tin tức nào! Dì An đã khóc khi cho tôi xem
những hình ảnh, và các vật dụng hàng ngày của đứa con bạc mệnh…
Mặc dù trong lòng tha thiết muốn giúp, nhưng tôi không dám hứa hẹn
gì nhiều, mà chỉ mượn dì vài hình ảnh và vật dụng của người qúa
cố, hy vọng với sự cầu nguyện chân thành của tôi, sẽ có một sự đáp
ứng nào chăng ?…
Và… hơn cả điều ước nguyện, khoảng hai tháng trước khi đi du học,
trong một giấc mộng, tôi đã nhìn thấy và nhận được đầy đủ tất cả
các địa danh, địa hình, các con đường mòn, cây cỏ, các mô đất… Tóm
lại là tất cả các chi tiết cần thiết cho một cuộc truy tìm mà tôi
và Dì An đã bao ngày mong đợi !
Biết được chuyện này, Dì An hối hả giục tôi lên đường ngay, nhưng
vì còn kẹt một vài giấy tờ cần thiết phải hoàn tất cho việc du
học sắp tới, nên hơn một tuần sau chúng tôi mới khởi hành được.
Dì An và tôi đến thị xã Quảng-Trị thì đã tối hẳn. Trời lại mưa
dai dẳng suốt mấy ngày liền…Chúng tôi phải tìm nhà trọ nghỉ ngơi,
để ngày hôm sau sẽ tiếp tục cuộc tìm kiếm sớm. Sáng hôm sau, từ nhà
trọ gần khu nhà thờ làng Trí-Bưu, Dì An đã phải mượn cuốc xẻng của
nhà thờ, mua một vài vật dụng cần thiết, và thuê hai anh xe ôm nguyên
ngày để chuyên chở và phụ giúp chúng tôi trong những việc cần đến
bắp thịt ! Chúng tôi phải đi trên những con đường làng quê nhỏ hẹp,
rồi băng qua một cánh đồng lớn, theo hướng tây bắc để tìm đến một
làng có tên là Triệu-Thành, nằm ngay sát bờ Nam sông Thạch-Hãn. Hai
anh xe ôm cho biết làng này xưa kia nghèo lắm, cả làng lèo tèo chỉ
có độ vài mươi căn nhà lá. Sau trận chiến kinh hoàng năm 1972, người
ta đồn là các làng quanh khu Thành Cổ này đều có rất nhiều ma! Vào
những đêm mưa cuồng gió lạnh, các oan hồn tử sĩ đã tụ tập về quanh
đây, tiếng khóc than hòa lẫn trong mưa gió, nghe thật rợn người… Ngày
nay, nhiều nhà gạch, mái ngói đỏ đã được dựng lên, làm đẹp cho
làng, nhưng chủ nhân những ngôi nhà gạch này, hầu hết đã phải lên
phường, xã để khai báo là trong khi đào móng xây nền nhà, họ đã gặp
rất nhiều bộ xương người…
Theo lối đường mòn nhỏ và rất trơn trượt, chúng tôi phải đi một
quãng khá xa đến cuối làng về hướng cực bắc. Khu này không có người
ở, và con đường mòn bị chắn bởi một con lạch nhỏ, có lẽ chảy vào
từ sông Thạch-Hãn. Nhìn quanh quất, tôi đã tìm thấy bụi chuối dại
và cây trứng cá. Tất cả cảnh vật đều đúng y như những gì tôi đã
thấy trong giấc mộng! Thật là huyền diệu…
Chúng tôi căng một tấm bạt che mưa gió, lập một hương án nhỏ để
thắp mấy nén nhang cầu nguyện… Sau đó chúng tôi bốn người, hì hục
đào, xới, xúc đất… Được cái đất ở đây cũng mềm, dễ đào, như là đã
có người dọn dẹp và xới lên từ trước, có lẽ bởi trời mưa mấy ngày
nay. Khi đã đào được khá sâu, hai anh xe ôm bỗng reo lên mừng rỡ… Những
ống xương người bắt đầu hiện ra, xương chân, tay, xương chậu, rồi thì
hộp sọ… Dì An đã bắt đầu mếu máo, rồi khóc lên thành tiếng, trông
thật tội ! Chúng tôi làm việc như những nhà khảo cổ, nưng niu từng
lóng xương, vuốt ve, chải chuốt rồi được rửa sạch bằng rượu trắng trước
khi đặt nhẹ vào một chậu lớn bằng nhựa.
