
Đọc
Tháng 7, tôi nhớ Nguyễn Mộng Giác.
Tôi quen anh muộn, nhưng khá thân. Có thời, từng góp tay
giúp anh phụ trách một mục trong tờ Văn Học: Tin Văn. Tháng rồi, nhân sắp xếp lại
sách vở, tôi tìm thấy “Xuôi dòng”, tập truyện ngắn đầu tiên anh biếu tôi khi
tôi mới vừa qua định cưở Hoa Kỳ. Đọc lại, vẫn thấy thích như đã từng thích trước
đây. Một trong 13 truyện để lại nhiều dư vị trong tôi là Ngày về không nắng. Truyện đề cập đến một sự kiện xã hội tương đối
nổi bật của những năm tháng sau biến cố tháng 4/1975: sự tan vỡ của gia đình có
chồng đi “cải tạo”. Tạm gọi là bi kịch hậu-cải-tạo. Có bi kịch cười ra nước mắt.
Và cũng có bi kịch khóc ra nụ cười. Ngày
về không nắng mang chúng ta trở lại thuở ấy…
Đó là một buổi chiều tại căn nhà cũ của hai vợ chồng. Người
chồng vừa trở về từ trại “cải tạo” sau
sáu năm “học tập”, ngồi chờ người vợ, hiện đang sống với tình nhân ở một nơi
khác trong cùng thành phố, được bà mẹ chồng báo tin và cho phép đến thăm chồng
cũng như thăm đứa con của hai người hiện do bà nội nuôi dưỡng.
Sau một thời gian hồi hộp chờ đợi, người chồng nhìn thấy vợ
mình đi vào.
“Vợ chàng vào sân
xong, em gái chàng dập thật mạnh cánh cổng sắt. Hình như vợ chàng có nói cảm
ơn, nhưng chỉ có tiếng chân bước thình thịch của Bích ở hẻm phụ đáp lại. Không
thể trốn tránh được nữa, chàng đứng dậy. Tiếng guốc ngập ngừng, rồi dừng lại ở
cửa lớn. Chàng tiến thêm hai bước. Vợ chàng gầy ốm hơn chàng tưởng. Đôi vai so
trong chiếc áo dài mầu hoa cà có in hoa trắng trang nhã, quà chàng tặng vợ sau
một chuyến đi xa. Da mặt nàng tái xanh, hai bên má phơn phớt hồng. Vợ chàng có
thói quen dùng sáp môi xoa một lớp mỏng lên hai bên má thay cho phấn, và ngay từ
ban đầu, chàng nhận thấy nàng vẫn còn giữ thói quen cũ.
Có lẽ trước khi đến gặp chàng, nàng điểm trang vội nên một
vệt son còn rõ ở má phía trái. Chàng chú ý nhất đến đôi mắt vợ. Đôi mắt hớt hải,
ngượng ngùng, chới với, giống y đôi mắt Sonia trong tranh bìa cuốn tiểu thuyết
Crime et Chatiment của nhà xuất bản Marabout nàng mua tặng chàng hồi còn
học ở Văn khoa. Chàng cảm thấy thương hại, chứ không thù hận nàng, như chàng đã
chuẩn bị để thù hận từ buổi sáng.”
Lạ chưa! Thay vì chứng kiến cảnh một người chồng giận dỗi, sẵn
sàng mắng nhiếc người vợ phản bội, và một người vợ tới thăm chồng với thái độ
lì lợm, trân tráo, chua ngoa sẵn sàng đối phó với bất kỳ lời kết án nào, ở đây,
ta thấy nàng “ngập ngừng”, “đôi mắt hớt hải, chới với” còn chàng thì “cảm thấy
thương hại, chứ không thù hận” nàng.
Sau đó,
“Vợ chàng dừng lại ở
chỗ ngạch cửa, chờ chàng tiến đến. Chàng bước thêm hai bước nữa, chỉ còn cách
nàng không đầy một thước. Nàng liếc
nhanh nhìn chàng, rồi cúi xuống nhìn chiếc guốc phải đang dí dí trên nền xi
măng loang lở, nói nhỏ trong hơi thở: “Em xin đến thăm con!”
“Em xin đến thăm con”, tội nghiệp!
