Tẩy não hay kiểm soát tinh thần là một tiến trình làm thay đổi
nhận thức và niềm tin trong con người, qua đó một người hay một nhóm người sử dụng
các phương pháp phi đạo đức để khuất phục kẻ khác làm theo các quyết định của một
người hay của một nhóm người đó. Khái niệm tẩy não được biết đến từ lâu qua các
tà đạo, chiến tranh, tình báo, tuy nhiên chỉ dưới các chế độ Cộng Sản kỹ thuật
này mới được nâng lên thành quốc sách và được thực hiện một cách triệt để, có hệ
thống, bao trùm mọi lãnh vực xã hội và trong mọi tầng lớp nhân dân.
Tẩy não một người
Chính sách tẩy não nhắm vào từng cá nhân được phát hiện lần
đầu tiên qua hành vi của các tù binh Mỹ bị Trung Cộng bắt trong chiến tranh Triều
Tiên. Một số binh sĩ Mỹ sau khi được trao trả đã thay đổi hoàn toàn cách suy
nghĩ, thái độ và cả hành động. Tác giả Edward Hunter phỏng vấn nhiều tù binh bị
bộ máy tuyên truyền Trung Cộng tẩy não và ghi lại trong tác phẩm gây tiếng vang
lớn Tẩy não tại Trung Cộng (Brainwashing in Red China) xuất bản 1951. Nhà báo
Edward Hunter trong tác phẩm Tẩy não, câu chuyện của những người đã thách thức
nó (Brainwashing, The Story of Men Who Defied It) xuất bản 1956 cũng mô tả nhiều
trường hợp những lính Mỹ bị bộ máy tuyên truyền Trung Cộng tẩy não.
Một vài trường hợp điển hình như Đại Tá Frank H. Schwable
sau khi bị tẩy não đã lên đài phát thanh Trung Cộng tố cáo chính phủ Mỹ phát động
chiến tranh vi trùng hoàn toàn tưởng tượng chống lại nhân dân Triều Tiên hay
trường hợp Trung Sĩ Claude Batchelor từ chối trở lại Mỹ. Nhiều cựu tù binh, ngoại
trừ giọng nói là của họ, từ câu văn đến dấu phẩy, dấu chấm, cách lên giọng, xuống
giọng đều giống như vẹt đã được huấn luyện thuần thục.
Năm 1957, nhà xã hội học Albert D. Biderman trong bản tin của
Viện Hàn Lâm Y Khoa New York đã liệt kê 8 biện pháp mà các quốc gia Cộng Sản
dùng để tẩy não một người gồm:
(1) Cô lập, tước đoạt mọi nguồn ủng hộ, làm cho nạn nhân tùy
thuộc vào kẻ tẩy não.
(2) Độc quyền hóa khả năng nhận thức, tập trung sự chú ý vào
một mối quan hệ giữa kẻ tẩy não và nạn nhân.
(3) Làm suy yếu khả năng đối kháng về mặt tinh thần cũng như
làm kiệt quệ về thể lực.
(4) Đe dọa, trồng cấy sự lo lắng, bất an và tuyệt vọng vào ý
thức của nạn nhân.
(5) Ban đặc ân để khuyến dụ sự tuân hành.
(6) Làm cho thấy việc chống lại chỉ là hành động vô ích mà
thôi.
(7) Phát triển một thói quen tuân phục.
(8) Chứng tỏ việc phản kháng chỉ làm thiệt hại cho lòng tự
trọng hơn là việc đầu hàng có điều kiện.
Các phương pháp tẩy não của Trung Cộng đã làm quốc hội Mỹ phẫn
nộ. Edward Hunter và nhiều tác giả khác đã được mời ra điều trần trước quốc hội
Mỹ. Dù sao, nhờ cuộc chiến Triều Tiên mà nhân loại mới biết nhiều hơn về tẩy
não, được gọi một cách văn hoa là “cải tạo tư tưởng” tại Trung Cộng và các nước
CS, trong đó có Việt Nam.
