Vào khoảng
tháng Tư, dọc theo xa lộ của tiểu bang Texas, hoa Bluebonnet nở rộ, màu xanh thẫm,
pha một tý tim tím. Nhìn từ xa lộ, sẽ không thể thấy những viền trắng ly ty
trên đài hoa mà chỉ thấy toàn màu xanh tím, trông đẹp và buồn. Màu Bluebonnet
buồn hiu hắt này gợi trong tôi hình ảnh những rừng sim tím xa tít tắp nơi giãi
đất hình chữ “S” thân thương mà lúc nào hồn tôi cũng quyến luyến!
Giải đất hình chữ “S” rất nghèo nàn và khốn khổ; vì ông Hồ Chí Minh đã du nhập chủ nghĩa cộng sản và khơi động hai cuộc chiến tranh tàn khốc/dai dẳng để người Việt giết người Việt!
Trên giải đất
nhuộm đầy máu và nước mắt đó tôi đã được sinh ra, lớn lên, được yêu thương/được
nuông chiều và cũng được Cha Mẹ dạy bảo để hiểu thế nào là hạnh phúc/thế nào là
khổ nạn và đọa đày; vì vậy tôi rất trân quý và biết ơn sự hy sinh của Người
Lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã bảo vệ miền Nam Việt Nan “của tôi”.
Từ khi chạy
theo Người Lính VNCH để thoát khỏi hỏa tiễn 120 do cộng sản Việt Nam (csVN) “nả”
dồn dập vào Saigon, chưa một lần tôi nghĩ rằng tôi sẽ mất Quê Hương. Nhưng thực
tế và lý trí cho tôi biết rằng tôi đã mất Bà vào ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Ngày gần cuối
tháng Tư, 1975, khi ba tiếng nổ rền vang một góc trời, tôi vội vàng mở radio
theo dõi tin tức. Dinh Độc Lập bị Trung Úy phản tặc Phạm Thành Trung hướng dẫn
phi công csVN lấy phi cơ của VNCH từ Phan-Rang bay vào dội bom! Lệnh thiết quân
luật được ban hành.
Tôi vội chụp
điện thoại gọi Minh – Bố của các con tôi. Minh không có mặt tại văn phòng.
Tôi chạy
lên sân thượng nhìn ra đường. Từng đoàn xích lô máy/xe lam đầy người, lũ lượt
chạy về Sở Hàng Hà, Thị Nghè. Tôi lấy ống dòm để nhìn xa hơn. Từng đoàn Quân Cảnh,
Cảnh Sát đang giăng kẽm gai khắp mọi nẽo đường.
Tôi chạy xuống
bếp rồi chạy ra/chạy vào phòng khách mà không biết phải làm thế nào để đón bốn
đứa con của tôi đang ở nội trú! Quanh tôi chỉ có bà giúp việc, cũng đang hoang
mang/sợ hãi, nhìn tôi. Tôi quyết định đi bộ.
Vào đến sân
trường Régina Pacis, tôi mệt lã, mồ hôi nhễ nhại. Quanh tôi nhiều người cũng thất
thần/hoang mang/sợ hãi như tôi. Vừa thấy tôi, Sơ Claudine cho người dẫn hai đứa
con gái của tôi đến và bảo tôi ký vào sổ.
Rời trường
Régina Pacis, nắm tay hai đứa bé, tôi cố sải những bước dài, lòng tràn ngập lo
âu. Đến ngã tư Tú Xương và Hồng Thập Tự, ba Mẹ con tôi bị chận lại bằng tiếng
quát tháo:
- Đi đâu?
Đi về đi. Thiết quân luật, không biết sao?
Tôi phải
trình đủ giấy tờ và van lơn họ mới nhích hàng kẽm gai cho ba Mẹ con tôi đi qua.
Chúng tôi
ghé trường Notre Dame des Missions đón hai đứa con trai. Quang cảnh ở đây cũng
chẳng khác gì ở trường Régina Pacis. Năm Mẹ con tôi nắm tay nhau, vừa đi vừa chạy.
Vế đến nhà,
tôi lại điện thoại cho Minh, nhưng vẫn không gặp. Tôi bồn chồn, đứng ngồi không
yên. Cha Mẹ và cả đại gia đình của tôi còn kẹt ngoài Trung. Nay thân đàn bà với
bốn con thơ, một đứa lại hen suyển rũ người, trong túi chỉ còn khoảng hơn hai
ngàn đồng, ngân hàng lại đóng cửa, tôi không biết phải toan tính gì! Tôi gọi
các con tôi lại, chỉ cho con tôi nơi trốn pháo kích, rồi dặn:
-Từ bây giờ,
nếu ai hỏi các con Ba làm nghề gì, các con phải nói Ba là thợ may, nghe chưa?