Người chồng, sau cảm giác thương hại lúc đầu, bỗng hoàn toàn
thay đổi. Bắt đầu giận và… ghen.
“Chàng ngước lên, và lần đầu tiên, thấy trong cách nàng mỉm
cười, có cái gì đĩ thõa, tráo trở. Lòng chàng sôi lên hận thù.’
Ấy thế mà, chỉ một lát sau, tâm trạng anh ta lại thay đổi một
lần nữa:
“…khi thấy vợ chàng nhìn theo mẹ chồng nước mắt doanh
tròng, chàng bùi ngùi thương hại. Chàng không nỡ. (…)…chàng không thể tàn nhẫn.
Hận thù lại tan dần, thay thế bằng lòng thương hại.”
Rồi sau đó, chàng “chua chát”, chàng “nghẹn lời”. Chàng đẩy
tách nước đến mời vợ uống. Vợ cảm động, thút thít khóc, van xin chàng cho nàng
được đến thăm con. Và chàng cũng cảm động. Chàng hờn dỗi. Rồi sao nữa?
“Nàng khóc nức nở. Chàng đâm hối hận, muốn ôm lấy
vai nàng, muốn nói điều gì đấy để an ủi. Nhưng cổ họng chàng nghẹn. Rụt rè do dự
mãi, đến lúc không thể dằn được, chàng run run đưa lưng bàn tay lên gạt nước mắt
trên má nàng. Ban đầu, hình như nàng chìm đắm trong nỗi thống khổ da diết,
không hay biết gì. Về sau, nàng hiểu thiện chí của chàng. Nàng càng nghẹn ngào
hơn, đưa hai bàn tay ôm bàn tay chàng, gượng nhẹ, như e sợ nắm phải một điều gì
không thực.”
Một cảnh gặp gỡ ngang trái, rốt cuộc, lại diễn ra y như một
cuộc trùng phùng cảm động. Nguyễn Mộng Giác thay thế sự “đụng độ” giữa các nhân
vật bằng sự “đụng độ” giữa các trạng thái tâm lý. Nhân vật chồng được hình
thành bằng các phản ứng tâm lý phức tạp của mình qua cách xuất hiện của người vợ.
Nhân vật vợ được hình thành bởi cái nhìn của nhân vật chồng. Nhân vật, một
mặt, bấp bênh, bất nhất; mặt khác, theo cách nói của Nguyễn Mộng Giác, “người đời”
hơn. Khác với cách xuất hiện bên ngoài trong vai trò xã hội đôi khi hoàn chỉnh
như bị đóng khung, ở bên trong, cái “người đời” ấy luôn luôn chờn vờn giữa hành
động và ý nghĩa của nó. Đứng trước một chọn lựa, nó phân vân. Nó suy đi và ngẫm
lại, nó “trách người” và “xét mình”. Nó bất an, xao xuyến.
Với cách xây dựng như thế, nên nhân vật nào của Nguyễn Mộng
Giác trông cũng dễ chịu, cận nhân tình, ít cực đoan. Chúng làm ta “thông cảm”
hơn là “thích” hay “thù ghét”. Mới đây trên Da Màu, Nguyễn Đức Tùng có truyện
ngắn, Chiều hôm, một người khách lạ,[1][1]
đề cập đến cùng một đề tài, nội dung phức tạp hơn và đa dạng hơn. Trong truyện,
ngoài người chồng và người vợ, còn có thêm người chồng sau của vợ. Cả ba đều trải
qua những đoạn đời truân chuyên, bầm dập, nhưng là những nhân vật cận nhân tình
và ai cũng tốt bụng, nhân ái. Đoạn kết trong Chiều hôm, một người khách lạ là“happy ending”, có nắng, chấm dứt một bi kịch trong lúc Ngày về không nắng, tuy đoạn kết trông
cũng “happy ending”, nhưng thật ra, là bắt đầu của một bi kịch, có lẽ do đó, không nắng. “Người đời” và cảnh đời khác
biệt đưa đến những kết thúc khác biệt; mỗi cảnh mỗi người trong mối ràng buộc,
đôi khi nghiệt ngã, của nó lại mang cho ta những cảm xúc riêng.