Tẩy não một dân tộc
Những năm sau 1990, nhiều nhà sử học, nhiều nhà phân tích đổ
xô đi tìm lý do tại sao phong trào CS thế giới sụp đổ, nhưng cũng có nhiều nhà
phân tích, nhà sử học khác cho rằng việc truy tìm hiểu lý do là thiếu khoa học,
chủ nghĩa CS sụp đổ là chuyện đương nhiên, câu hỏi đúng nên đặt ra là yếu tố gì
đã giúp CS tồn tại đến hơn 70 năm tại Liên Xô và các nước Đông Âu.
Phần lớn đồng ý là chính sách tuyên truyền tẩy não là cây cột
chống đỡ chế độ CS. Có người còn cho rằng tẩy não đồng nghĩa với CS, đơn giản
vì không có tẩy não, chế độ CS đã sụp đổ từ lâu lắm chứ không đợi đến thập niên
1990.
Hai cơ quan cầm đầu chính sách tẩy não tại các quốc gia CS
là Ban Tư Tưởng Trung Ương Đảng (Việt Nam gọi là Ban Tuyên Giáo Trung ương) và
Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng. Ban Tư Tưởng Trung Ương Đảng CS kiểm soát toàn bộ
đời sống tinh thần của đất nước bằng một chính sách tuyên truyền tinh vi và có
hệ thống khống chế tuyệt đối mọi lãnh vực từ truyền thanh, truyền hình, báo chí
đến phim ảnh, bích chương, hội họp, nghệ thuật, nhà hát, sách vở v.v…
Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng là cơ quan bảo vệ sự sống còn của
đảng CS như một tổ chức chính trị và đóng vai trò “tham mưu của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị,
Ban Bí thư về chủ trương và các chính sách lớn thuộc lĩnh vực tổ chức cán bộ của
hệ thống chính trị; đồng thời là cơ quan chuyên môn nghiệp vụ về công tác tổ chức,
cán bộ, đảng viên của Trung ương”. Tại các quốc gia CS, không một sinh hoạt xã
hội nào thoát khỏi sự kiểm soát của hai cơ quan nêu trên.
Để tẩy não một dân tộc đảng CS thay đổi mọi giá trị và nền tảng
văn hóa, lịch sử và truyền thống dân tộc, nói chung phải xây dựng những con người
tuân phục và đất nước tuân phục.
Bộ máy tuyên truyền CS nặn ra nhiều khái niệm chưa từng có
trước đó “con người mới”, “xã hội mới”, “văn hóa mới”, “anh hùng lao động”,
“lãnh tụ kính yêu”. Cái gì cũng mới nhưng thực chất đều là giả tạo. Tại các quốc
gia Đông Âu ngày nay, các “anh hùng” do các đảng CS dựng lên bị khám phá là sản
phẩm tuyên truyền và bị xóa bỏ. Đảng không chỉ có khả năng thay đổi hiện tại, vẽ
ra một tương lai nhưng còn có khả năng thay đổi cả quá khứ của cả dân tộc.
Lịch sử một dân tộc được viết bằng sử quan của đảng CS và được
giải thích phù hợp với đường lối, chính sách của đảng CS trong từng thời kỳ chứ
không phải là những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ thăng trầm, vinh quang và
thống khổ của dân tộc. Bộ máy tuyên truyền CS chi phối không chỉ trong các sinh
hoạt nhân văn, xã hội mà cả khoa học tự nhiên như trường hợp lý thuyết kế thừa
giống lúa của Trofim Lysenko trong sản xuất lúa tại Liên Xô những năm 1930, tuy
không làm sản lượng lúa tăng được bao nhiêu nhưng đảng đánh bóng y thành một
thiên tài.
Có người cho rằng chế độ CS thực chất là chế độ phong kiến
hiện đại nhưng so sánh đó không hoàn toàn đúng, ít ra về mặt danh xưng. Khác với
các triều đại phong kiến, các vị trí xã hội dưới chế độ CS thường được đặt ngược.
Những kẻ ăn trên ngồi tróc, thực sự làm chủ đất nước, nắm trong tay quyền sinh
sát cả dân tộc lại được gọi là “đầy tớ nhân dân” trong lúc những tầng lớp cùng
đinh trong xã hội, sống không một túp lều tranh để ở và chết không một chiếc
chiếu để bó xác lại bị gán cho một danh xưng rất đẹp “chủ nhân của đất nước”.