Con gái lớn
của tôi vùng vằn:
-Sao kỳ vậy?
Ba đâu phải thợ may. Con biết chớ bộ. Ba là…
Đưa tay bịt
miệng cháu lại, tôi năn nỉ:
-Con thương
Măng, nghe lời Măng. Các con phải nói Ba là thợ may thì các con và Măng mới
không bị họ giết!
-Họ là ai
mà ác quá vậy, Măng?
-Việt cộng,
tên khác là cộng sản Việt Nam!
-Măng dạy tụi
con không được nói láo; bây giờ Măng biểu tụi con nói Ba là thợ may. Ba biết
may hồi nào?
-Bây giờ
Măng muốn các con nói Ba là thợ may; các con có chịu nói hay không?
Các cháu
tiu nghĩu, im lặng.
Chiều 29
tháng 4, tôi hỏi Minh:
-Có nên vào
cư xá Hải Quân tạm trú hay không, anh?
-Vô cư xá,
gần Bộ Tư Lệnh, càng dễ “lãnh” pháo kích nữa! Đừng lo. Nếu có di tản chiến thuật,
mấy “thằng” bạn của anh sẽ điện thoại cho anh. “Tụi nó” hứa rồi.
Hoàng hôn
kéo về vừa đủ bóng tối cho đoàn quân khát máu tiến nhanh về Thủ Đô miền Nam.
Chính lúc đó, nhiều gia đình quanh xóm kéo đến trước cổng nhà tôi.
Vì Minh vẫn
còn mặc quân phục, tôi không cho Minh ra cổng. Tôi ra cổng xem họ cần gì. Nhìn
những đôi mắt thất thần của họ, tôi hơi yên lòng, hỏi:
-Các ông bà
cần gì ạ?
-Cô Hai ơi!
Nhà của cô ba tầng, kiên cố quá, xin cho chúng tôi vào trốn pháo kích.
Là một phụ
nữ dễ tin người và rất nhẹ dạ, nghe hai tiếng “cô Hai” – mà anh tài xế của Minh
và bà giúp việc thường gọi tôi – tôi nghĩ có lẽ những người này cũng không xa lạ
gì. Tôi mở cổng. Nhóm người tràn vào nhà, ngồi trên nền gạch hoa tại phòng
khách, phòng ăn và nhà bếp.
Tôi lên lầu
hai, bắt gặp ánh mắt giận dữ của Minh:
-Em khùng hả?
Em cho họ vào như vậy nhỡ có gì làm sao mình đi? Nhỡ có nội tuyến thì sao?
-Tội nghiệp
họ mà! Mình ở hiền, gặp lành anh à! Họ xin vào trốn pháo kích mà mình không
cho, nhỡ Việt cộng pháo kích, họ chết thì mình nghĩ sao?
Minh im lặng.
Tôi tiếp:
-Ô, anh gọi
anh Thanh chưa?
-Rồi! Nó và
vợ con đang trên đường tới.
Sau khi gia
đình anh Thanh đến, tôi đưa gia đình anh lên tầng hai, ngồi chung với gia đình
tôi. Minh và anh Thanh bàn định kế hoạch, thủ sẵn đạn và một M16. Tôi ngồi
riêng một góc, đầu óc quay cuồng. Bần giùn. Đi hay ở lại? Ở lại có gặp được Cha
Mẹ và các em của tôi không? Ở lại Minh có bị gì không? Đi thì đi đâu?
Khoảng 9 giờ
tối, ngoài đường vắng tênh. Tiếng súng lớn nghe xa xa. Tiếng súng nhỏ nổ dòn, mỗi
lúc một gần. Minh chạy lên sân thượng để nhìn sang Hải Quân Công Xưởng, vùng
Tân Cảng và xa lộ để phỏng đoán tình hình. Thấy hướng cầu xa lộ và Tân Cảng có
nhiều đóm sáng xẹt qua/xẹt lại, Minh chạy xuống, chụp ống điện thoại rồi chán nản
vất xuống; vì điện thoại bị cắt. Minh trở lên sân thượng, mở máy truyền tin.
