Nắng lên, định đi bộ một vòng, biết lạnh nên tôi đã trang bị
như một người đi trượt tuyết, vậy mà vẫn không chịu nổi những cơn gió hung hãn,
lạnh buốt, làm tê cóng cả tay chân, mặt mũi. Mới đi một đoạn ngắn, tôi đã phải
rời khỏi công viên, nhìn cây phong, có chiếc ghế đá, nơi hay ngồi đàm đạo với
ông Văn, giờ khẳng khiu như bộ xương khô. Kì diệu thật ! đã mấy trăm năm, dưới
cái lạnh dữ dội, chưa kể tuyết rơi tầm tã, những cành cây trơ trụi, tưởng như
chết kia, vẫn tuôn nhựa sống trong từng thớ gỗ, để nuôi cho những mầm non hé nụ
khi cơn gió mùa xuân vừa thổi đến, cả những cây đã già, không còn chịu nổi
phong ba bão táp, trước khi chết, cũng thả hơi thở còn lại của mình xuống gốc
cho những hạt mầm mới sinh ra, sự sống lại tiếp nối, chúng tự tin, ngạo nghễ,
mưa, gió, nắng của trời nuôi sống chúng, trong khi con người một phần sự sống lại
nhờ vào cây cỏ .
Tôi chui vào xe, tự nhiên hứng chí muốn uống một ly cafe
nóng, vẫn biết uống cafe giờ này sẽ mất ngủ, đêm sẽ dài, nhưng thỉnh thoảng, đừng
ngược đãi " bản thân " mình quá ! hãy " chiều " chúng một
chút ! Cưỡng cầu làm gì khi mọi thứ kể cả con người, đều có hạn sử dụng của nó
! Ngụm cafe nóng đưa đẩy tôi vào đủ thứ chuyện, tôi lan man nghĩ tới những tổ
chức bảo vệ môi sinh, mọi thứ từ : sông ngòi, biển cả, loài vật quí hiếm, cái
gì cũng cần bảo vệ, nhưng cần nhất vẫn là bảo vệ rừng, cây cỏ vốn là thứ gần
gũi với con người, vì chúng cho ta dưỡng khí, cho ta biết ý nghĩa cuộc đời, cho
ta cảm nhận cái kỳ diệu của tạo hóa qua bốn mùa thay lá, cho ta biết mơ mộng,
đôi khi còn đẩy ta phiêu lưu trên các ngọn tình sầu, gợi hứng cho những văn si,
thi sĩ, nhạc sĩ để họ dẫn ta vào với rừng, với lá "Anh đi rừng chưa thay
lá ! Anh về rừng lá thay chưa ?" Không thể chính xác, cuồng nhiệt, hoang dại
hơn, khi : " Anh yêu em như rừng yêu thú dữ, anh yêu em như rừng cây với
gió, đã yêu rồi, biết nói gì em ơi ! " mỗi lần nghe những giòng thơ, nhạc
quyến rũ này, tôi lại thấy khỏe cả người, ( cứ như càng yêu, càng khỏe ), cái
trữ tính đó lan tỏa trong tâm hồn, thấm vào cảm xúc, như sức sống của một thời
trai trẻ cứ âm ĩ hoài, không dứt ! Chất cafeine, làm tôi tỉnh táo, quá khứ, hiện
tại, tương lai, từng mảng đầy ắp trong đầu, tiếc có, nhưng buồn thì không.
Tôi đọc được đâu đó trên mạng, già thì phải sống yên ổn, ngồi
thiền, nghe kinh Phật, buông bỏ mọi thứ, mỗi người có suy nghĩ khác nhau, chẳng
ai đúng, ai sai, chỉ một đoạn đường ngắn nữa thôi, hà cớ gì phải ép mình vào những
thứ mình không thích ?