Đặc tính văn hóa của mỗi quốc gia cũng làm cho chính sách tẩy
não thực hiện tại châu Âu và châu Á khác nhau chút ít. Châu Âu như Liên Xô và
các nước CS Đông Âu đặt nặng yếu tố vật chất, thể xác trong lúc Trung Cộng, Việt
Nam yếu tố tư tưởng, tinh thần được chú trọng nhiều hơn. Một đối tượng tẩy não
bị bắt tại Liên Xô sẽ bị hành hạ thể xác cho đến khi thú nhận những tội ác dù
không làm, thừa nhận là sự thật dù biết đó là giả dối trong lúc tại Trung Cộng
và CSVN đối tượng đó sẽ bị “cải tạo tư tưởng” cho đến khi gục quỵ xuống mới
thôi.
Tẩy não một quốc gia thù địch
Kiểm soát tạm thời hành vi và ý chí của một cá nhân có thể
chỉ cần một thời gian ngắn như trường hợp các tù binh Mỹ trong chiến tranh Triều
Tiên nhưng kế hoạch của Liên Xô nhằm tẩy não nước Mỹ cần nhiều chục năm. Tại
sao phải cần đến vài chục năm, theo Yuri Bezmenov cựu nhân viên KGB đào thoát
và được định cư tại Canada năm 1970, giải thích đó là thời gian cần có để xây dựng
một thế hệ con người trung thành với lý tưởng CS ngay tại Mỹ.
Yuri Alexandrovich Bezmenov là một cựu nhân viên KGB hoạt động
tại Ấn Độ trong thập niên 1960. Cha của ông là một lãnh đạo cao cấp của tổ chức
KGB. Năm 17 tuổi ông theo học ngành ngôn ngữ học tại đại học Moscow State
University do KGB trực tiếp kiểm soát. Nhiệm sở đầu tiên sau khi tốt nghiệp của
Yuri Bezmenov là Ấn Độ với trách nhiệm thực thi các chính sách nhằm lật đổ chế
độ dân chủ Ấn. Tuy nhiên, sự thán phục của ông dành cho nền văn hóa Ấn và sự bất
mãn chế độ Cộng Sản mỗi ngày một gia tăng đã thúc đẩy Yuri Bezmenov đào thoát
khỏi ý thức hệ CS.
Năm 1985, trong một buổi phỏng vấn đặc biệt với chủ đề “Làm
thế nào để tẩy não một quốc gia”, Yuri Alexandrovich Bezmenov giải thích chiến
lược của Liên Xô để thay đổi tư duy của một quốc gia đối nghịch, trường hợp này
là Mỹ.
Không giống như các phim ảnh do Hollywood dàn dựng với những
màn gián điệp gay cấn, hấp dẫn kiểu James Bond, tẩy não nước Mỹ là một tiến
trình được thực hiện từng bước, rất nhẹ nhàng, diễn ra trước mắt và trải qua bốn
giai đoạn gồm (1) lũng đoạn nền tảng đạo đức, (2) tạo sự bất ổn, (3) gây khủng
hoảng và (4) bình thường hóa. Trong bốn giai đoạn, hủy hoại nền tảng đạo đức của
một quốc gia là giai đoạn quan trọng nhất.
Mặc dù mục đích của buổi phỏng vấn nhằm giải thích cuộc chiến
tranh văn hóa tư tưởng mà Liên Xô dùng để đánh gục nước Mỹ, tẩy não cũng là chính
sách chung mà lãnh đạo các đảng CS trên toàn thế giới áp dụng.
Mỹ chẳng những không bị đánh gục mà trái lại đã góp phần
quan trọng trong việc hạ gục toàn bộ hệ thống Liên Xô. Tuy nhiên, phía thế giới
tự do, trong thời kỳ chiến tranh lạnh cũng tổn thất khá nặng với Cuba (1959),
Congo (1970), Ethiopia (1974), Cambodia (1975), Việt Nam Cộng Hòa (1975), Lào
(1975), Angola (1975), Mozambique, (1979), Nicaragua (1979) bị rơi vào quỹ đạo
CS.