Không ai đáp lời Minh cả. Minh trở xuống, giọng bực tức nói với anh Thanh:
-Chắc “cha
con tụi nó” đi hết rồi! “Moa” nghe chúng nó điều động tàu bè mà không đứa nào
đáp lời “moa” trên máy truyền tin cả.
Im lặng. Một
chốc sau, Minh tiếp:
- Để “moi”
lên sân thượng, dùng ống dòm nhìn qua Hải Quân Công Xưởng xem còn chiếc nào
không.
Tôi chỉ im
lặng, thở dài. Không lâu lắm, Minh trở xuống, giọng bực tức:
-Chắc “cha
con nó” đi hết rồi! “Moi” thấy còn 2 chiếc mà hai chiếc “đại kỳ” (đang sửa chữa)
thì làm “chó” gì được! Thôi, đi ngủ, sáng mai tính.
Tôi hốt hoảng:
-Súng nổ gần
quá mà anh bảo để mai tính? Mai thì chỉ mình anh đi được thôi; còn mẹ con em
không thể nào chạy nổi đâu!
Anh Thanh
cũng thúc Minh nên đi ngay.
Chúng tôi
kéo nhau xuống tầng dưới. Khi đi ngang kệ sách, tôi chần chừ, nhìn cuốn album
gia đình rồi nhìn cây đàn Accordéon. Tôi vừa đưa tay có ý muốn xách cây đàn thì
Minh nạt:
-Không đem
cây đàn! Bốn đứa nhỏ lo còn chưa xong…
Thấy những
người xin trốn pháo kích im lặng nhìn chúng tôi, Minh không nói tiếp. Tôi quẹt
nước mắt, vừa bước đi vừa ngoái nhìn lại cây đàn Accordéon.
Vừa đi về
phía cổng Sở Hàng Hà, tôi vừa khóc. Tôi không hiểu tại sao tôi không tiếc ngôi
nhà lầu ba tầng mà tôi lại chỉ tiếc cây đàn Accordéon! Cây đàn Accordéon này là
do Ba tôi – sau khi tôi lên trung học – đã đưa tôi vào tiệm đàn Mỹ Tín, trên đường
Hai Bà Trưng, Saigon, đặt mua từ Ý Đại Lợi và Cụ cũng đặt mua cuốn sách dạy đàn
Accordéon từ Pháp, bằng tiếng Pháp.
Khi tiệm
đàn Mỹ Tín cho biết cây đàn đã về, Ba tôi lại đưa tôi vào Saigon, đến tiệm đàn
Mỹ Tín, nhận cây đàn và cuốn sách, rồi về lại Nha Trang dạy tôi đàn.
Tình Cha
thương con vô bờ đến như thế mà nay tôi đành đoạn ra đi, bỏ lại Cha Mẹ! Ngay cả
kỷ vật của Cha mà tôi cũng không thể mang theo! Chính điều này ray rức hồn tôi
rất nhiều!
Chúng tôi
đi bộ vào sở Hàng Hà. Minh nhờ một giang đỉnh đưa chúng tôi sang Dương Vận Hạm
Đà Nẵng, HQ501. Có tiếng loa xua đuổi và xác nhận HQ501 không đi.
Minh lại nhờ
chiếc giang đỉnh đưa chúng tôi sang LST cuối cùng còn tại bến – Dương Vận Hạm
Thi Nại, HQ502. Lại tiếng loa không cho giang đỉnh cặp vào. Minh bắt loa gọi
đích danh Hạm Trưởng Tánh và xưng tên thì bên HQ502 im lặng. Minh nhờ thủy thủ
từ HQ 502 quăng giây xuống. Giang đỉnh cặp vào.
Từng tháp
tùng nhiều cuộc hành quân hỗn hợp – có đụng độ lớn – nhưng chưa bao giờ tôi cảm
thấy sợ hãi như hôm đó! Khoảng cách từ giang đỉnh lên đến sàn chiến hạm quá xa.
Nước chảy xiết và xoáy sâu. Từ chiến đỉnh, từng người một, phải đu vào sợi giây
do thủy thủ từ HQ 502 thòng xuống; và cũng chính những thủy thủ hảo tâm này kéo
chúng tôi lên HQ 502.
Chúng tôi
theo Minh tìm chỗ ngồi. Không còn một chỗ trống. Chúng tôi kéo nhau lên gần đài
chỉ huy và ngồi ngay khoảng không gian nho nhỏ nối tiếp giữa đài chỉ huy và sàn
tàu.
