Tác giả là một dược sĩ, cư dân Chino Hills,
California, đã nhận giải danh dự Viết về nước Mỹ 2007. Bà là nhà văn có 4
tác phẩm đã xuất bản: Tiếng dương cầm (truyện dài) ; Anh mới biết yêu lần dầu
(tập truyện), Còn chờ một kiếp sau (tập truyện), Bốn mươi năm cuộc tình (tập
truyện) Ngoài văn chương, sở thích của bà là đàn dương cầm, đã có 2 CD độc
tấu nhạc cổ điển và tân nhạc.
Tỉnh dậy trong căn phòng hồi sinh của bệnh viện với cảm giác
dã dượi, tôi khẽ cựa mình, cảm thấy đầu nặng như chì nhưng người lại nhẹ tênh,
dập dềnh như đang trôi theo đám mây, có tiếng nói vang lên ngay bên tai:
- Em tỉnh rồi à" Có nhận ra anh không"
Tiếng nói của chồng tôi nghe mơ hồ như vọng lại từ một cõi
xa xăm nào đó, nhưng cũng đủ hiệu lực để gọi tri giác tôi trở về. Tôi lờ đờ mở
mắt. Vật đầu tiên mà tôi nhìn thấy là cái trần nhà trắng toát. Ánh
sáng chói chang của ngọn đèn néon trên trần làm tôi khó chịu, tôi hạ tầm mắt xuống
và nhìn thấy chai nước biển treo tòn ten bên thành giường và khuôn mặt thân yêu
của Nguyễn đang cúi xuống trên người tôi. Tất cả đều mờ mờ như được bao
phủ bằng một lớp sương mù. Nhưng chỉ sau vài phút, mọi vật đều trở nên rõ
ràng và tôi có thể nhìn thấy những nét lo lắng trên khuôn mặt hốc hác của Nguyễn.
Tôi nằm yên một lúc lâu, qua cơn ngầy ngật vì ảnh hưởng của
thuốc mê, dần dần nhớ lại tất cả mọi việc, tim tôi bỗng nao lên những xúc động
khó tả. Lần đầu tiên trong đời, tôi vừa được làm mẹ! Tự nhiên nước
mắt tôi ứa ra, chảy lan trên má; tôi cố nén để khỏi bật ra tiếng khóc, nhưng những
giọt nước mắt vẫn thi nhau tuôn chảy làm ướt hoen cả gối, không phải là những
giọt nước mắt sung sướng của người mẹ mới sinh con đầu lòng, mà là những giọt
nước mắt đau khổ của một người đàn bà bất hạnh, bởi vì tôi vừa mới cho ra đời một
quái thai: Hai đứa bé sinh đôi dính liền nhau.
Nguyễn thở dài:
- Em đừng khóc nữa! Khóc có ích gì"
Chúng ta phải can đảm lên!
- Anh nhìn thấy con chưa" Tôi thều thào hỏi.
Nguyễn gật đầu nhưng không nói gì cả. Thu hết can đảm,
tôi thốt lên câu hỏi xé lòng:
- Trông chúng thế nào"
Nguyễn lảng tránh tia nhìn của tôi:
- Người ta sắp đem tới bây giờ, và cũng không có gì
nghiêm trọng lắm đâu, em đừng quá lo!
Chàng nắm lấy tay tôi. Tay chàng nhớp mồ hôi.
Tôi rùng mình, và không, không phải tôi sợ hãi những gì sắp được trông thấy,
nhưng dù thế nào đi nữa chúng vẫn là các con của tôi, nhưng viễn ảnh của những
ngày sắp tới khiến tôi lo lắng. Liệu tôi có đủ nghị lực và can đảm để có
thể đương đầu với những khó khăn trong tương lai"
Được cái may là bên tôi còn có Nguyễn, một người chồng rất tốt.
Chàng an ủi, chia xẻ với tôi mọi thứ, chia đều gánh nặng trên hai đôi vai.