Trong lúc mọi người đang phấn khởi thì bỗng nhiên, tôi có một cảm
giác thật lạ, có lẽ giác quan thứ sáu đã cho tôi biết: có một cái
gì không ổn!? Tôi bắt đầu nhìn thấy dấu vết của một đôi bottes de
saut bên cạnh những lóng xương chân. Chỉ mềm nhũn như bùn, nhưng cái
đế giày bằng loại cao xu thật tốt, thân giày bằng da và vải nylon
còn nhận ra được… có một cái ví cũng bằng da, nhưng không một hình
ảnh, giấy tờ nào còn tồn tại, tất cả đều nát ra như bùn, đất…
Ngang bộ xương chậu, là dấu tích của một ceinturon, một hộp quẹt
zippo đã nham nhở rỉ sét. Không thấy có súng ống, mà chỉ thấy một
vài qủa lựu đạn đã hoen rỉ mà chúng tôi phải tránh xa. Ngang phía
xương cổ, một miếng kim loại nhỏ hình chữ nhật, bằng hai ngón tay, ố
rỉ mầu nâu xậm, đụng vào là gẫy nát ra từng miếng nhỏ rớt lả tả
xuống mặt đất. Xa hơn một chút là một cái nón sắt, cũng đã hoen
rỉ, một nửa vẫn còn ngập trong lòng đất, không ai muốn đào tiếp… Dì
An đã ngừng mếu máo, dì cũng đã nhìn thấy những gì tôi thấy… Ngoài
một bộ xương ra, không một dấu vết gì chứng tỏ đây là đứa con thân
yêu của bà ! Chúng tôi hoàn toàn thất vọng… Không lẽ tôi đã được chỉ
dẫn… sai ?!
Trước những chứng cớ khá rõ rệt, Dì An và tôi đành phải chấp
nhận là mình đã tìm lầm phải hài cốt của một người lính phía bên kia
! Nhưng phải làm gì với bộ hài cốt này đây ? Hai anh xe ôm cho chúng
tôi biết là gần đây có một ngôi chùa, phía sau chùa là một khu đất
hoang, đã có đâu chừng gần chục ngôi mộ vô danh đã được hòa thượng
trụ trì cho phép chôn ở đó. Thật là một giải pháp tuyệt hảo, và
đã làm thì làm cho chót. Chúng tôi cho tất cả bộ hài cốt vào một
cái tiểu sành mà Dì An đã mang theo và tìm đến ngôi chùa. Cúng
dường cho nhà chùa một số tiền, sau đó tôi và Dì An ra sức đắp lên
một nấm mộ nhỏ… Xong suôi, chúng tôi thắp ba nén nhang, khấn vái… Và
sau cùng là một tấm bia nhỏ, cắt ra từ một miếng tole do hai anh xe ôm
làm giúp, trên đề: “Người lính Vô Danh – VNCH”…
Đêm hôm ấy tại nhà trọ, qúa mệt mỏi sau một ngày quanh co tìm
kiếm, đào xới, đắp mộ… vừa nằm xuống là tôi mơ màng vào giấc ngủ
ngay. Trong lúc còn nửa mê nửa tỉnh, tôi chợt thấy thấp thoáng có
một bóng người đang bước tới gần chỗ tôi nằm. Trong phòng chỉ có Dì
An và tôi, tôi cất tiếng hỏi:
— Dì An chưa ngủ được sao ?
Bóng đen đứng dừng lại, một giọng đàn ông còn trẻ, hơi bối rối :
— Dạ… không, là… tôi đây… xin chị đừng sợ ! Tôi không thể làm hại
được ai, chị cứ an tâm. Tôi… tôi chỉ muốn đến để cám ơn hai chị đã
cho tôi một mái nhà. Một mái nhà tuy sơ xài, tạm bợ, nhưng vẫn còn
hơn là… cứ mãi mãi nằm sâu dưới lòng đất lạnh !
Tôi ngồi bật dậy, tối qúa, không thể nhìn rõ mặt người lạ ! Hơi
sợ sợ, nhưng tôi vẫn giữ được bình tĩnh:
— Vậy anh là… là…
— Vâng, tôi chính là người… lính vô danh mà hôm nay đã được hai chị
đắp cho một ngôi mộ !
Đến đây thì tôi hiểu ra rồi. Chỉ chiếc ghế gần đó, tôi mời anh:
— Anh ngồi đi, và… anh có thể cho tôi biết một chút về anh được
không ?