Cần buông, cần giữ cái gì ? Cũng phải lựa chọn ! Buông bỏ hết,
là tự cô lập chính mình, trong khi còn một hơi thở là còn phải liên hệ với cuộc
đời ! Bỏ hết thế nào được ? Với tôi, chỉ đơn giản là : đừng thấy đời vô nghĩa,
đừng thấy mình vô dụng, đừng thấy kẻ khác vô tình, đừng vô tâm với sức khỏe, thế
là đủ vui ! Đủ để cảm ơn cuộc đời và mọi thứ chung quanh. Cảm ơn thiên nhiên
xinh đẹp, cảm ơn biển trời, núi cao, rừng sâu và ngay cả những loài thú dữ, cảm
ơn những người còn ở lại bên tôi, ( kể cả những người chỉ ghé qua đời tôi ) đã
cho tôi niềm vui, lẫn cả nỗi buồn .
Nói tới rừng, tôi lại nhớ lời kể của ông Văn về người nghệ
nhân và bức tượng "cô sơn nữ " (trong truyện "dốc đời") , vậy
ra bức tượng ông cho chỉ là phó bản, ông nói :
--Lúc vào thăm xưởng điêu khắc, tôi thấy bức tượng đẹp quá !
Hỏi mua, anh ta không bán, nói đó là nguồn cảm hứng đầu tiên, là tim, là máu,
không thể bán được ? Tôi năn nỉ, thôi thì “phó bản" vậy ! Nể quá, nên anh
ta nhận lời, nhưng không nhận tiền. Để tặng ông, phải nói là mua, thì ông mới
nhận chứ !
Nghe xong, tôi cảm động quá ! Có người bạn thế này, đã đủ ấm
lòng rồi !
Đến bây giờ, câu chuyện vẫn hỗn loạn trong đầu, cảm giác có
cái gì vướng víu, hay bởi chưa từng sống như vậy, nên tôi thấy câu chuyện quá lạ
lùng, hi hữu ? Có phải tình yêu đã hoá giải được cái tàn độc của chiến tranh ?
Giúp con người trải qua nỗi bất hạnh ? Và tiếng vọng của những cảnh hoang tàn,
chết chóc đã không xóa nhoà hoàn toàn trong tâm tư người lính, như ông Văn, như
người tạc tượng, như những người còn sống sót sau cuộc chiến ? Một cuộc chiến
mà hồi kết chẳng ra làm sao!
Không biết có được đón nhận ? Vẫn muốn chia sẻ câu chuyện
này cùng các bạn :
Ngày 30/4, người nghệ nhân qua Mỹ, vợ con, công việc, đủ mọi
thứ lo toan, những tưởng sau một thời gian dài, mọi thứ sẽ nhạt dần, cô sơn nữ
cứu mạng anh sẽ chìm khuất ở cái vùng rừng núi tây nguyên hun hút ấy ! Nhưng
không, nó vẫn cứ quanh quẩn trong đầu, ám ảnh, cả khi anh lái xe qua một cánh rừng.
Anh cũng không tin là tìm sẽ gặp, nhưng cũng bớt phần nào áy
náy! Đã nhiều lần anh xa gần nói cho vợ biết, nhưng bây giờ thì cần phải nói rõ
hơn, nói cho nàng hiểu, anh cần tìm cô gái ân nhân đó để tạ ơn và cả tạ lỗi nữa
! Anh biết, nàng đủ thông minh để hiểu, tạ ơn thì có thể đền bù bằng vật chất,
nhưng tạ lỗi thì không ! Liệu có vì vậy mà nàng từ chối ? Còn chưa biết mở lời
sao, thì hình như nàng hiểu những giằng co trong lòng anh, anh lặng người khi
nghe nàng nói hết sức bình tĩnh :
-- Em biết, anh rất nôn nóng muốn về VN, em cũng đã nghe tiếng
thở dài của anh trong đêm, em may mắn có được anh bấy lâu, bây giờ thì anh hãy
sống cho cái phần đời còn lại của anh.
Ngạc nhiên và sửng sốt, nhưng nói gì thì cũng là biện minh,
là thừa thãi, anh im lặng.
Ngày đi , vợ anh đưa ra phi trường, không biểu hiện gì buồn
phiền, trách móc, chỉ nắm tay, nhắc nhở :
-- Anh nhớ giữ gìn sức khỏe !