Tạm gác qua bên cuộc chiến bằng súng đạn, trong bốn giai đoạn
mà Yuri Alexandrovich Bezmenov phân tích, giai đoạn thứ nhất, đầu độc một quốc
gia, đáng được phân tích để thấy cuộc chiến tranh văn hóa tư tưởng do CSVN phát
động đã ảnh hưởng thế nào đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa. Trong buổi phỏng
vấn Yuri Alexandrovich Bezmenov cũng nhắc đến Việt Nam và tiết lộ các chính
sách do CSVN thực hiện chẳng phải là sản phẩm riêng gì của đảng CSVN nhưng hoàn
toàn rập theo khuôn mẫu của Liên Xô. Do đó, phần còn lại của bài sẽ thay VNCH
vào chỗ Mỹ.
Để hủy diệt nền tảng đạo đức văn hóa của VNCH, trước hết phải
đầu độc thành phần trí thức. Giới lãnh đạo CSVN đã tiến hành một chính sách quy
mô nhằm mua chuộc, lũng đoạn, phân hóa hàng ngũ trí thức miền Nam Việt Nam.
Nhiều người hiểu lầm rằng đối tượng của chính sách tuyên
truyền CS áp dụng vào các thành phần ít học, dễ tin, đói khát, cùng khổ, hay
“không có gì để mất” nói theo quan điểm Marx. Không phải. Mục tiêu hàng đầu của
đảng CS là thu hút thành phần có lý tưởng, có học thức như nhà báo, nhà xuất bản
sách, nhà giáo dục, văn nghệ sĩ, nói chung là những thành phần có khả năng hướng
dẫn dư luận.
Hàng khối trí thức miền Nam đã bị CS tuyên tuyền, đầu độc và
trở thành những công cụ của CS trong thời chiến, khi VNCH gục xuống trong máu
và nước mắt, và mãi cho đến ngày nay.
Những thành phần thân Cộng này không nhất thiết phải được kết
nạp vào đảng nhưng là những người biện hộ cho quan điểm của đảng CS bởi vì tiếng
nói của họ được xem “khách quan”, “độc lập”. Những trí thức và chính khách này
tự nhận là “thành phần thứ ba” như được gọi trong sinh hoạt chính trị tại miền
Nam Việt Nam trước năm 1975.
Thực tế chính trị đã chứng minh, không có quan điểm nào gọi
là “độc lập” hay “khách quan” và tại miền nam Việt Nam trước đây cũng không có
thành phần nào đúng nghĩa là thành phần chính trị thứ ba, ngoài hai lập trường
chính trị quốc gia và cộng sản.
Cuộc chiến VN sau hiệp định Geneve là cuộc chiến giữa tự do
và độc tài, giữa quốc gia và CS. “Ba thành phần” là cách viết cho hợp tình để
rút lui của Mỹ trong hiệp định Paris.
Những người trong “Thành phần thứ ba” đều nằm trong sự kiểm
soát của đảng CS và hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đảng chứ chẳng “độc
lập”, “khách quan” gì cả, như đã chứng minh sau 1975 khi họ hợp tác một cách
tích cực và nhận các chức vụ dù hữu danh vô thực của chế độ.
Một số hiện nay tuy bất mãn nhưng vẫn hãnh diện với chức vụ
bắt đầu với chữ “cựu” và “nguyên” đó. Trước 1975, có nhiều lãnh tụ đảng phái quốc
gia đối lập (Đại Việt, VNQDĐ …) và nhiều chính khách đối lập (Gs Trần Văn
Tuyên, Gs Nguyễn Ngọc Huy …) nhưng họ vẫn là chính khách quốc gia và nhiều người
đã chết trong tù. Chống chính quyền, chống tham nhũng tại miền Nam trước 1975
khác với hoạt động cho CS.
Trong bài “Những người đi tìm tổ quốc” trên talawas trước
đây tôi có viết về sự khác nhau này: “Các anh có quyền biểu tình, có quyền chống
độc tài, chống tham nhũng, chống độc diễn nhưng khi bỏ đi sang hàng ngũ của những
người ném lựu đạn vào quán ăn, pháo kích vào trường học, đặt mìn trên quốc lộ,
các anh đã phản bội quyền sống trong hoà bình của nhân dân miền Nam. Giống như
những đứa con lớn lên trong một gia đình nghèo, có bà mẹ bịnh tật, có người cha
say rượu hay đánh đập con cái và còn một bầy em nhỏ dại. Thay vì khuyên răn người
cha, săn sóc người mẹ, che chở cho đám em khờ, các anh lại bỏ đi, và chẳng những
đã bỏ đi mà còn dắt kẻ gian về đốt phá nhà mình.”