Anh ta không ngồi lên chiếc ghế, mà ngồi bệt xuống nền nhà, hai tay
ôm đầu gối, dựa lưng vào tường:
— Dạ !… Mà… phải bắt đầu từ đâu nhỉ ?… À, tôi nhớ ra rồi… chắc
chị đã biết tôi là một người lính miền Nam, lính gì thì tôi cũng
không nhớ nữa, Nhẩy Dù hoặc Thủy Quân Lục Chiến gì đó… Chỉ nhớ là
khi vẫn còn đang trong tuổi đi học, một hôm tôi bỗng nổi khùng, tự
động đăng vào lính, một thứ lính mặc quần áo mầu hoa rừng… Thế rồi
được huấn luyện và ra mặt trận ! Mấy trận đầu, cũng khủng khiếp
lắm, nhưng không sao, còn được thăng dần đến chức Hạ-sĩ nữa, nhưng từ
khi được chuyển lên đến vùng Quảng-Trị này thì căng thẳng thấy rõ,
ngày đêm chỉ toàn bom và đạn, máu với lửa…
— Thế còn gia-đình anh thì sao, anh tên chi ?
— Tên hả ? Nói ra chị đừng cười nhé, tôi quên cả… tên của chính
mình rồi ! Sáng nay, các chị đã đề trên nấm mộ của tôi là “Vô Danh”
thật quá đúng ! Tôi còn độc thân, và vẫn nhớ là tôi còn một bà mẹ
và hai đứa em. Nhà gia đình chúng tôi ở đâu đó trong Sàigòn, không
nhớ rõ chính xác là ở đâu, hoàn toàn không nhớ nổi… Đến mặt mũi
của mẹ và hai em của tôi, tôi cũng còn không nhớ là như thế nào… Chỉ
hình dung là một khuôn mặt thật đẹp, thật dịu hiền… Nếu như có một
phép lạ nào đó, cho mẹ và em tôi xuất hiện ngay tại đây, thì lập
tức tôi sẽ nhận ra ngay !… Nhưng bảo tả lại hình dáng của bà thì tôi
đành chịu, không thể…
— Anh bị mất trí nhớ từ hồi nào ?
— Từ hồi tôi bị… chết chị ạ ! Ngay khi vừa chết, tôi hoàn toàn
không nhớ, không biết gì hết, lơ lơ lửng lửng, trí óc như một tờ
giấy trắng… Thời gian qua đi, ký ức dần dần phục hồi lại, từng
mảnh, từng mảnh… không theo một thứ tự nào ! Tôi đã phải bận rộn
suốt ngày, để sắp xếp nó lại theo đúng với qúa trình của đời
mình… nhưng việc này coi vậy mà thật không dễ dàng chút nào ! Một
bức tranh mà tổng quát đã không rõ ràng, thì một vài chi tiết cũng
chẳng biết phải để vào đâu!… Nhưng sao lạ quá chị ạ, có những cái
thật quan trọng, thật riêng tư thì tôi vẫn… quên, mà những gì không
cần thiết, thật… vớ vẩn thì lại hiện lên, rõ mồn một ! Tôi có thể
đọc lại những bài “học-thuộc-lòng” từ hồi còn nhỏ, không sai một
chữ!…
Ngừng một phút, anh buồn rầu nói tiếp:
— Chị coi, hồn phách nào mà chịu nổi, bom đạn từ bốn phương tám
hướng cứ dồn dập đổ xuống như mưa, ngày này qua ngày khác. Hết pháo
từ Cao-Hy, từ Tân-Vĩnh, Ái-Tử… của Bắc-Việt dập xuống, rồi pháo
của TQLC, của SĐDù từ La Vang bắn lên, của QĐI, của Hạm Đội 7 Hoa-Kỳ
ngoài khơi câu vào… B-52 thì trải thảm bất cứ lúc nào, dữ dội nhất
là ở hành lang từ Nhan-Biều lên đến Ái-tử, mặt đất cứ rung lên như
động đất ! Ngày này qua ngày khác chị ạ, cả ngày lẫn đêm, toàn
những loại bom đạn giết người tối tân nhất, hiệu lực nhất… Lại còn
phi pháo, bom xăng đặc, bom lửa lân tinh từ những phản lực cơ nữa chứ
! Thật tình là ngay cả những linh hồn như chúng tôi, cũng không thể
nào kham nổi…
— Các anh chịu đựng như vậy, trong bao lâu ?
— Cho đến khi tàn cuộc chiến… riêng tôi thì khoảng hơn hai tháng !