12 giờ đêm
29-1975, HQ502 được chặt giây, tách bến.
Khi HQ502
giang hành ngang Câu Lạc Bộ nổi, cầu A, cầu B rồi Bộ Tư Lệnh Hải Quân, tôi cảm
thấy buồn quá đổi! Nỗi buồn rưng rức trong hồn tôi lúc này không khác mấy so với
niềm xót xa ngày nào trên kinh Vĩnh Thế, khi đoàn chiến đỉnh kéo nhau đi, bỏ lại
phía xa chiếc Command 01 bị chìm, vì người nhái Việt cộng gài mìn!
Khi HQ 502
đến gần Nhà Bè, tôi thấy nhiều bồn xăng phát nổ vì trúng đạn pháo kích của
csVN. Quanh tôi, từng khối lửa lóe sáng, từng cột khói đen cuồn cuộn, từng loạt
đạn pháo kích nổ dòn như nỗi vui mừng hớn hở của đoàn csVN khát máu đang kéo về
dày xéo phần còn lại của Mẹ Việt Nam!
Sương xuống
thật nhiều. Gió lộng từng cơn. Tôi không biết tôi đang nghĩ gì? Đang làm gì?
Đang đi đâu? Có thật csVN đang tiến vào Saigon hay không? Tôi tự hỏi, năm Mậu
Thân, 1968, csVN tấn công tòa đại sứ Mỹ – ngay trước dinh Độc Lập – mà mình vẫn
chống trả, chiếm lại được Tòa Đại Sứ Mỹ. Bây giờ csVN chỉ tới ngã tư Bảy Hiền,
tại sao mình lại bỏ đi? Những lần tháp tùng hành quân, chưa bao giờ tôi thấy
đơn vị do Minh chỉ huy phải rời bỏ vùng hành quân khi chưa chiếm được mục tiêu!
Tôi hỏi Minh:
-Tại sao
mình phải di tản, anh?
-Ở lại, đạn
đâu nữa mà đánh! Xăng đâu còn cho phi cơ yểm trợ! Dầu đâu còn cho tàu chạy! “Thằng
Mỹ” khốn nạn, gây ra cảnh này!
Tôi gục mặt
vào lòng bàn tay, khóc! Bất ngờ tôi nghe tiếng Minh:
-Tánh ơi!
Cho mấy chiếc PBR – khinh tốc đỉnh – của Đại Tá Xuân cặp vào. Vớt ông ấy đi!
Hạm trưởng
Tánh hỏi:
-Xuân nào?
Sao anh biết?”
-Đại Tá Trịnh
Quang Xuân, Tư Lệnh Vùng III Sông Ngòi. Nghe giọng ông ấy trong máy truyền tin
“moi” biết mà.
Nhìn hai
bên bờ, trong cảnh tranh tối tranh sáng, tôi thấy nhiều ghe và giang đỉnh trôi
dật dờ.
Không bao
lâu, chúng tôi đến Vũng Tàu khi ánh nắng mai đang reo vui trên triền sóng.
Quanh tôi, mọi người trông rất rũ rượi, mệt mỏi, có lẽ đêm hôm qua không ai có
thể ngủ được; vì tất cả đã trải qua một đêm kinh hoàng!
Bất ngờ một
câu nói chát chúa làm mọi người giật mình:
-Mẹ! Dương
Văn Minh đầu hàng rồi!
Mọi người
chia ra từng nhóm quanh những người có radio. Tiếng tướng Minh lập đi lập lại
lè nhè làm tôi khó chịu. Tôi vẫn không tin những gì tôi đã nghe. Quanh tôi, vài
giọng bực tức vang lên:
-Tắt mẹ nó
mấy cái radio đi!
-Đập bể cái
radio cho “lão” câm “mõm” lại đi!
Thế là hết!
Tôi cảm thấy như hụt hẩng/như chơi vơi/như đang rơi vào khoảng không!
Trong trạng
thái vừa ngầy ngật vì say sóng, vừa bấn loạn về tâm thần vì tin tướng Minh đầu
hàng csVN, tôi chợt thấy một chiếc L19 lượn nhiều vòng quanh HQ502. Mọi người
nhốn nháo/lo âu; vì ngại phi công csVN lấy phi cơ của VNCH bay theo, bắn vào
người di tản.