Alexandrovich Bezmenov cũng giải thích xa hơn, thành phần
thân Cộng chỉ cần thiết trong giai đoạn làm sụp đổ quốc gia thù địch nhưng khi
mục đích của đảng CS đã đạt, thành phần này chẳng những không còn cần thiết mà
có thể trở thành một chướng ngại. Nhiều trong số họ phải bị giết, bị tù và bị
thanh trừng qua nhiều hình thức.
Lý do? Những kẻ thân Cộng trong chiến tranh rất dễ bị bất
mãn khi thấy đảng CS nắm hết quyền hành và do đó sẽ trở thành thù địch về mặt
quyền lực với chế độ và chống đối về mặt tư tưởng với chủ nghĩa Marx Lenin. Họ
bị thanh trừng, ngoài ra, còn vì cái tội biết CS quá nhiều. Yuri Alexandrovich
Bezmenov nêu lên trường hợp Nicaragua nơi một phe thân CS trước đó đã hoạt động
chống lại tổ chức CS Sandinistas do José Daniel Ortega lãnh đạo. Tại
Afghanistan nơi lãnh tụ CS Taraki bị Amin giết, rồi Amin bị Karmal giết, và tại
Bangladesh nơi Mujibur Rahman bị chính những người cùng chiến tuyến với y giết.
Để chiến thắng trong trận chiến quân sự và văn hóa, ngoài khối
thân CS nêu trên, đảng CS cần một mạng lưới nằm vùng trung thành, dã man, cuồng
tín và hữu hiệu. Thành phần này cần thiết để trực tiếp thi hành các chính sách
của đảng CS tại các địa phương.
Yuri Alexandrovich Bezmenov nhấn mạnh đến thành phần nằm
vùng bởi vì không có mạng lưới nội ứng tại địa phương các lực lượng CS bên
ngoài không thể xâm nhập được. Trong buổi phỏng vấn, cựu nhân viên KGB này có
nhắc đến trường hợp một thành phố ở Việt Nam, được viết trong văn bản là Hua,
có thể ông muốn nói Huế, để nhấn mạnh đến vai trò của mạng lưới CS nằm vùng:
“Tương tự, trong một quận của Huế tại Nam Việt Nam, nhiều ngàn người bị xử tử
trong một đêm khi thành phố bị CS chiếm chỉ trong hai ngày; CIA không thể nào
trả lời được câu hỏi, làm thế nào CS có khả năng biết từng cá nhân người bị xử
tử, ông ta sống ở đâu, đến nơi nào để bắt ông và để bắt trước bình minh, bỏ ông
ta lên xe, lái ra khỏi thành phố và bắn ông ta. Câu trả lời rất đơn giản. Thật
lâu trước khi chiếm thành phố đã có một mạng lưới của những CS nằm vùng; họ là
dân địa phương và là những người biết một cách tuyệt đối những ai trong thành
phố có ảnh hưởng với quần chúng, kể cả những anh thợ hớt tóc và tài xế taxi. Những
ai có cảm tình với Mỹ đều bị xử bắn.”
Thước đo của mức độ bị tẩy não
Mức độ bị tẩy não cũng có mức trầm trọng khác nhau. Một người
bị tẩy não hoàn toàn sẽ không còn khả năng để đánh giá sự thật. Sự kiện và bằng
chứng không có nghĩa gì với họ. Yuri Alexandrovich Bezmenov phát biểu từ kinh
nghiệm ở Liên Xô “Ngay cả mang anh ta tới tận Liên Xô và chỉ cho anh ta thấy trại
tập trung, anh ta cũng không tin… cho đến lúc anh ta bị đá ngay vào đít, khi
giày đinh đạp lên anh, rồi anh ta mới hiểu. Nhưng không phải trước đó. Đó là thảm
kịch của tình trạng bị băng hoại về đạo đức trong con người”. Nhiều người Việt
Nam hiện nay vẫn chịu đựng mức độ tẩy não trầm trọng như vậy.
Tuy nhiên, cũng có những người bị tẩy não ở mức độ thấp hơn.