Hơn hai tháng với trên một triệu viên đại pháo: hải pháo, phi pháo,
sơn pháo… Hơn 328 ngàn tấn bom đạn đủ loại… một khối lượng bằng 7
lần qủa bom nguyên tử thả xuống Hiroshima đã dội xuống, từ ngoài vào
trong, có khi lại từ trong ra ngoài khu Cổ-Thành này, nó chỉ rộng
khoảng hơn 3 cây số vuông thôi !… Vâng, trận tái chiếm Quảng-Trị này
là trận chiến ác liệt nhất, làm thiệt hại cho phía Bắc-Việt nhiều
nhất, trong lịch sử chiến tranh của cả vùng Đông-Nam-Á đấy chị ạ !
— Làm sao các anh biết được những điều này ?
— Thế chị tưởng chúng tôi không biết những gì đang xẩy ra trên thế
gian ư ? Chúng tôi biết hết chị ạ ! Nhưng biết chỉ để biết thôi, nhất
là không thể và không được phép làm bất cứ điều gì xâm phạm đến
dương thế… À, mà đáng lẽ tôi phải nói ngay với hai chị, là khu đất
mà các chị khai quật sáng nay là đúng chỗ rồi đấy ! Anh ấy là lính
thông tin, thuộc Trung-Đoàn Triệu-Hải, E27 – SĐ 320B. Chẳng hiểu đi nối
dây điện thoại thế nào, lại lò mò lạc vào đúng tổ kích của tụi
tui, bị bắt ! Lúc đó bất chợt bom đạn rơi xuống như mưa, tôi phải vội
đẩy anh ấy chạy vào cùng núp chung trong một cái hầm. Đó là một
loại hầm chữ A đã cũ, do Việt-Cộng đào từ trước và bỏ lại khi đã
xâm nhập vào sâu hơn trong nội địa. Loại hầm này khá an toàn với
loại đạn bắn thẳng, nhưng xui là đúng lúc đó, một qủa pháo không
biết của bên nào, đã đổ xập xuống ngay cửa hầm, và chỉ nội sức ép
công phá của nó thôi, cũng đủ kết liễu cuộc đời của cả hai đứa!…
Chưa hết, rồi bom, pháo cứ tiếp tục cầy lên, cầy lên mãi… cuối cùng
là hai đứa nằm dưới mặt đất đến vài ba thước!…
Ngừng lại một vài giây, anh tiếp:
— Rồi cuộc chiến cũng qua đi… trên mặt đất chỗ chúng tôi nằm, cỏ
hoang lan cùng khắp, các bụi cây dại mọc lên chằng chịt, thêm vào là
mấy ụ mối… Thế gian lại chìm vào sự thinh lặng dễ sợ ! Chỉ riêng
trong đầu óc chúng tôi, những tiếng rít của đầu đạn xé không gian,
những tiếng bom nổ long trời lở đất… vẫn không bao giờ ngừng nghỉ !…
–… Anh làm tôi cảm động qúa !… À, anh nói cả hai anh cùng núp chung
một chỗ, mà sao sáng nay chúng tôi lại chỉ tìm thấy có một mình anh
?
— Dạ đúng vậy ! Trước các chị gần một tuần, có một nhóm chừng
8, 9 người đã đến khu chúng tôi ở. Đó là một đội Quy-Tập của nhà
nước, họ khai quang, đào xới một khoảng chừng 50 mét vuông. Là những
người khá chuyên nghiệp, với đầy đủ dụng cụ, máy dò… Chỉ cần quan
sát thật kỹ thôi, là họ biết phải thâu gom những gì, và để lại
những gì… Cuối cùng, 4 bộ hài cốt trong đó có anh ấy, đã được tìm
thấy và mang đi… Chỉ còn mình tôi thì nằm ở lại…
— Có phải họ biết anh là người lính miền Nam, nên để lại ?
— Dạ, hai bộ xương nằm gần nhau, xương cốt người Việt thì cũng sàn
sàn một cỡ, giống nhau cả, nhưng những vật dụng cá nhân nằm kề hai
bộ cốt thì lại hoàn toàn khác hẳn. Dưới những lóng xương bàn chân
anh ấy là tàn tích của một đôi dép râu, ngang chỗ xương chậu là dấu
vết của một võng bộ-đội bằng nylon… Ngoài ra, có những vật dụng mà
thời gian chưa tiêu hủy được, như là một nanh heo rừng mà anh ấy đã
đeo làm bùa hộ mệnh, một lọ thủy tinh nhỏ đựng thuốc trị thương (?)
mà các bộ đội thường có… Và thuyết phục nhất là một bi-đông nước
làm tại Trung Quốc, tuy cũng đã hoen rỉ nhiều, nhưng trên đó vẫn nhận
ra được dấu khắc tên và nơi sinh quán của anh ấy tại Hà-Tây, miền
Bắc… Còn những hình ảnh hoặc giấy tờ cá nhân, nếu có thì cũng đều
biến thành tro bụi hết…
— Sao họ lại đang tâm để anh ở lại một mình như thế nhỉ !? Anh có
buồn không ?