Tháng 7/2012, cách đây sáu năm, Nguyễn Mộng Giác vĩnh viễn
ra đi.
Đọc lại anh, tôi không chỉ bắt gặp những nhân vật của anh và
không khí của một thời, mà còn bắt gặp hơi thở của chính anh, tác giả. Đọc một
nhà văn quen, không những thế, một nhà văn mà mình thích, hơn nữa, nhà văn ấy
đã qua đời, như là một cách hồi sinh tác giả, từ đó, hồi sinh lại một quan hệ,
hồi sinh lại một sinh hoạt. Đọc, bỗng nhiên nhìn thấy Nguyễn Mộng Giác trở về.
Người và chữ. Người trong chữ. Chữ trong người.
Nóng
Sau mấy chục năm ở với lạnh, tôi chuyển về ở với nóng:
Dallas. Từ một nơi, nhiệt độ mùa đông, vào lúc thấp nhất là 20 độ âm (-20 F),
tôi đến một nơi, vào lúc nhiệt độ cao nhất mùa hè lên đến 113 độ dương (+113
F). Hiện nay giữa tháng 7, khi tôi đang ngồi gõ bài này, nhiệt độ bên ngoài lên
đến 104. Dự báo thời tiết ngày mai là 105, ngày kế là 107, ngày kế nữa…110. Lạnh
thì quá lạnh. Nóng thì quá nóng.Nóng là
do nắng. Nhưng nóng không phải là nắng. Nóng là hiện thực. Nắng là hư cấu. Ta
có nắng mai, nắng chiều, nắng xuân, nắng mới, và cả nắng hè, nghe lãng đãng y
như thể nắng là người yêu, nhưng chẳng hề có nóng mới, nóng buồn, nóng bâng
khuâng…Và cũng chẳng ai gọi là nóng hè. Tháng 7, hè, cả Dallas bừng bừng. Tôi gọi
là nóng Dallas. Nóng lắm. Nắng nóng. Gió nóng. Bóng cây… cũng nóng. Nóng kéo
dài từ sáng đến khuya. Ở trong nhà nhìn ra, chẳng thấy gì ngoài cái sáng lóa,
chói chang. Tất cả chỉ là một không gian đặc quánh, khô. Nhà cửa, cây cối, hoa
cỏ sững lại, im, dòn, queo quắt, cứng. Nóng tước đoạt mọi cái mềm mại, dịu
dàng; tước đoạt cả chuyển động. Mọi vật dường như chỉ còn một cách tự vệ: đứng/nằm
yên, không nhúc nhích. Không ai thèm “gọi nắng trên vai em gầy…”. Chỉ có trốn nắng
và than nóng!
May là, xuất hiện giữa cái nóng thô kệch và tàn nhẫn đó,là một
nét dịu dàng: màu hoa. Đỏ, hồng, tía, trắng. Dưới nóng, màu lay động. Đó là những
bông hoa crape murtle/crepe murtle. Chúng nở đầy, rực rỡ.
Chúng sống bằng nóng, dưới nóng. Có người gọi chúng là “phượng Dallas” vì cứ
vào cuối tháng năm, lúc các trường học bắt đầu đóng cửa nghỉ hè là đã thấy thấp
thoáng đâu đó những bông hoa crape murtle
xuất hiện, sớm nhất là hoa trắng, rồi dần dà hoa đỏ, hồng, tía. Hoa nở rộ, suốt
tháng 6, tháng 7 và kéo dài đến tháng 9, nguyên cả mùa hè. Crape murtle nhiều thân (có cây hơn 10 thân, đôi khi trông như một
bụi cây) nằm dọc hai bên đường, trong công viên, bệnh viện, công sở, trước nhà
cư dân, được mang vào trồng ở thành phố Paris, Texas vào giữa thế kỷ 19. Năm
1916, nó được khuyến khích trồng để xóa tan dấu vết của một cơn hỏa hoạn lớn
tàn phá thành phố này và cũng để kỷ niệm 100 năm ngày thành lập tiểu bang. Sau
đó, các thành phố khác cũng đua nhau trồng, biến Texas trở thành một tiểu bang crape murtle. Chả thế mà nó được vinh
danh là“The State Shrub Of Texas” (Cây Tiểu Bang Texas) bằng một nghị quyết của
quốc hội tiểu bang Texas vào năm 1997.