Nguyễn và tôi yêu nhau từ thuở mới lên đại học và kết hôn
năm năm sau đó sau khi cả hai đều tốt nghiệp ở những trường chuyên môn:
Nguyễn ngành kỹ sư hoá học, và tôi ngành kế toán ngân hàng. Ổn định xong
công ăn việc làm, chúng tôi nghĩ ngay đến việc cho ra đời những đứa trẻ.
Mặc dù cả hai vợ chồng đều khỏe mạnh và không có gì trục trặc trong việc sinh
con, thế mà không hiểu tại sao mãi đến hơn mười năm sau, tôi mới có thai lần đầu
tiên ở vào cái tuổi 38. Khỏi phải nói, chúng tôi đã sung sướng đến thế
nào khi được báo tin kết quả thử thai positive. Mọi việc đều bình thường;
thời kỳ hôi cơm tanh cá, Nguyễn chăm sóc tôi từng ly từng tí. Đó là thời
kỳ hạnh phúc nhất. Chúng tôi suốt ngày bàn về đứa con sắp ra đời sẽ là
trai hay gái, đặt tên là gì, mặt mũi chúng ra sao, giống cha hay mẹ, lớn lên sẽ
làm nghề gì, v.v.. Bao nhiêu thương yêu, bao nhiêu hy vọng chúng tôi đều
dồn cả cho đứa con còn nằm trong bụng mẹ. Tôi mang thai đến tháng thứ ba
thì được bác sĩ cho biết:
- Bà sẽ sinh đôi.
- Ồ thật vậy sao"
Chúng tôi cùng bật lên những tiếng kêu mừng rỡ. Nguyễn
có vẽ sung sướng hơn bao giờ hết. Ngay chiều hôm đó chàng đưa tôi đi ăn
khao. Nguyễn nhìn tôi cười rạng rỡ:
- Chúng mình hiếm hoi nên trời đền bù cho gấp đôi, em
có ngại vất vả không"
Tôi lắc đầu, mắt sáng ngời niềm kiêu hãnh:
- Vất vả vì con thì có gì mà ngại hả anh" Còn hạnh
phúc nào cho bằng hạnh phúc được làm mẹ"
Sau thời gian ốm nghén, tôi ăn ngủ lại được và lên cân đều
hoà. Mọi việc đều tốt đẹp cho đến một lần đi khám thai định kỳ vào tháng
thứ tư, chúng tôi được mời vào gặp bác sĩ:
- Quang tuyến cho thấy là hai thai nhi đâu mặt vào
nhau. Một việc hơi bất thường, tuy nhiên, ông bà đừng lo lắng quá. Có
thể bây giờ hãy còn hơi sớm. Hy vọng bào thai sẽ tiếp tục phân hóa và sau
này mọi việc sẽ đâu vào đó.
Nhưng lần tái khám kỳ sau cho thấy không có tiến triển khá
hơn. Vị thế của hai thai nhi vẫn không thay đổi. Bác sĩ buộc lòng
phải nói ra sự thực:
- Đây là tin chẳng lành. Hai babies của ông bà sẽ
là Siamese twins.
Chúng tôi còn đang sững sờ thì ông giải thích thêm:
- Siamese twins là danh từ dùng để chỉ những đứa bé
song sinh dính liền nhau, và nguyên do là phôi thai không phân hóa trọn vẹn.
Có trời mới hiểu tại sao. Đây là những trường hợp rất hiếm khi xảy
ra. Người ta gọi như vậy là để kỷ niệm cạp song sinh nổi tiếng thế giới
đã xảy ra lần đầu tiên tại Siam (Xiêm la, tức là Thái Lan bây giờ) cách đây gần
hai trăm năm. Ông còn nói thêm vài điều nữa, nhưng tai tôi ù đi.
Tôi chẳng còn nghe được gì nữa. Trời ơi! Có thể nào như vậy được
chăng" Tôi không tin đây là sự thực. Tôi có làm gì nên tội đâu
mà sao trời nỡ bắt phạt" Mắt tôi hoa lên. Tôi đứng không vững.
Nguyễn vội vàng giơ tay ra đỡ. Chàng ôm lấy tôi vỗ về. Ông bác sĩ
nhìn hai vợ chồng tôi với cặp mắt ái ngại xong cũng không biết phải nói thế nào
để an ủi, ông thở dài buồn bã tiễn chúng tôi ra cửa.