— Cũng phải thông cảm cho họ thôi, họ cũng đã qúa bận rộn với
mấy trăm ngàn bộ hài cốt trên toàn quốc. Hơn nữa, công việc chính
của họ không phải là lo cho chúng tôi, mà là lo cho các liệt sĩ của
họ ! Còn có vì thế mà buồn không ư ? Không chị ạ, có cả hàng ngàn
những linh hồn khác, vẫn còn đang chập chờn, phiêu bạt khắp quanh đây…
— Vậy chứ dưới đó, có sự… kỳ thị, phân biệt gì giữa các anh với
nhau không ?
Nhìn về phía xa xôi, hình như anh ta hơi mỉm cười :
— Chị làm tôi nhớ lại hai câu thơ cổ của thi hào Hoàng đình Kiên
đời nhà Tống: Hiền ngu thiên tải tri thùy thị, Mãn nhãn bồng cao
cộng nhất khâu!… Hoàn toàn không chị ạ ! Đã là người chết, cùng
chung một gò hoang đầy cỏ bồng dại, biết ai là người hiền, ai là
người ngu; ai sai, ai đúng làm gì nữa ? Vâng, chỉ có những người trên
dương thế, đời sống còn phải lệ thuộc rất nhiều vào vật chất, nên
mới sinh ra tranh giành, phân biệt nhau thôi. Dưới này, chỉ là những
linh hồn, chúng tôi đều coi nhau như anh em, bình đẳng, không hận thù…
Và tất cả cùng có chung một nuối tiếc, đó là: chỉ vì áp lực của
những siêu cường trên thế giới, mà Việt Nam mình đã trở thành một
con cờ thí, đất nước phải trải qua một cuộc chinh chiến tương tàn,
nồi da xáo thịt, để biết bao nhiêu triệu người phải hy sinh một cách
rất oan uổng!…
— Vậy là ở dưới đó, anh có rất nhiều bạn ?
— Rất nhiều chị ạ ! Hồi trước thì… thật là nhiều ! Ngoài đám
thường dân vô tội, chết vì bom rơi đạn lạc, còn thì đều là lính
tráng thuộc cả hai phía: Nhẩy Dù có, Thủy Quân Lục Chiến có, rồi
Biệt động Quân, Sư-Đoàn1BB, SĐ3BB, Liên-Đoàn 81 Biệt-kích Dù, Kỵ-Binh
Thiết-Giáp… Bộ đội Bắc-Việt thì đông hơn nhiều, chủ lực có Sư-Đoàn
304, SĐ 308, 312, 320, 324, 325, K3-Tam-Đảo, một vài Trung-đoàn địa phương
và tiểu-đoàn đặc công… Có đến cả chục ngàn đứa chúng tôi, vẫn còn
ngơ ngẩn vì bom đạn, cứ lang thang vật vờ trên những ngọn cỏ bụi cây,
rừng hoang đồi trọc vài cây số vuông xung quanh khu Thành Cổ, hoặc hai
bên bờ sông Thạch-Hãn này… Đứa nào cũng mong ước một ngày nào đó,
được về lại với gia đình, với cố hương !… Sau này thì cứ bớt dần,
bớt dần…
— Sao lại như vậy, họ đi về đâu ?
— Nhà nước bây giờ là “bên thắng cuộc”, đầy quyền lực, tiền bạc
và phương tiện. Họ muốn trả ơn những người đã chết, để cho họ và
gia đình họ có được cuộc sống trên nhung lụa ngày hôm nay, nên tổ
chức rất nhiều đội Quy-Tập. Các đội này, chuyên đi khai quật những
nơi đã từng là chiến địa đẫm máu ngày xưa, trên toàn quốc kể luôn
cả Miên, Lào… để thâu gom những hài cốt mà khi xưa đã được vùi lấp
một cách rất sơ xài, qua quít bởi các đồng chí của họ, đang rất
vội vã trên con đường bôn tẩu… Và cũng nhờ những nhà ngoại-cảm chân
chính như chị, đã có biết bao nhiêu nấm mồ hoang, mồ chôn tập thể đã
được khám phá. Một số hài cốt có lẫn hình ảnh, giấy tờ hoặc
những vật dụng cá nhân mà thân nhân nhận diện được, thì về đoàn tụ
với gia đình; nếu không, phải về nằm tạm trong các lô đã được xắp
xếp trước theo quê quán, đơn vị… tại những nghĩa trang liệt sĩ địa
phương, chờ !…
— Chắc là nhiều lắm ?