“Phượng Dallas” nhắc nhớ đến phượng Huế, “phượng trong Thành
Nội”. Tưởng chỉ nhắc thôi, hóa ra, Huế cũng đã có crape murtle! Giống y chang crape
murtle Dallas. Một người bạn quen ở Huế, mới đây, đã đưa lên Facebook cây
hoa này, gọi là hoa “tử vi”, trồng bên bờ sông Hương. Còn được gọi là “bách nhật
hồng”. Bách nhật hồng? Phải chăng muốn nói là cây hoa nở trong suốt 100 ngày
mùa hè?


“Phượng Dallas” (Ảnh: TDN)
Giữa cái nắng chát chúa của miền bắc Texas, những crape murtle đỏ đỏ hồng hồng tía tía
đung đưa/rung tinh… dưới nóng như thách đố, như khiêu khích. Mà cũng như một bù
đắp. Chiều tối, lúc nắng sắp tắt, nóng dịu đi, ra ngoài đi dọc theo đường quanh
vùng tôi cư ngụ, nghe tiếng ve kêu râm ran trên những cành “murtle” nối tiếp
“murtle”, bỗng nghe mùi Thành Nội trộn trong mùi Dallas, mùi “murtle” lẫn vào
mùi phượng vỹ. Ve ở đây, nhỏ hơn và màu sắc hơi khác, tiếng kêu không cao,
không rộn ràng bằng ve Huế, nhưng nghe êm tai hơn, dịu dàng hơn. Con ve và phượng
chứa cả một dòng đời, cả một cõi đời, cả một thế giới.


“Crape Murtle” bên bờ sông Hương, Huế
(Ảnh: Trần Phò)
Tiếng ve nức nở buồn
hơn tiếng lòng
(…) Màu hoa phượng thắm như máu con tim
“Phượng Dallas” quả là có giông giống máu con tim nhưng tiếng
ve Dallas thì không nức nở như trong bài hát của Thanh Sơn. Tôi cũng chẳng còn
“mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…” Dẫu vậy, màu đỏ/hồng và tiếng ve vẫn gợi dậy
từ góc khuất âm thầm của ký ức một cái gì rất… nỗi niềm. Ngày xưa, rất xưa, rất
xa. Ngun ngút.
Đá
Đá là đá trái banh, nghĩa là dùng chân đá một vật tròn tròn
làm bằng da có bơm hơi gọi là banh. Ấy thế mà,
“Đi tới trước khung thành rồi, Ngầu đang lừa banh, qua rồi,
Há đứng đợi bên trong, đưa banh, Há bỏ cho Ngầu, Liêm ở phía sau sẵn sàng, cú
sút như trái phá… nhưng “quả da” đụng khung thành bật ra. Tam Lang lại được
banh từ giữa sân, đưa dài lên, cú sút của Tư chéo góc… Dzô! Dzô! Dzô, tuyệt
tác. Sân cỏ nổ tung! Rồi Đực, rồi Rạng với đường banh huê mỹ vặn chéo người cứu
một bàn thua trông thấy khiến khán giả choáng váng…”
“Cú sút như trái
phá”, “sân cỏ nổ tung”, “đường banh huê mỹ”. Huyền Vũ, người tường thuật đá
banh nổi tiếng một thời của miền Nam, đãvặn vẹo ngôn ngữ theo số phận của trái
banh trong cầu trường. Nó biến trái banh thành một đối tượng tu từ. Tường thuật
đá banh, từ đó, không còn là tường thuật một mẩu tin mà là chuyên chở một kho
ngôn ngữ khác thường, khác thường đến nỗi nó mang một văn phong riêng,
có khi rất riêng, đầy ví von màu mè, và nhiều khi “cương” một cách vô lối, tưởng
chừng như thoát khỏi lãnh vực của “đá” và “banh” đầy hiện thực. Ấy vậy mà không
hiểu sao nghe vẫn lọt tai. Trong một lần World Cup trước, tôi có ghi nhận vài
nét về thứ ngôn ngữ này, xin trích lại một đoạn:
“Mô tả về sân banh, ta có cầu trường. Cái “gôn” (goal) thì gọi là khung thành, kêu hơn nữa thì là cầu
môn. Người đá banh là cầu thủ.