Anh không hiểu vợ anh nghĩ gì, nàng có thật sự thông cảm,
hay chỉ để anh khỏi cảm thấy khó sử ? Lúc nàng quay đi, tâm trạng anh thật là
mâu thuẫn, anh buồn vì tại sao nàng không nói thêm :
-- Nhớ gọi cho em, lo xong việc, thì về !
Đến Saigon, anh thuê xe đi Pleiku, thành phố cao nguyên heo
hút này bây giờ cũng khá là sầm uất. Thay đổi nhiều quá, anh không biết phải
tìm từ đâu, buôn làng hoang vu có căn nhà sàn của cô, giờ biến thành vùng kinh
tế mới, người kinh, người thượng sống lẫn lộn với nhau, chẳng còn khói lam chiều
bốc lên từ núi, từ đồi, từ thung lũng. Rừng xưa đã chết, đã bị bức tử, bị xâm
thực, bị tàn phá, chính vậy mà sự tìm kiếm trở nên khó khăn, nhưng anh vẫn hy vọng
và tiếp tục đi tìm. Hôm nay cũng vậy, anh mệt mỏi, ra khỏi lối mòn, một người
đàn ông với chiếc gùi trên lưng chỉ anh, rẽ trái, đi khoảng hai cây số có một
thị trấn nhỏ ven rừng, có thể còn xe đi thành phố. Thị trấn nhỏ thật, đi hai
phút đã về chốn cũ, ở đây chỉ có một ngôi nhà nghỉ, dành cho người leo núi,
hai, ba quán ăn sập sệ và ngôi chợ chỉ bán vài ba thứ, còn chuyến xe cuối về
Pleiku , người lơ xe dục dã, anh leo lên, chiếc xe lăn bánh, bụi đỏ bay mù mịt,
anh ngoái cổ nhìn lại phía sau, mà ruột cứ nóng dần lên, cảm tưởng như có cái
gì níu chân anh lại, anh đòi xuống, người lơ xe cằn nhằn : "Xuống đi cha nội,
không trả lại tiền vé đâu nghe ". Cái linh tính đột xuất không biết có
đúng không ? Nhưng bây giờ, anh chơ vơ giữa đường, lầm lũi quay về thị trấn,
trong cái giây phút không ngờ tới nhất, anh giật mình vì một cô gái bán quà lưu
niệm ở cuối chợ, cả người bỗng tê cứng, bần thần, hồi hộp, anh cứ đứng chết
trân mà nhìn cô ! Ánh mắt vẫn vậy, vẫn sâu hun hút, như đưa anh ngược thời gian
trở về với trận mưa rừng năm đó ! Mưa triền miên, mưa không ngừng nghỉ, con đường
rừng, đất đỏ đặc quánh, khiến bước chân người lính chậm lại, nặng nề, đơn vị trở
về sau cuộc hành quân, tưởng yên rồi, ai ngờ bọn du kích vẫn núp, vẫn rình rập,
âm vang tiếng súng át cả tiếng mưa rơi, tiếng thác đổ, tiếng suối reo, chúng
đông lắm, lại tấn công bất ngờ, hung hãn, đồng đội anh từng người ngã xuống, mầu
máu và mầu đất đỏ hòa vào nhau, trôi theo từng cơn mưa tầm tã, nhưng mùi máu vẫn
tỏa khắp cánh rừng. Cuộc giao tranh rồi cũng tàn. Anh cố mở ba lô, lấy băng cứu
thương, máu vẫn không ngừng chẩy, đau lắm, nhưng anh cố lết, lết mãi, đầu óc bồng
bềnh, lơ lửng, một chút ý thức còn lại của kẻ sắp chết cũng không giống ai ! Ý
nghĩ như bị lệch đi, vì lẫn với những cái xác im lìm, có đứa miệng còn ú ớ, rên
rỉ, một chút xót thương nhen nhúm, kể cũng tội nghiệp, chúng đã hy sinh oan uổng.