— Nghe nói có đến hơn 300 ngàn bộ hài cốt thuộc tất cả các mặt
trận, đang trong tình trạng chờ đợi như vậy, vì chưa tìm ra lý lịch.
Rồi tự nhiên phát sinh ra một lô những nhà ngoại-cảm “dổm”, họ còn
dám lấy cả xương xúc vật, ngụy tạo là xương người để lừa đảo, trục
lợi… Mọi việc từ đó cứ loạn cả lên, giờ thì chẳng còn phân biệt
được ai là thực, ai là giả nữa !
— Giờ này họ có còn tìm kiếm nữa không anh ?
— Vẫn tiếp tục chị ạ ! Họ ước tính là phải còn hơn 200 ngàn bộ
nữa ! Đây là chỉ riêng liệt sĩ của họ thôi nhé, còn lính miền Nam
hoặc là dân đen thì chị biết đấy: tự lo !…
Ngừng một giây, anh tiếp:
— Chị tính đi, chỉ riêng cái tỉnh Quảng-Trị này cũng có đến 72
nghĩa trang liệt sĩ ! Trên toàn quốc tỉnh nào cũng có, lớn nhỏ ít
nhất cũng phải từ dăm bẩy đến vài chục cái. Đáng kể nhất, là cái
nghĩa trang vĩ đại, “hoành-tráng” nhất nước, là nghĩa trang liệt sĩ
Trường-Sơn. Nghe đâu nó rộng đến hơn 140 ngàn mét vuông, nằm trên ba
ngọn đồi lớn cạnh thượng nguồn sông Bến-Hải. Cho đến bây giờ, đã là
nơi an nghỉ của những 10,333 liệt sĩ của họ… Biết bao nhiêu là linh
hồn đã tìm được về nhà, hoặc một nơi ổn định, để rồi sẽ được
giải thoát ?… Chỉ riêng chúng tôi, những người lính miền Nam…
Câu cuối cùng anh nói nhỏ qúa, như lẫn với tiếng khóc, cố gắng
lắm tôi mới nghe được ! Biết anh đang qúa xúc động, tôi giữ im lặng…
Phải mấy phút sau, anh mới lấy lại được một giọng nói bình thường:
— Mà nói thực ra, nhiều anh em như chúng tôi, cũng chẳng biết là
nếu về được, thì về đâu ? Gia đình ly tán hết sau chiến tranh, người
thì buộc phải rời bỏ nơi tổ ấm từ bao đời, để đi vào chốn rừng
thiêng nước độc “kinh-tế-mới”, người thì vào tù cải tạo, nhà cửa
bị chiếm đoạt, vợ con nheo nhóc bị đuổi ra sống nơi đầu đường xó
chợ… Lại còn một số không ít, dắt díu nhau đi vượt biên, vượt biển…
để rồi phải bỏ thây nơi rừng sâu nước độc đầy thú dữ, hoặc làm mồi
cho cả cá biển lẫn hải tặc… Người nào may mắn thoát đi được thì
cũng lâm vào cảnh ruột thịt chia lìa, ngàn trùng xa cách… Về đâu bây
giờ ? Ngay cả cái nghĩa trang quân đội của miền Nam ở Biên-Hòa đó,
bây giờ chỉ còn là một bãi đất đầy cỏ hoang với nhấp nhô những nấm
mồ vô chủ, bia mộ, tượng đài bị đập phá… chẳng còn ai được phép
ngó ngàng tới ! Nói chung là chỉ vì những người trên dương thế vẫn
còn đắm chìm trong thù hận, phân biệt, nên chúng tôi vẫn còn bị lạc lõng,
bơ vơ…
Lúc này, tôi chẳng còn biết nói gì hơn là một câu an ủi thật… vô
duyên:
— Thời nào cũng thế anh nhỉ, đầy những bất công !