Người giữ gôn là thủ thành hay thủ môn. Đội banh là giàn nhạc giao hưởng. Trận đấu là màn trình diễn trên sân cỏ, World Cup là
lễ hội bóng đá lớn nhất hành tinh.
Trong cầu trường, thì có cánh trái, cánh
phải, có khi gọi là nách phải, nách
trái. Có vùng cấm địa, tuyến giữa, tuyến dưới, tuyến trên… Rồi
những là phản công, phòng ngự, tiền vệ, hậu vệ, tấn công, bùng nổ, dâng lên, tiến sát, đột kích, đội quân, tổng lực,
chiến lược, chiến thuật, thăm dò, thất bại, chiến thắng, đội hình, chiếm lĩnh,
mở cuộc tấn công, tấn công tới tấp, tinh thần đồng đội, tính kỷ luật, đọ sức…
Những đội giỏi đấu nhau thì là đại chiến,
trận thư hùng. Mô tả sức đấu và cách đấu thì là sức mạnh hủy diệt, lối đá tấn công bão táp, lối đá tổng lực, hãm thành,
rượt đuổi tỷ số nghẹt thở, hứng chịu đòn phản công sắc như dao cạo, trận đấu bị
cắt vụn, phân tán. Thắng thì chém ngọt,
quật ngã đối phương, hạ gục niềm kiêu hãnh, đè bẹp, húc đổ. Thua thì thua đậm, phơi áo. Vân vân và vân vân…
Nếu mô tả trận đấu có chêm thêm từ Hán-Việt, thì ngược lại,
mô tả hành vi đá trái banh thì lại rất “nôm na”, rất hình tượng: đan bóng, lừa bóng, cướp bóng, chêm bóng,
châm bóng, khoan bóng, lật bóng, sút bóng, tạt bóng, nhồi bóng, giữ bóng, xỉa
bóng, dẫn bóng, phá bóng, đi bóng, treo bóng, bóng sệt, bóng bổng... Cũng
thế, về cách đá và sức đá: chọc khe, căng
ngang, sút căng, đường chuyền sắc như dao cạo, đi bóng thông minh, thọc xuống,
phá lên, tung lưới, cú nước rút, bắt bài, khép cửa, khép góc, bọc lót, cản phá.
Đá được trái bóng vào gôn: lọt lưới, thủng
lưới, phá lưới, bắn phá khung thành. Về cầu thủ: ngôi sao đá bóng, cầu thủ huyền thoại, người ngoài hành tinh, hoàng đế,
vua phá lưới, siêu sao, tay săn bàn lão
luyện, tay làm bàn, mũi nhọn tấn công, cặp chân vàng, sát thủ; có khi thì vũ công
hay nghệ sĩ trên sân cỏ. Mới lên 29,
30 tuổi thì đã trở thành… lão tướng!
Khi không cần đá trái bóng mà… đá người, thì là không ngại va chạm, đốn ngã, gây chấn thương…”
Ẩn dụ quả đã được sử dụng một cách hồn nhiên. Nói theo quan
điểm “ẩn dụ ý niệm” thìngười ta đã dùng ý niệm chiến tranh để hiểu ý niệm về đá
banh. Chưa màu mè đủ, người ta còn dùng những ý niệm khác để hiểu đá banh, như
ý niệm về ẩm thực chẳng hạn, theo TS.
Hoàng Anh-Nguyễn Thị Yến. Các nhà báo đã sử dụng những từ ngữ thuộc “trường
nghĩa”[2][2]
ẩm thực để mô tả các trận đấu. Nghĩa là sử dụng ý niệm về ăn uống để hiểu ý niệm
về các trận đá banh.
- bữa tiệc: Đội
chủ nhà đã giành 3 điểm một cách đầy kịch tính trong bữa tiệc có tới 7 bàn thắng.
- đặc sản:
Xem ra món "đặc sản" phòng
ngự của Mourinho vẫn được lưu truyền ở Chelsea thời Avram Grant.
- mâm cổ, đánh
chén: Nhưng khi cả một mâm cỗ chiến
thắng đã phơi bày, không thể đánh chén
thì quả đáng tiếc.