Bỗng anh thấy tức cái chế độ cộng sản hoang đường, vô thần, man rợ, chính chúng
tạo nên cuộc chiến tranh này, mục đích chỉ là bành trướng chủ nghĩa cộng sản,
nên tuyên truyền : "chống Mỹ cứu nước" để lợi dụng bầu nhiệt huyết của
tuổi trẻ, nhồi nhét những tư tưởng bi quan, căm thù vào những tâm hồn còn chưa
biết gì về cuộc sống, dần dà thấm vào máu, mù quáng nghe theo. Đảng quang vinh,
lãnh tụ anh minh, thần thánh, nhưng cái đuôi quỉ, thì vẫn thòi lòi đằng sau.
Xe tải thương vẫn chưa đến, lết được tới bờ suối, thì mắt
anh mờ đi, cùng với cái đau dữ dội, làm anh mất dần ý thức, khi còn chưa kịp nhớ
đến những người thân yêu .
Anh tỉnh lại, không biết mình thiếp đi bao lâu, đầu óc lễnh
lãng, chưa kịp định thần, thì giọng một cô gái cất lên :
-- Anh tỉnh rồi à ?
Cô đặt bàn tay ấm áp lên trán anh, như nhớ ra, anh hoảng hốt
nhìn xuống chân, nhấc nó lên, chẳng có cảm giác gì, nỗi đau tàn phế, khiến anh
lặng đi, quên cả cô gái đang nhìn anh ái ngại, cô đỡ anh ngồi dậy, đặt bát cháo
nóng vào tay, rồi chậm rãi kể anh nghe mọi chuyện, có lẽ con suối bị khuất nơi
xảy ra cuộc đụng độ, nên xe cứu thương đã không tìm thấy anh .
Giọng cô ấm, rõ ràng, không mang âm hưởng nhiều của dân miền
núi, sự chân tình của cô gái và dân bản làng giúp anh lấy lại bình tĩnh, dù sao
còn sống là tốt rồi ! Ở thêm vài ngày, anh nhờ cô đưa đến đơn vị gần nhất để
trình diện .
Sau đó vì thương tật, anh được thuyên chuyển về Saigon. Gặp
lại người yêu, nàng vẫn ân cần, không ngại ngùng gì khi : " Anh trở về
trên đôi nạng gỗ, anh trở về dang dở đời em ". Saigon đẹp, vui, nhộn nhịp
! Vậy mà anh vẫn nhớ rừng, nhớ núi , nhớ đồng đội, nhớ chiến trường , nhớ ngôi
nhà sàn với những luống bắp thẳng tắp và bàn tay ấm áp đặt trên trán, khi anh vừa
từ cõi chết trở về, nhớ nhất là ánh mắt cứ hun hút như rừng, nụ cười thì chan
hòa như nắng , nắng trải khắp núi đồi, trên con đường rừng gập gềnh, hôm cô đưa
anh trở về đơn vị, bịn rịn mãi, rồi cũng chia tay, nụ cười đã thay bằng nước mắt
:
-- Vết thương anh chưa lành đâu, nhớ uống thuốc nghe ! Em sẽ
ở đây chờ anh.
Anh nắm chặt tay cô , chẳng biết nói gì , ngoài một câu ngắn
ngủi :
-- Anh cảm ơn em !
Rồi chống cây gậy tre, lết từng bước khó khăn quay vào doanh
trại, nghĩ thế nào cũng phải gặp lại cô. Bất ngờ, cơn lốc dữ 30/4 đã cuốn anh
sang tận nước Mỹ xa xôi, ra đi mà tâm trạng vô cùng buồn và thất vọng !
Cơn gió lạnh thốc vào mặt, cắt đứt dòng hồi tưởng, khiến anh
rùng mình như tỉnh một giấc mơ.
Anh lắp bắp , không thành tiếng :
-- Em... em ở đây ? Vậy mà anh đã tìm cả tuần nay !
Cô cũng sửng sốt, nhận ra anh với cái chân khập khiễng, người
mà cô đã cứu bên bờ suối, cạnh cánh rừng, còn đẫm mùi bom đạn.
Lòng cả hai xôn xao, như có ai vừa "mang mùa yêu thả
ngang trời " !
Rồi cô chỉ một xóm nhỏ, dưới thung lũng :
-- Nhà chị em dưới kia, đến giúp chị mấy ngày thôi ! Sáng
mai em về Pleiku rồi !