Bất ngờ một
anh Không Quân nhảy ra. Mọi người reo mừng.
Trong khi
anh Không Quân “ngoi ngóp” trên triền sóng, người nhái Nguyễn Văn Kiệt mang
phao và đôi chân nhái, cầm theo một phao nữa rồi nhảy xuống biển, vớt anh Không
Quân.
Chiếc L19
lượn thêm nhiều vòng nữa, rồi anh phi công nhảy ra. Thân người của anh phi công
vừa chạm mặt nước thì bị “tưng” lên rồi…chìm khuất! Mọi người ngơ ngác trong
vài giây rồi hướng mắt về chiếc phi cơ không người lái. Chiếc phi cơ quay vài
vòng rất hẹp rồi chúi mũi xuống mặt biển, nổ tung!
Phía trước
HQ502 là những chấm nhỏ ly ty của đoàn tàu; phía sau là “rừng” ghe thuyền ồ ạt.
Nhiều giang tốc đỉnh – PBR – kè sát hai bên HQ502; và trên không, vài chiếc trực
thăng xin bãi đáp.
Tôi đã đọc
và xem phim về cuộc di cư của người Bắc vào Nam năm 1954. Tôi cũng đã nghe Ba
tôi kể lại cuộc triệt thoái của quân đội viễn chinh Pháp. Nhưng chưa bao giờ
tôi nghe/thấy/đọc về cuộc rút quân nào mang tính chất bi hùng nhưng thảm khốc
như những cuộc di tản của đồng bào tôi vào mùa xuân đẩm máu/chia lìa, 1975!
Không ai còn khóc được nữa! Trái tim đã tê điếng và khối óc đã dại khờ!
Đêm về thật
nhanh. HQ502 tiến một cách ngập ngừng; cuối cùng phải nhờ một chiến hạm khác
kéo đi.
Sáng hôm
sau, Minh đến dặn tôi:
-Sắp cặp và
tàu Mỹ để nhận nhiên liệu và thực phẩm, em phải giữ bốn đứa nhỏ tại đây, không
cho các con ùa đến xin thức ăn. Đừng để Mỹ nó khinh!
Khi chiến hạm
Mỹ cặp sát vào HQ502, đúng như Minh tiên đoán, nhiều người chen lấn nhau, cố chụp
giật từng trái cam/trái táo do thủy thủ Mỹ thảy sang. Thấy những nụ cười nham
nhở trên những vành môi đang nhai ngồm ngoàm miếng táo/miếng cam, tôi cảm thấy
tức giận, nhưng không biết giận ai!
Những ngày
kế tiếp cũng vẫn nước uống hạn chế, thức ăn dè xẻn. Vấn đề vệ sinh phải sắp
hàng. Đàn ông/đàn bà dùng chung một nhà cầu “dã chiến”, lộ thiên!
Một đêm thật
khuya, tôi nhìn xuống sàn chiến hạm và thấy mọi người nằm ngổn ngang. Tất cả đều
im lặng như không còn sự sống. Tiếng máy tàu vi vu trong gió, âm hưởng thật buồn.
Tự dưng tôi nhớ tiếng máy của đoàn chiến đỉnh, thuộc Giang Đoàn 26 Xung Phong,
trong những đêm khuya giang hành trên những dòng sông đầy mìn bẫy của Việt cộng
để tiếp cứu các đồn Nghĩa Quân, thuộc vùng U-Minh/Chương Thiện. Không biết bao
nhiêu lần tôi thấy giang đỉnh chìm, mang vào lòng sông nhuộm máu nhiều thân
trai không toàn vẹn!
Ngày đó,
chiến đỉnh chìm vì bị Việt cộng đặt thủy lôi. Bây giờ HQ402 chìm do Hải Quân
Hoa Kỳ bắn – vì HQ402 bất khiển dụng! Và tôi thấy trên vài chiến hạm của Hải
Quân Hoa Kỳ, người ta xô trực thăng xuống biển! Tôi hoang mang quá độ! Nếu cố gắng
suy nghĩ, có lẽ tôi sẽ điên!
Bất ngờ,
tôi thấy Minh từ đài chỉ huy chạy xuống, giọng bực tức:
-Mẹ nó! Nó
đưa một thằng thiếu úy bàn giao hạm trưởng. Thằng thiếu úy chả thèm chào hạm
trưởng, chỉ chìa tay bắt thôi. Tức bỏ mẹ!