Họ thấy được những hiện tượng sai trái, những bất công, tiêu cực của chế độ
nhưng vẫn “chấp nhận đặc ân để sau đó tuân hành”, vẫn cho rằng “chống lại chỉ
là hành động vô ích”, vẫn “trải qua nhiều chục năm tuân phục thành một thói
quen”, và vẫn nghĩ rằng “phản kháng chỉ làm thiệt hại cho lòng tự trọng hơn là
việc đầu hàng có điều kiện” đúng như các điểm mà nhà xã hội học Albert D.
Biderman liệt kê.
Điều đó cho thấy, trên thế giới, chủ nghĩa CS chỉ là một
bóng ma hãi hùng của quá khứ, các dân tộc từng bị CS cai trị từ Âu sang Á đã thức
tỉnh sau bảy mươi năm chịu đựng chủ nghĩa tàn bạo nhất lịch sử loài người nhưng
tại Việt Nam vẫn còn nhiều người bị tẩy não. Giống như đảng CS không bao giờ thừa
nhận đã và đang tẩy não cả dân tộc, không ai muốn thừa nhận mình bị CS tẩy não.
Thước đo mức độ tẩy não không phải là quá khó để xác định mà
nằm ngay trong câu trả lời cho câu hỏi rất đơn giản “Anh (chị) thật sự muốn gì
cho đất nước?”
Con đường duy nhất hiện nay là tập trung sức mạnh dân tộc, gạt
bỏ mọi bất đồng, vận dụng các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh cuộc vận
động dân chủ tại Việt Nam đến thành công, xóa bỏ chế độ độc tài toàn trị CS,
thiết lập một chế độ dân chủ pháp trị, hiện đại hóa đất nước toàn diện làm nền
tảng cho việc phục hồi chủ quyền đất nước, mở đường cho một Việt Nam thăng tiến
lâu dài.
Không có con đường nào khác. Tuy nhiên, không phải ai cũng
có một câu trả lời dứt khoát và giống nhau như thế. Ngay cả trong tầng lớp có học
thức, nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, nhà báo không ít người vẫn còn nghĩ rằng
nói gì thì nói đảng CS trong suốt dòng lịch sử của đảng đã đồng hành với dân tộc,
nói gì thì nói chỉ có đảng CS mới có khả năng đưa đất nước ra khỏi nghèo nàn lạc
hậu, nói gì thì nói đảng CS là đảng nắm trong tay ngọn cờ chính nghĩa, nói gì
thì nói Việt Nam vẫn cần ổn định để phát triển và mọi thay đổi đột biến sẽ dẫn
đến hỗn loạn, nói gì thì nói các lãnh tụ CS vẫn là những người yêu nước, những
anh hùng dân tộc và xứng đáng được kính trọng khi họ sống và tôn thờ, tiếc
thương, than khóc khi họ chết.
Lịch sử thế giới chỉ riêng từ thế chiến thứ hai cho đến nay
có nhiều anh hùng đã đóng góp trí tuệ hay máu xương vào công cuộc bảo vệ tự do
cho đất nước họ hay giải phóng dân tộc họ khỏi ách thực dân. Vài trường hợp điển
hình như Mahatma Gandhi (Ấn Độ), Winston Churchill (Anh), Charles de Gaulle
(Pháp), Tưởng Giới Thạch (Trung Hoa Dân Quốc), Franklin D. Roosevelt (Mỹ).
Nhưng khi họ chết, ngoài tang quyến, không có cảnh “Đời tuôn nước mắt, trời
tuôn mưa” như khi Hồ Chí Minh chết và “ôm thật chặt cột nhà khóc cho thỏa nỗi
xót thương” như khi Võ Nguyên Giáp vừa chết ở Việt Nam. Bởi vì những lãnh đạo
thế giới nêu trên là những anh hùng thật, con người thật, có thành công và thất
bại, có điểm tốt và điểm xấu và cuộc đời họ được phô bày trước dư luận chứ
không phải là sản phẩm do nhà máy tuyên truyền sản xuất trong một xã hội bị
bưng bít thông tin. Tuy mức độ có khác nhau, “khóc lãnh tụ” là đặc điểm của văn
hóa CS và chỉ tồn tại tại các nước CS.