-- Anh cũng về Pleiku sáng mai, mình sẽ cùng đi, còn bây giờ
anh đưa em về.
Mọi việc được sắp sếp, như một phép lạ. Sểnh một chút ! Chỉ một
chút thôi , thì : "Tìm em , anh biết tìm đâu bây giờ ?"
Nụ hôn vội vàng, trước thềm nhà có giàn bầu đang ra trái và
mấy bụi hoa đỗ quyên đỏ rực, đã làm anh thao thức cả đêm.
Sáng hôm sau, anh đợi cô ở bến xe .
Từ thị trấn nhỏ đến thị xã Pleiku, đường không tốt lắm, xe cứ
nẩy lên, nẩy xuống, làm cô ngã hắn vào người anh. Đường ổ gà, mà sao nó đi
nhanh quá ! hơi nóng cô còn rực trên cổ, trên vai anh .
Xe đến bến, cô ngập ngừng hỏi :
-- Những điều anh nói trên xe là thật chứ ? Anh muốn đi theo
em ?
-- Em là người anh nhớ dai nhất, cho anh theo em có được
không ?
Ánh mắt cô, thay cho câu trả lời. Bữa cơm trưa đó, anh biết
thêm về cô, cô đã học xong trung học, năm 1977 thì cha mẹ bỏ nhà sàn, bỏ buôn
làng về thị xã, mua đất để trồng cây sinh sống, khi cha mẹ mất, chị theo chồng
, cô lưu luyến mảnh đất rừng này, nên không bán. Giọng cô mơ hồ, nhưng anh nghe
rất rõ :
-- Em đã nói , vẫn ở đây chờ anh mà !
Và tất cả những chờ đợi, khao khát nổ tung, tiếng đập trái
tim, tiếng thở dồn dập làm ngôi nhà rung chuyển, không còn âm thầm, u ám nữa.
Hôm sau, anh mới có dịp quan sát cảnh vật chung quanh, ngôi nhà nhỏ tựa mình
vào vách núi, trong vườn có mấy chục cây bơ đang ra trái, đằng sau nữa là khoảng
rẫy trồng bắp và khoai lang, khung cảnh yên bình, không khí thoáng mát, khiến
anh nghĩ đến một xưởng điêu khắc, sự hứng khởi, làm anh nói ngay ý định của
mình, không ngờ cô đồng ý, mà còn nói sẽ giúp anh tìm gỗ tốt. Cô sốt sắng rủ
anh đi Dalat, để mua một số vật dụng cần thiết cho công việc tương lai, khách đặt
hàng phải là người biết yêu nghệ thuật ! Cách nói của cô trang nghiêm, đầy tin
cậy, cái đam mê khắc tượng như đốm lửa tàn được thổi bùng lên, nhận thức của cô
hợp với anh quá ! Vô thức anh ôm chặt lấy cô, nhưng nụ của lòng biết ơn lan
sang những cuồng si khác .
Rồi anh cùng cô đi Dalat. Dễ chừng đã gần nửa thế kỷ, anh mới
trở về đây, nhiều con đường , nhiều khu phố, làm anh ngơ ngác, xa lạ đến đau
lòng ! Xe ngừng ở hồ Than thở, cái hồ được bưng ra ngoài đường, nhỏ như cái ao
làng, ảm đạm như cô gái đã qua thời xuân sắc ! Anh tìm được một vị thế khá tốt,
có thể nhìn thấy : Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, nơi anh bắt đầu cuộc đời binh
nghiệp, ẩn hiện thầm lặng dưới bóng thông xanh, (mà hình như cũng không còn
xanh nữa), con đường Lâm Viên tình tứ, nơi in dấu biết bao kỷ niệm của
"Trai anh hùng, gái thuyền quyên" giờ cũng cúi đầu, tiếc nuối như tâm
trạng anh bây giờ ! Đỉnh Lâm Viên, đồi bắc, những bãi tập. Đỉnh núi cao vời vợi,
hoang vu, mà bất cứ SVSQ nào cũng phải khắc phục trước khi được gắn alpha trên
vai áo. Ngày mãn khóa : những ánh đuốc lung linh, những cơn gió lạnh mùa đông
thổi âm vang bài "hồn tử sĩ " lan khắp núi rừng, trên vũ đình trường
Lê Lợi, những tân sĩ quan tuyên thệ vì "Tổ quốc , danh dự, trách nhiệm"
rồi họ lên đường ra chiến trận, hy sinh bảo vệ cái "thành trì chống cộng
" bảo vệ miền nam, không rơi vào tay cộng sản để người dân sống tự do, no ấm.