Trên đường về, hai vợ chồng cùng im lặng, không ai nói với
ai lời nào, mỗi người theo đuổi những ý nghĩ riêng của mình. Phải làm thế
nào bây giờ" chỉ còn cách là phá thai, giết chết cả hai đứa bé trước khi
chúng ra chào đời. Dã man quá. Tôi rùng mình trước ý nghĩ ghê rợn
đó. Trường hợp này phá thai chắc sẽ không mang tội với pháp luật, nhưng
làm sao khỏi mang tội với lương tâm" Là tín đồ sùng đạo của Công
giáo, tôi không dám đi ngược lại lời răn của Chúa là hủy diệt đi mạng sống của
con người. Nhưng thật ra không đơn giản là chỉ tránh mặc cảm phạm tội, mà
sự thực là đã có một sợi dây tình cảm thiêng liêng ràng buộc giữa tôi và hai đứa
bé ở trong bụng, đó là tình mẫu tử. Tôi yêu các con của tôi. Từ đầu
tuần rồi, chúng bắt đầu máy. Chúng cử động được rồi. Chúng là những
mầm sống do tôi tạo ra. Chúng là kết tinh của tình yêu giữa tôi và Nguyễn,
và chúng là các con của tôi! Ồ không, không bao giờ tôi nỡ giết con cho
dù hình dạng của chúng có quái dị thế nào đi nữa. Như đọc được những ý
nghĩ trong đầu tôi, Nguyễn nhìn sâu vào mắt tôi, nói thong thả từng tiếng một:
- Đừng nghĩ vớ vẩn nữa em. Hãy can đảm
lên. Chúng ta sắp làm cha mẹ; sắp cho ra đời hai đứa trẻ; chúng ta thương
yêu các con của chúng ta, và sẽ làm tất cả những gì chúng ta có thể làm cho
chúng.
Tôi cảm động ứa nước mắt. Ngay sau đó, chàng đưa tôi đến các thư viện lục
tìm tất cả các tài liệu, báo chí, sách vở để tìm hiểu về những trường hợp
Siamese twins, và đa số những đứa bé sinh ra đều chết ngay từ khi mới lọt lòng,
chỉ có một số rất ít còn sống sót với tình trạng rất bi thảm. Nhưng đó là thời
kỳ mà khoa học chưa tiến bộ như bây giờ. Những năm gần đây, ở nhiều nơi
trên thế giới, người ta đã thành công trong việc tách rời những đứa bé dính
nhau. Hiện thời chúng vẫn sống và có những cuộc đời riêng biệt. Với
thành quả của khoa học cùng với sự động viên của các bác sĩ và các thân nhân
khiến hai vợ chồng cảm thấy phấn khởi đôi chút. Chúng tôi không cô
đơn. Chúng tôi không phải chiến đấu đơn độc, và chúng tôi có cả một tập
thể mạnh mẽ đứng sau lưng làm hậu thuẫn.
Biết được ý định của chúng tôi, cả bệnh viện họp nhau lại,
và ngay lập tức, một "fundraising" được thành lập đễ gây quỹ cho cuộc
giải phẫu mà phí tổn dự trù có thể lên đến hơn một triệu đô la. Rất nhiều
người hưởng ứng.. Các hội đoàn từ thiện, những người giàu có, các vị hảo tâm, tất
cả đều sốt sắng đóng góp. Về tiền bạc, chúng tôi không phải lo lắng gì cả.
Như thế cũng đỡ đi một mối bận tâm nên chúng tôi chỉ phải chuẩn bị tinh thần để
đón nhận hai đứa bé, đón nhận cái số phận trời đã đành cho mình.
Những lần chụp quang tuyến sau này cho thấy hai thai nhi có
hình dạng bình thường ở đầu, vai và hai tay, nhưng phần dưới thì dính chung làm
một. Chúng không tách ra, không thay đổi vị trí và phân hoá gì thêm, nhưng dính
nhau ở mức độ nào thì chỉ có thể biết sau khi chúng ra chào đời.