Mùa World Cup năm nay, những từ và nhóm từ như trên lại được
dịp xuất hiện, xuất hiện dày đặc trong các bài tường thuật đá bóng, nhất là từ
các tờ báo trong nước. Các trận đấu càng gay cấn thì ngôn ngữ diễn tả càng màu
mè, càng tu từ, càng vượt ra ngoài lãnh vực đá bóng để đi vào thế giới “vạn
hoa” của ngôn ngữ hư cấu. Xin ghi lại một số từ khác (có từ hoàn toàn mới) về
tu từ đá bóng qua World Cup 2018.
- siêu phẩm hay
tuyệt phẩm (Khi thời gian thi đấu chỉ
còn tính bằng giây, Kroos tung cú sút phạt trực tiếp từ sát mép vòng cấm khiến
bóng đi xoáy vào khung thành Thụy Điển. Siêu
phẩm này đem lại bàn quyết định chiến thắng 2-1 cho Đức).
- siêu dị: mô
tả pha lập công duy nhất của trung vệ Pháp Samuel Umtiti với một cú đánh đầu
không thể cản phá khiến Pháp
đánh bại Bỉ 1-0.
- đói bóng
(Việc Hazard bị chia cắt khiến De Bruyne cô độc còn Lukaku vô cùng đói bóng)
- mặt trận tấn
công (De Bruyne sinh ra để phục vụ
cho mặt trận tấn công)
- canh bạc chiến
thuật (Tới trận gặp Brazil, HLV Martinez lại thực hiện canh bạc chiến thuật mới)
- bom tấn (Bom tấn khủng nhất mùa Hè, Ronaldo đã nổ!
Real
Madrid chính thức cử người tới Brazil kích
nổ bom tấn Neymar)
- lối chơi máu lửa
(Thậm chí ở vị trí tiền đạo đá cao nhất, Mandzukic của Croatia còn gây ấn tượng
hơn Giroud của Pháp bởi lối chơi máu lửa,
tinh thần chiến binh và khả năng tham
gia phòng ngự hiệu quả.)
- bóng chết, bóng
sống (Bóng sệt hay bóng bổng, bóng chết hay bóng sống, người Pháp cũng tỏ
ra quá nguy hiểm trước đối thủ đã kiệt quệ sức lực của họ ở trận chung kết cuối
tuần này.)
- khả năng càn
quét (Một tiền vệ cần cù, đánh chặn xuất sắc nhờ khả năng càn quét trên phạm vi rộng.)
- cán: (ĐT
Pháp đã cán những mốc kỷ lục mới
trong lịch sử ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh.
- không chiến
(Nên nhớ rằng tại World Cup 2018, không
chiến là vũ khí thượng hạng của “Gà trống Gaulois”)
- Cú cứa
lòng (Không cần quan
sát kỹ khung thành, Edinson Cavani của Uruguay tung cú cứa lòng chân phải sở trường khiến bóng đi xoáy vào khung thành
Bồ Đào Nha. Bàn thắng giúp Uruguay giành chiến thắng 2-1 ở vòng 1/8)
Cuối cùng, xin tóm tắt trận chung kết World Cup 2018:
“Pháp - Croatia 4-2:
Trận chung kết của hơi thở thời đại. Đội
tuyển Pháp đã cống hiến một cơn mưa bàn
thắng trong trận chung kết và Croatia đã chơi một trận vượt qua giới hạn của bản thân.”
Nghe khiếp!
Đá bóng nào có thua gì (và có thể còn hơn cả) văn chương!
Trần
Doãn Nho
[1][1] http://damau.org/archives/46278
2 …mỗi từ trong ngôn
ngữ đều có quan hệ mật thiết về ngữ nghĩa với một nhóm các từ khác. Tập hợp những
từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa như vậy tạo nên một tiểu hệ thống ngữ nghĩa.
Và mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa ấy được gọi là một trường nghĩa. (TS. Hoàng Anh-Nguyễn Thị Yến)
https://dhtn.ttxvn.org.vn/tintuc/truong-ngha-am-thuc-trong-cac-tac-pham-bao-chi-viet-ve-bong-da-3177