Anh ta mỉm cười, rồi nhìn xa vời về phía trước:
— Cũng đúng thôi chị ạ, vì chẳng nơi nào tự nhiên mà có sự công
bình hết. Để trái đất này và loài người tồn tại được, Thượng đế
chỉ cho chúng ta sự quân bình thôi, còn công bình thì
không ! Con người phải tự tranh đấu dành sự công-bình cho chính mình,
tùy theo trình độ văn minh của họ ! Những câu như “ở hiền gặp lành”
hoặc “ác giả ác báo” chỉ có giá trị cho việc răn dậy con trẻ mà
thôi…
— À này, vậy chứ ở dưới đó, anh có thấy thiên đàng hay địa
ngục gì không ?
— Thiên đàng, địa ngục hả ? Tôi không thấy, hoặc là chưa thấy gì
chị ạ! Những danh từ ấy, nó thật là trừu tượng ! Theo tôi nghĩ:
thiên đàng, địa ngục, thánh thần hay ác qủi gì, thì cũng đều ở cả
trên mặt đất mà thôi. Nơi nào người ta sống thật sự tự do, hạnh
phúc… thì nơi đó là thiên đường, mà trái lại thì là địa ngục! Cũng
ngay trên mặt đất, thiếu gì người cả một đời hiến thân làm việc từ
thiện, cứu nhân độ thế, họ đều là tiên là thánh cả. Lại có nhiều
người khác, buôn dân bán nước, sống trên xương máu của lương dân, giết
hại cả triệu đồng bào… không gọi họ là ác qủy thì phải gọi là
cái gì ?
— Vâng, anh nghĩ như vậy cũng không có gì là sai lắm đâu !… Nhưng
thôi, trở về thực tại… Hôm nay, đắp cho anh được một nấm mộ nhỏ, hai
đứa chúng tôi cứ thắc mắc, không hiểu là như vậy có giúp được gì
cho anh hay không ?
— Tốt lắm chị ạ ! Chị quên là tôi đang phải lần mò đến đây để
cám ơn hai chị rồi sao ?… Nấm mồ tuy nhỏ, nhưng nó cũng đủ để làm
một dấu hiệu cho những người trên dương thế biết rằng, ở dưới đó có
tàn tích của một con người, dù chỉ là một người… “vô danh” !
— Vâng… nhưng ý tôi muốn nói là: nó có giúp gì cho anh trong cái
gọi là… là “siêu thoát” hay không ?
— Đáng tiếc là không chị ạ ! Sớm muộn gì thì tất cả mọi linh
hồn cũng đều được giải thoát thôi. Sớm, hoặc muộn. Cũng như trên
dương gian, tuổi thọ của con người không ai giống ai, có người thọ,
đại thọ… Ngược lại, có người lại bị chết yểu, chết non… Đều là số
mệnh cả, vẫn còn nằm trong sự huyền bí của Thượng-Đế mà chúng ta
không thể biết được. Ngay cả ở dưới này, lâu lâu chúng tôi lại thấy
có một số anh em… biến mất !… Chúng tôi ngờ rằng họ đã được siêu
thoát, giải thoát, hoặc là “đầu thai” gì đó, không ai biết !… Chắc
là phải… chết thêm một lần nữa mới biết được chị ạ ?!…
Suy nghĩ một lúc, anh tiếp:
— Vấn đề là phải kiên nhẫn chờ, chờ đến ngày mình được
giải-thoát ! … Mà trong khi chờ đợi như vậy, còn gì đẹp hơn là được
nằm trong một nghĩa trang gia đình, nghĩa trang làng mình, hoặc thành
phố mình… Được nhìn thấy những người thân yêu đi lại ở xung quanh,
được nhìn thấy những hàng cau, lũy tre làng, những cánh diều của
tuổi thơ… Lại còn mùi trầm hương, nhang khói nữa chứ… Những câu kinh,
tiếng mõ, tiếng chuông chùa… Tất cả đã hòa quyện vào nhau, tạo
thành một chất xúc tác rất mơ hồ, rất huyền ảo, làm cho âm và dương
gần gũi nhau hơn… Người công giáo thì họ ao ước được nghe lại những
tiếng kinh cầu, những bản thánh ca, hồi chuông giáo đường… đều là
những gì rất cần thiết để làm ấm lại, những linh hồn giá lạnh…
Vâng! chúng tôi sợ lắm, sợ phải lang thang vất vưởng ở những nơi đồng
không mông quạnh, núi non bạt ngàn như chỗ chúng tôi đã bị gục ngã…