Các bác sĩ cho biết sẽ phải mổ để lấy hai đứa bé ra, vì với
vị thế dính nhau của chúng, tôi sẽ không sinh được bình thường. Thời gian
chờ đợi thật là kinh khủng. Tết năm đó là một cái tết buồn thảm nhất đời
của hai vợ chồng. Chúng tôi không còn lòng dạ nào nghĩ đến việc mua bán sắm sửa
hay trang hoàng nhà cửa cho ba ngày đầu xuân thiêng liêng của một năm mới. Thay
vào đó, chúng tôi để thì giờ bàn về những việc sắp xảy ra.
Thế rồi cái gì phải tới đã tới. Tôi mang thai đã được
bốn mươi tuần. Vào thời điểm này, tất cả bộ phận của thai nhi đã phát triển
đầy đủ. Tôi được đưa vào bệnh viện mỗ lấy thai nhi ra hai tuần trước hạn
kỳ; bụng tôi đã lớn quá cỡ. Cuộc giải phẫu ngắn ngủi chưa đầy một tiếng đồng
hồ đã xong xuôi tốt đẹp, và bây giờ tôi nằm đây, trong phòng hồi sinh của bệnh
viện, hồi hộp chờ đợi để được thấy mặt con. Nguyễn cho tôi biết:
- Hai đứa bé là con gái. Chúng cân nặng tổng cộng
gần bốn kí. Cả hai đều khoẻ mạnh và may mắn chúng dính với nhau ít hơn là
người ta dự đoán, nghĩa là, chỉ dính từ phần bụng cho tới vùng xương chậu.
Mỗi đứa có một thân mình riêng với đầy đủ hai tay, nhưng phần dưới chỉ có một
chân và chung nhau cái chân thứ ba.
Nguyễn được nhìn thấy con trước, trong khi tôi còn đang ở
trong phòng hồi sinh. Ba giờ sau khi tôi tỉnh dậy, người ta đem hai đứa
bé tới cho tôi nhìn mặt. Chúng được bọc trong một tấm chăn màu hồng.
Thoạt đầu tôi tưởng rằng hình ảnh mà tôi trông thấy sẽ làm tôi dội ngược trở lại.
Nhưng không, trông chúng chỉ giản dị như hai đứa bé đang ôm nhau, chỉ có thế.
Sau đó, y tá đưa các con tôi về một khu riêng biệt.
Còn lại một mình trong phòng với Nguyễn, tôi bật khóc nức nở;
hai đứa bé trông thật là xinh đẹp, vậy mà trời nỡ bắt tội chúng phải mang một
cái tật quái dị là dính liền nhau. Chúng tôi đặt tên con là Mai và Phượng.
Các bác sĩ cho biết là theo đúng kế hoạch thì phải đợi tới khi Mai và Phượng được
hơn một tuổi mới có thể tiến hành cuộc giải phẫu để tách rời, vì khi đó chúng mới
đủ lớn để có sức chịu đựng.
Ba tuần sau khi sanh, chúng tôi được đem con về nhà. Mặc
dù cơ thể có khiếm khuyết, các con tôi vẫn lớn lên theo năm tháng. Chúng
tôi được hướng dẫn các phương cách để có thể chăm sóc cho chúng một cách đặc biệt.
Vị thế dính nhau khiến chúng không thể nằm ngửa, vì nếu nằm ngửa đứa này sẽ nằm
chồng lên đứa kia. Chúng tôi khắc phục cái bất tiện ấy bằng cách đặt
chúng nằm nghiêng, thỉnh thoảng lại trở mình để cho đỡ mỏi, và chúng tôi kê dưới
lưng chúng mỗi đứa một cái gối. Mai và Phượng giống nhau như hai giọt nước
với mái tóc tơ mềm mại hơi quăn, đôi mắt to tròn đen láy với những cái nhìn thật
tội nghiệp và cái miệng thật là xinh xắn dễ thương.