Trở lại với thành phần “nói gì thì nói”. Giới hạn trong hoạt
động tri thức của thành phần “nói gì thì nói” mỗi thời kỳ có thể được nới rộng
hơn chút ít nhưng đó không phải là sự mở rộng thuận theo đà phát triển của văn
minh nhân loại mà từ sự thỏa hiệp với đảng CS.
Như kẻ viết bài này có lần đã viết, xã hội Việt Nam là một
xã hội được khoanh vùng có biên giới rõ rệt giữa các thành phần và các thành phần
này cùng tồn tại bằng cách thỏa hiệp với nhau. Không được vượt đèn đỏ, không được
lấn lề, vi phạm sẽ bị phạt. Đảng Cộng sản thỏa hiệp với các thành phần trí thức
vì mục đích duy trì quyền cai trị đất nước. Giới trí thức thỏa hiệp với đảng để
được ban phát bổng lộc, lợi danh. Giới văn nghệ sĩ thỏa hiệp với đảng để các điều
kiện sáng tác, in ấn, phát hành được nới rộng hơn, được đi Tây, đi Mỹ dễ dàng.
Các bè phái tham ô thỏa hiệp với lãnh đạo đảng để được tiếp tục tham nhũng cho
đến khi bị lộ. Chỉ có những người cùng khổ, thấp cổ bé miệng nhưng chiếm đa số
trong xã hội, là không ai cần thỏa hiệp mà họ cũng chẳng biết thỏa hiệp với ai
ngoài số phận hẩm hiu đầy bất hạnh của mình.
Không có gì đáng hãnh diện. Hồ nước rộng mà thành phần “nói
gì thì nói” đang bơi trong đó hôm nay hai chục năm trước là một chiếc ao nhỏ và
bốn mươi năm trước là một lỗ chân trâu nhưng dù là lỗ chân trâu, ao hay hồ cũng
chỉ là nơi tích tụ của những giọt nước tuyên truyền cùng một nguồn nhỏ xuống suốt
hơn nửa thế kỷ qua. Dù thừa nhận hay không, tầng lớp của những người “nói gì
thì nói” chính là những người bị CS tẩy não, và Việt Nam hôm nay vẫn còn chịu đựng
dưới chế độ độc tài trong khi đại đa số nhân loại sống trong tự do dân chủ
không phải vì tài năng của giới lãnh đạo CS nhưng chỉ vì số người bị tẩy não
còn quá đông.
Trần Trung Đạo
Tham khảo:
– Albert D. Biderman, Herbert Zimmer, Manipulation of Human Behavior (The), Delhaye, 1961
– Kathleen Taylor, Brainwashing THE SCIENCE OF THOUGHT CONTROL, Oxford University Press 2004
– Transcript of G. Edward Griffin interviews Ex-KGB Soviet Defector Yuri Bezmenov, Wed Jun 3 1985
– EDWARD HUNTER, Brainwashing, The Story of Men Who Defied It, New York, 1956
– Louis R. Stockstill, The Forgotten Americans of the Vietnam War, Prisoners of War—A Special Report, US Air force
– Biderman’s Chart of Coercion
– http://vi.wikipedia.org về Ban Tuyên Giáo Trung Ương và Ban Tổ chức Trung Ương đảng CSVN
– Former KGB Agent Yuri Bezmenov Explains How to brainwash a nation
– Archie Brown, The Rise and Fall of Communism, HarperCollins, New York, NY 2011
– Albert D. Biderman, Herbert Zimmer, Manipulation of Human Behavior (The), Delhaye, 1961
– Kathleen Taylor, Brainwashing THE SCIENCE OF THOUGHT CONTROL, Oxford University Press 2004
– Transcript of G. Edward Griffin interviews Ex-KGB Soviet Defector Yuri Bezmenov, Wed Jun 3 1985
– EDWARD HUNTER, Brainwashing, The Story of Men Who Defied It, New York, 1956
– Louis R. Stockstill, The Forgotten Americans of the Vietnam War, Prisoners of War—A Special Report, US Air force
– Biderman’s Chart of Coercion
– http://vi.wikipedia.org về Ban Tuyên Giáo Trung Ương và Ban Tổ chức Trung Ương đảng CSVN
– Former KGB Agent Yuri Bezmenov Explains How to brainwash a nation
– Archie Brown, The Rise and Fall of Communism, HarperCollins, New York, NY 2011