Đến đây, anh từ từ đứng dậy, cố gắng đứng thẳng người, làm như
đang sửa soạn để chào một vị thượng cấp:
— Biết là hai chị vừa trải qua một ngày thật mệt nhọc, nhưng tôi
không thể không đến đây, để nói một lời cảm tạ chân thành tự đáy
hồn của tôi. Không tìm được người thân, hai chị có thể lặng lẽ bước
đi, như bao người khác… Nhưng hai chị đã không làm thế, ngay cả với
một người vô danh như tôi đây ! Tôi chắc chắn sẽ không bao giờ quên ơn
hai chị… Và bây giờ… chị có thể tiếp tục giấc ngủ của chị, tôi xin
phép…
Nói xong, anh ta lặng lẽ quay lưng bước ra cửa, đầu như hơi cúi
xuống…
Một làn gió lạnh tràn vào, tôi giật mình bừng tỉnh dậy! Biết là
mình vừa mới qua một giấc mơ… Có phải một giấc mơ không, mà sao tôi
vẫn còn nhớ rất rõ, từng chi tiết ?… Nhìn vội ra phía cửa, hình như
tôi còn thấy thấp thoáng cái bóng của anh, đang nhạt nhòa lẫn vào
một màn sương càng lúc càng dầy đặc…
oOo
Đầu năm 2011, vào một ngày Xuân trong tiết Thanh-Minh, tôi nhận được
một lá thư của chị Trâm từ Việt Nam. Lá thư khá dài, ngoài một vài
thông tin, còn có cả những lời như “tâm sự” của chị nữa. Chị cho
biết là gia đình Dì An đã chính thức nhận được đầy đủ bộ hài cốt
của người con, có DNA xác nhận và đã được mai táng tại nghĩa trang
của dòng họ tại Hà-Tây, Bắc-Việt. Còn về phần chị, chị đã có
được mảnh bằng mà chị mơ ước, tuy nó chỉ là một associate degree,
nhưng ở Việt Nam, nó là qúi lắm ! Chị dự định sẽ chỉ dùng sự hiểu
biết của mình cho việc giáo dục thôi, vì chị đã tạm ngưng công việc
của một “nhà ngoại-cảm” rồi. Nhiều lúc chị bâng khuâng tự hỏi: không
biết là vì có “duyên nợ”, hay là vì được trao một “sứ mệnh”, mà
bỗng dưng chị lại có khả năng của một nhà ngoại-cảm, sau một trận
ốm liệt giường?… Cho dù vì bất cứ một lý do gì, chị cũng nghĩ là
mình phải dùng năng khiếu thiên phú này để giúp người. Mà người đây
có nghĩa là tất cả mọi người, chứ không phải chỉ
riêng cho một nhóm cùng chung một phe, một đảng ! Những người “ngã
ngựa” thì đã nhận lãnh đầy đủ các kiểu đòn thù rồi, có cần phải
tiếp tục với những bộ hài cốt nữa hay không ? Thực tế đã khiến chị
phải tạm dừng lại, để chờ ! Chờ và hy-vọng… Đã từng du học ở
những nước tiền tiến, chị thất vọng khi thấy những người lãnh đạo trong
nước, lòng nhân bản của họ hầu như là không có, mà tiến trình văn
minh của họ thì lại đi qúa chậm ! Tệ hơn nữa, nhiều khi họ còn đi
cả… giật lùi ! Ngược dòng lịch sử, chúng ta đã từng chê trách hành
động qúa đáng, không quân tử của vua Gia-Long, là trả thù cả với hài
cốt của vị anh hùng áo vải Quang-Trung. Thế mà ở thế kỷ thứ 21
này, chuyện tương tự xấu xa đó cũng đã đang được tái diễn, trên toàn
thể nước Việt !… Cuối thư, chị có viết là : Để tránh khỏi phải đau
lòng, nhiều khi thà không làm gì hết, còn hơn là chỉ được làm có
phân nửa công việc !
Gấp lá thư của chị và để trong túi áo, tôi nhìn ra nghĩa trang
mênh mông ngoài kia; có những ngôi mộ thật là đẹp, và trên đó, có
những bó hoa cũng thật là đẹp, cho những linh hồn may mắn. Tôi chợt
nghĩ đến, ở nhiều nơi xa xôi, hoang vắng cuối một vùng trời nào đó,
có biết bao nhiêu là mảnh hồn khác, vẫn đang còn âm thầm phiêu bạt,
lạc lõng, bơ vơ… vì vẫn chưa tìm được con đường về với mái ấm gia
đình!
Virginia, ngày lễ Thanh-Minh 2015
Bùi Thượng Phong