Các con tôi bắt đầu mọc răng và bi bô gọi mẹ. Nhìn
con, tôi như đứt từng đoạn ruột; hai khuôn mặt đẹp như thiên thần, nhưng cơ thể
không phát triển bình thường. Đã gần thôi nôi rồi mà không biết lẫy, cũng
chẳng biết bò, và dĩ nhiên, làm sao đi được" Chúng không thể nào cứ
sống như vậy suốt đời! Bằng bất cứ giá nào, chúng tôi phải cứu lấy chúng!
Các bác sĩ cho biết cuộc giải phẫu tách rời hai đứa bé sẽ thập
phần nguy hiểm, có thể lấy đi mạng sống của chúng, nhưng nếu thành công thì các
con tôi có thể sống cuộc đời bình thường. Chúng tôi run tay ký giấy chấp
nhận mọi sự rủi ro. Thật là một quyết định đau lòng, nhưng không còn cách
nào khác. Các thử nghiệm cho biết hai đứa bé có hai lá gan nhưng dính làm
một, hai bộ phận tiêu hoá riêng biệt, hai quả thận và chung một cái chân.
Tiến trình của cuộc giải phẫu được hoạch định như sau:
- Chúng tôi sẽ chia đều hai quả thận cho mỗi đứa một
quả. Bác sĩ nói tiếp. Sau đó sẽ tách rời hai lá gan, và phải hết sức cẩn
thận để không làm đứt những ống dẫn mật từ gan vào ruột, sau đó, sẽ đến phần
xương chậu bị hở ỏ phía trước, chỗ dính liền ở bụng dưới - mỗi đứa chỉ có nửa
vòng xương chậu, nửa vòng còn lại sẽ được thay thế bằng thép. Còn cái
chân chung, vấn đề khó khăn là phải chẩn đoán xem cái chân thuộc về đứa bé nào,
nghĩa là máu trong đứa bé nào đã đi vào mạch máu để nuôi cái chân đó. Sự chẩn
đoán phải thật chính xác, bởi vì nếu lầm thì cái chân đó sẽ chết và không đứa
bé nào được hưởng cái chân đó cả.
- Các bác sĩ sẽ có cách chứ" Nguyễn lo lắng
hỏi.
- Dĩ nhiên. Khoa học ngày nay tiến bộ thì việc
đó sẽ có cách giải quyết. Chúng tôi sẽ cho chích vào mạch máu một số lượng nhỏ
chất phẩm phát quang, sau đó sẽ quan sát, theo dõi và xác định.
Chúng tôi cám ơn bác sĩ về những lời giải thích rất rõ ràng
và dễ hiểu. Nguyễn nói:
- Chúng tôi đặt tất cả tin tưởng vào các bác sĩ và vào
khoa học.
Ông mỉm cười với chúng tôi và khuyên:
- Ông bà không nên lo lắng quá.
Thái độ tự tin của ông làm chúng tôi an tâm phần nào.
Sau cùng, thì cái ngày trọng đại đó cũng sắp tới. Ba
tuần trước ngày sinh nhật đầu tiên của Mai và Phượng, các con tôi được đưa tới
bệnh viện nhi đồng ở tiểu bang Philadelphia, nơi đó người ta chuyên môn về những
vụ mổ xẻ như vậy. Một ê kíp các bác sĩ chuyên khoa đã sẵn sàng. Tháp tùng
hai đứa bé có bác sĩ và hai cô y tá của bệnh viện, hai vợ chồng tôi và người chị
ruột của tôi cũng được đi theo để giúp đỡ và hỗ trợ tinh thần. Một xe cứu
thương đã trực sẵn ngay tại phi trường để đem ngay hai đứa bé vào bệnh viện.
Từ nay cho tới ngày mổ, chúng phải ở luôn tại đó để được hưởng sự chăm sóc đặc
biệt. Ba người chúng tôi thuê một phòng nhỏ trong một khách sạn gần bệnh
viện để tiện việc tới lui thăm viếng. Chúng tôi có thể đi thăm chúng hàng ngày
vào những giờ giấc nhất định.