Anh là người yêu tự do, nên anh phải giữ nó cho mọi người và
cho chính anh . Thật là nghịch lý, cái chính nghĩa đầy tính nhân bản ấy, bỗng hụt
hẫng, rơi tõm xuống cái hố đen của loài quỉ đỏ ! Để chúng huênh hoang, tự mãn,
mình là kẻ thắng cuộc. Nhưng lịch sử vẫn chưa rõ ràng, vì lý lẽ gì ? nguyên
nhân nào ? Phải chăng do "vận nước" ?
Chưa hết một tuần, anh đã muốn về, căn nhà nhỏ của cô, vẫn
là nơi ấm áp, bình yên nhất !
Xưởng thiết kế, điêu khắc tạm xong, cũng là ngày anh phải trở
về Mỹ, lúc chia tay, cũng vẫn chỉ một câu vỗ về, ngắn ngủi:
-- Đừng khóc, mình sẽ gặp lại nhau !
Gần 20 tiếng đồng hồ, trên máy bay, anh phân vân trằn trọc.
Cả hai người đàn bà đều có ân tình với anh, anh không nỡ làm ai đau lòng ! Có thể
thiên hạ sẽ phê phán anh, lên án anh, nói anh đèo bồng, nhưng họ đâu phải là
anh, để hiểu, để thông cảm ? Đúng, sai thì cũng một lần đối diện ! Anh sẽ kiên
nhẫn, thuyết phục, để vợ anh thấu hiểu, chia sẻ và tha thứ ! Dù mình có như :
"đứa trẻ , buồn vui theo chiếc kẹo ở tay người".
Cuộc đời nhiều khi không thể hiểu ! Suốt một buổi, anh như
tín đồ xưng tội, liệu nàng có như chúa, mà tha thứ cho anh không ? Cuối cùng
"chúa" cũng phán một câu kỳ lạ nhất trên cõi đời này :
-- Anh còn đủ hơi sức, để cho cô ấy không ? Nếu mệt, cứ quay
về, đừng quên đây cũng là nhà của anh.
Anh cứ ngẩn ra, chả hiểu mình đang nghe cái gì ? đã được tha
tội chưa ? Nhưng dù sao "chúa" không phẫn nộ, không gay gắt, không
khóc lóc (vì anh rất sợ nước mắt đàn bà), như vậy là "chúa" đã đồng ý
và ngầm nhắn nhủ: đừng quên sự nhân từ của "chúa".
Ngày khởi đầu, phiến gỗ được mở ra, bằng đôi mắt cô, đó là một
ngày bình yên nhất, tất cả những ưu phiền thế gian đều nằm ngoài khung cửa. Thời
gian, không gian với anh hòa làm một, anh không thấy nắng qua thềm, không nghe
tiếng gió quất trên những ngọn thông, chỉ có đôi mắt cô vời vợi, hàng giờ như
thế, anh miệt mài trên phiến gỗ, khi đôi mắt thật đã đi vào bức tượng, thì anh
say, như vừa uống xong ly rượu mạnh. Cơn say nào rồi cũng tỉnh, nhưng cơn say
tình ái, tỉnh rồi lại muốn say !
Đôi khi tình yêu không cần ngôn ngữ, chỉ biểu đạt bằng hành
động thôi! Cũng đủ !
Vì : " Em như giọt rượu nồng , dìu ta vào trời mộng ,
Em như vạt lụa đào , quyện ta lời thì thào ...
Rừng nào có sa mưa, tình nào có như mơ !"
Tường Việt