Sau đó,
không biết lệnh từ đâu, tất cả sĩ quan/hạ sĩ quan/binh sĩ phải gỡ cấp bậc, cắt
cầu vai! Mọi quân nhân đều âm thầm thi hành.
Minh ngồi
trầm ngâm nơi góc cầu thang. Tôi đến gần, thấy Minh đang cầm cái nón lưỡi trai,
bên trong là cặp “ga-lông” có 3 gạch vàng, một vòng tròn cũng màu vàng và hai cầu
vai. Minh ngồi lặng yên, mắt đăm đăm nhìn vào cái nón lưỡi trai. Tôi không thấy
ánh mắt của Minh; nhưng tôi biết Minh đang nghĩ gì! Tự dưng nước mắt của tôi
lăn dài!
Khi đưa tay
quẹt nước mắt, tôi tưởng như tôi đang khóc khi chờ trực thăng tải thương vào những
lúc Minh và thuộc cấp của Minh bị thương trên những dòng sông oan nghiệt; hoặc
khi tôi thấy thân người không toàn vẹn – trong quân phục Bộ Binh – của những
quân nhân đã hy sinh trong rừng tràm hoặc rừng dừa nước mịt mùng, được khiêng
ra chiến đỉnh, đem về hậu cứ để thông báo cho gia đình!
Tôi cứ đứng
lặng cho nước mắt tuôn rơi/cho tâm hồn chùng xuống để cùng gánh chịu nỗi đau của
thế hệ hôm nay!
Bất chợt
Minh ngẫng lên. Thấy tôi, Minh cố nén xúc động, trao tôi cái nón lưỡi trai – có
cặp “ga-lông” bên trong – giọng hơi nghèn nghẹn, bảo:
-Cất đi!
Chưa bớt
xúc động, tôi lại nghe từ đài chỉ huy:
-Tất cả sẵn
sàng làm lễ hạ Quốc Kỳ, treo cờ Mỹ lên!
Không biết
ai bắt đầu bài Quốc Ca nhưng mọi người cùng ca. Ca thật lớn cho vơi nỗi nghẹn
ngào! Nước mắt đầm đìa khóc cho nỗi nhục chung!
Khi lá cờ
được xếp lại, tôi liên tưởng đến những hàng cờ thẳng tắp, phủ ngay ngắn trên những
dãy quan tài ở Nghĩa Trang Quân Đội! Và tôi tưởng như tôi thấy lại hình ảnh của
những thiếu phụ – gồm cả vợ cố Thiếu úy Biệt Động Quân Hồ Trung, em ruột của
Minh – đã vật vã khổ đau, úp mặt vào lá cờ như cố giữ lấy sự thiêng liêng khôn
cùng!
Qua màn lệ
mờ, tôi thấy quân cảng Subic Bay sừng sững với nhiều chiến hạm và hàng không mẫu
hạm. Nhìn ra xa, chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ còn lãng vãng. Không xa lắm
là mấy chiến hạm của một quân chủng vừa mất bến Mẹ!
Hoàng hôn
xuống chầm chậm. Cảnh sắc hùng vĩ/bi thương như trong phim xi-nê chiến tranh.
Có khác chăng, đây là một phim sống thực của một soạn giả vô nhân và một đạo diễn
không tình người!
Bốn mươi
sáu năm đã qua, cảnh sắc hùng vĩ/bi thương năm xưa tưởng đã nhạt nhòa trong hồn
tôi; nhưng, không ngờ, mỗi lần thấy màu xanh tím của rừng hoa Bluebonnets là mỗi
lần hồn tôi nhói đau vì những kỷ niệm xưa lại hiện về!
Bốn mươi
sáu năm tuy dài, nhưng mối tình cảm thiêng liêng trong lòng tôi vẫn ngập tràn để
dâng đầy mi, nghẹn tiếng nấc mỗi khi nghe bài Tiếng Gọi Thanh Niên; nghe tiếng
Accordéon hoặc khi đưa tay tuyên thệ trung thành với giãi đất đã nhận tôi là
người tỵ nạn chính trị.
Vâng, tôi
là công dân Mỹ họ Nguyễn. Tôi xin thề trung thành với vùng đất giàu sang này.
Nhưng, vào
một ngày đầy uất hận – 30 tháng Tư năm 1975 – tôi đã để lại trái tim của tôi
nơi Quê Mẹ đau thương, bên kia trời Châu Á!
Điệp Mỹ
Linh