Các con tôi rất ngoan, không hề la khóc ngay cả những khi bị
tiêm, chích đau đớn. Hình như chúng hiểu người ta làm vậy là chỉ vì chúng,
nhưng những ánh mắt cam chịu của trẻ thơ làm chúng tôi mủi lòng. Lần nào
cũng vậy, mỗi khi hết giờ thăm, cô y tá vào phòng bồng chúng đem đi thì tôi
không sao cầm được nước mắt. Các con tôi xoải những cánh tay nhỏ bé cố nắm
níu một cách tuyệt vọng, chúng dõi những cặp mắt tội nghiệp nhìn theo cha mẹ với
một vẻ quyến luyến không muốn rời, miệng chúng méo xệch đi nhưng không khóc,
sau đó chúng úp mặt vào nhau, xoay lưng ra ngoài, xoay lưng lại với đời.
Nguyễn kéo tôi đi nhanh, nước mắt cũng đã lưng tròng.
Các bác sĩ có vẻ lạc quan vì cả hai đứa đều có vẻ khoẻ mạnh
và cân lượng rất tốt, những điều kiện thiết yếu cho một cuộc giải phẫu lớn, họ
nói chúng có hy vọng sống sót. Trong khi chờ đợi, chúng tôi dành tất cả
thì giờ để cầu nguyện; ngày qua ngày chúng tôi sống trong tâm trạng bất an, có
lúc sốt ruột, có lúc lại mong cái ngày đó đừng bao giờ tới, tự mình mâu thuẫn với
chính mình. Bà chị của tôi trái lại rất bình tĩnh và lạc quan vì chị ấy
được cứu sống sau một tai nạn trầm trọng nên rất tin tưởng ở khoa học.
Nhờ chị ấy an ủi, khích lệ nên chúng tôi mới giữ vững tinh thần..
Buổi chiều hôm trước ngày giải phẫu, chúng tôi được phép vào
bệnh viện thăm con và ở lại với chúng bốn tiếng đồng hồ. Đây là những
phút giây não lòng nhất; có thể không bao giờ Nguyễn và tôi còn gặp lại chúng nữa.
Nước mắt rưng rưng, chúng tôi ôm các con vào lòng nựng nịu, vuốt ve hôn hít và
nói chuyện với chúng. Tôi nắm lấy những bàn tay bé nhỏ, thì thầm:
- Ôi thật tội nghiệp cho các con của mẹ. Nhất định các
con phải sống nhé" Các con phải hứa sẽ không được bỏ đi. Ngoan nào
Mai và Phượng, các con hứa đi.
Hai đứa bé giương những cặp mắt ngây thơ nhìn cha mẹ, nhoẻn
miệng cười. Tim tôi thắt lại, lòng tôi đau như xé, tôi cố nén nhưng nước
mắt vẫn trào ra. Lau vội giòng lệ, tôi mở mắt thật to nhìn như uống lấy
chúng, cố thu hết những hình ảnh cuối cùng của các con vào ký ức; biết đâu đây
là lần cuối cùng tôi được nhìn thấy chúng. Nguyễn đã để sẵn trong ví số
điện thoại của nhà quàn.
Sáng sớm hôm sau, trước khi đẩy xe vào phòng giải phẫu, các
nhân viên của bệnh viện dừng lại một phút cho chúng tôi hôn từ biệt các con một
lần cuối. Sau đó cửa phòng được đóng lại ngăn chúng tôi ở bên ngoài.
Nguyễn dìu tôi ngồi xuống ghế. Chân tôi mềm nhũn, toàn
thân tôi rũ liệt, bao nhiêu sinh lực biến đi đâu mất cả. Nhìn cánh cửa từ từ
khép kín trước mắt tôi, tôi cảm thấy hoàn toàn bất lực. Các con tôi đang ở
trong đó. Chúng đang ở biên giới giữa cái sống và cái chết, và các bác sĩ
đang dành giựt mạng sống của hai đứa con tôi với tử thần. Phải gắng sức
lên các con nhé" Hãy chiến đấu cho tới cùng. Đừng buông
xuôi. Đừng bao giờ bỏ cuộc! Sự sống quý giá lắm các con ạ, hãy cố mà giữ
lấy, và nếu các con biết được lòng cha mẹ thương yêu các con đến mức nào, chắc
chắn các con sẽ không nỡ bỏ đi. Mà đâu chỉ có lòng cha mẹ. Còn tấm lòng của những
người đã đóng góp cho cuộc lạc quyên, tấm lòng của các y sĩ giải phẫu, tấm lòng
của xã hội, của khoa học. Các con sẽ ở lại với mẹ, với cha, với cuộc đời, phải
không Mai, Phượng" Lạy Chúa lòng lành, lạy Mẹ hằng cứu giúp, xin hãy tiếp
sức cho chúng con. Tay nắm chặt cây thánh giá bằng bạc nhỏ xíu, tôi nhắm
mắt lại cầu nguyện. Đột nhiên tôi có cảm giác như có một làn gió lạ vừa
thổi qua làm tôi tỉnh hẳn người. Quanh tôi, cảnh vật như bừng sáng, ánh
sáng xanh của hy vọng, cây thánh giá trong tay tôi mát lạnh như tượng đức Mẹ
làm bằng đá cẩm thạch ở trong nhà thờ, một niềm an ủi vô biên làm thần kinh tôi
dịu lại, tôi thấy vững tin hơn bao giờ.
Chín giờ sáng, cuộc giải phẫu bắt đầu. Y tá thỉnh thoảng
lại ra báo tin cuộc giải phẫu tiến hành tốt đẹp, và hai đứa bé ở trong tình trạng
tốt. Vào khoảng 4 giờ chiều, một tin làm chấn động mọi người: hai đứa bé
đã hoàn toàn được tách rời. Sau đó là phần việc của các bác sĩ chuyên môn
trong việc phân chia các bộ phận và ghép vòng xương chậu.
Đúng 7 giờ tối, cửa phòng giải phẫu mở toang và người ta đem
hai đứa bé ra trên hai chiếc băng ca khác nhau. Chúng tôi đứng bật dậy,
chạy tới. Các con tôi, mắt nhắm nghiền, mặt nhợt nhạt như những xác chết,
băng quấn đầy mình, và những dây, những ống cắm chằng chịt, nhưng là hai thân
thể đã hoàn toàn tách rời, là hai đứa bé riêng biệt.
Bác sĩ trưởng toán giải phẫu nói với vợ chồng tôi:
- Mọi việc đều trôi chảy. Hai đứa bé hiện đang ở
trong tình trạng nguy kịch nhưng ổn định. Hy vọng rồi sẽ qua và mọi việc
sẽ tốt đẹp.
Chúng tôi bắt tay ông và ngỏ lời cám ơn. Ông mỉm cười
và giơ ngón tay cái lên chúc may mắn. Trán ông lấm tấm mồ hôi, trông ông
có vẻ mệt nhọc và hơi phờ phạc nhưng rất vui vẻ. Ông và toán giải phẫu đã
làm việc hơn mười giờ trong tình trạng căng thẳng, dù vậy không ai tỏ ra nóng nảy
hay bực bội; mọi người đều tươi cười, họ xúm quanh chúng tôi, thân mật bắt tay,
nói những câu an ủi và chúc mọi sự sẽ tốt đẹp.
. . .
Bà Nguyễn kể tới đây thì ngưng lại lau mắt làm mọi người đều
cảm động, sau đó bà kết luận:
- Từ đó đến nay đã hơn bốn năm trôi qua, Mai và Phượng
đã đi học lớp mẫu giáo. Chúng có một cuộc sống bình thường như mọi đứa trẻ
khác. Mai đi hơi lệch vì một chân bị ngắn hơn chân kia, chỉ cần mang một đôi giầy
đặc biệt là nó có thể đi lại bình thường. Còn Phượng thì chỉ có một chân
và phải mang chân giả. Nhưng điều quan trọng là chúng đã sống và có hai
cuộc đời riêng biệt, không còn chung chạ. Đó là một thành công của khoa học.
Người mẹ khiêm tốn kia đã quên không đề cập đến vai trò của
hai vợ chồng bà trong việc cứu sống hai đứa bé và sức phấn đấu của con người
trước nghịch cảnh. Khoa học thôi không đủ mà còn cần cả tình thương nữa.
Phải, chỉ có tình thương mới có thể dành được mạng sống của con người giữa biên
giới của cõi chết.
Phương Lan
