Vượt qua được ba chặng sông Trường Giang lên mạn ngược quả
thật kinh tâm động phách, nguy hiểm vạn phần. Dẫu sao cuối cùng tôi cũng đến được
phủ đệ của viên tri phủ từ quan về ở ẩn nơi đây. Ông này là người nổi danh
trong giới sưu tầm cổ ngoạn, bút thiếp và tranh vẽ. Có người bảo rằng khi còn tại
quyền, ông ta lắm phen lợi dụng thế lực để cưỡng đoạt nhiều món đồ cổ quí giá.
Mỗi khi ông ta chủ tâm lấy món gì, dù đồng khí hay tự họa, nếu dùng tiền mua
không xong thì phải đủ mọi cách có bằng được mới thôi. Người ta kể rằng nhà kia
không chịu bán một món đồ đồng đời Thương, ông ta đã làm cho họ phải nhà tan,
người chết. Những điều ấy thật khó mà kiểm chứng, hoặc có khi vì ghét bỏ mà người
ta bịa đặt không chừng, nhưng tính thích đồ cổ như chính mạng mình của ông ta
thì ai cũng biết. Vả lại, trong bộ sưu tập của ông ta có những món trên đời hiếm
thấy.
Viên hưu quan tiếp tôi tại căn phòng phía Tây. Đi qua ba dẫy nhà mới đến khách
sảnh. Phòng khách của một người chuyên về cổ ngoạn mà sao chẳng có món gì đặc
biệt ngoài những bàn ghế bằng gỗ gụ, trên mặt lót da báo. Nhưng toàn cục xem ra
đầy vẻ phong nhã, giản phác chứng tỏ chủ nhà là người có khí tượng cao nhân.
Tôi vừa tiếp chuyện, vừa quan sát chiếc bình màu huyết dụ, cắm một cành mai in
lên nền núi cao ngoài song cửa. Sát bên phòng khách là một vườn hoa.
Viên tri phủ nói năng thật từ hòa, dễ mến. Có thể vì tuổi già nên ông không còn
sắc mắc nhưng cứ như con người trước mặt thì thật khó mà có thể bảo ông ta tàn
nhẫn như lời đồn. Ông ta tiếp tôi chẳng khác gì một người bạn cũ đến thăm. Còn
tôi thì hơi nóng ruột vì những gì tôi dặn người giới thiệu tôi chuyển lời sao
mãi không thấy nhắc tới, hay vị hưu quan vì tuổi già nên đã lẫn rồi chăng?
Tôi quả thực kính trọng con người này, dám về đây tự cất một căn nhà để tiêu
dao ngày tháng. Vì thế tôi không thể đường đột mà chỉ lịch sự khen qua về những
đồ cổ quí giá ông đã sưu tầm được mà thôi. Ông lão mỉm cười:
- Hôm nay thì người ta bảo là của tôi, nhưng một trăm năm sau thì lại về tay
người khác rồi. Ông xem, có nhà nào mà giữ được một món đồ đến hơn trăm năm
đâu. Đồ cổ cũng có số mệnh của nó, nếu nó biết, hẳn nó cũng cười chúng ta đấy.
Nói đến đây, dường như thú vị, ông già lấy ra một cái tẩu thuốc ngậm trên môi.
- Thật thế ư?
- Đương nhiên là thế.
Tôi e dè hỏi lại:
- Ngài nói như thế là nghĩa làm sao?
- Bất cứ món nào, hễ là đồ cổ đều có nhân cách riêng, sinh mệnh riêng.
- Tiên sinh nói vậy chẳng lẽ nó cũng có linh hồn ư?
Ông già hỏi ngược lại:
- Thế theo ông thì linh hồn là cái gì? Linh hồn chẳng qua là nói về cái đời sống,
mà hễ có đời sống thì hẳn có linh hồn. Ví thử như một nghệ phẩm, người nghệ sĩ
đem hết sức tưởng tượng và sinh lực của mình dồn vào đó, có khác gì người mẹ
đem khí huyết của mình nuôi cái bào thai. Một khi sinh lực người nghệ sĩ đem
vào tác phẩm, thì tác phẩm đó ắt có sinh mệnh, còn hoài nghi gì nữa? Có khi vì
sinh mệnh của tác phẩm mà người nghệ sĩ phải mất mạng như trường hợp pho triển
ngọc Quan Âm của tôi.
Tôi vốn dĩ chỉ muốn đến xem một bức viết danh quí, trước nay chẳng hề nghe nói
đến triển ngọc Quan Âm, mà nói đúng ra chẳng mấy ai biết. Tôi chỉ vô tình hỏi
không ngờ lại được nghe một câu chuyện lạ lùng. Khi ông ta nói về lịch sử của
pho tượng này, tôi thật cũng chưa biết ông ta nói gì, nhưng cốt ý đến xem chữ
nên tìm cách quay trở lại đề tài. Tôi chỉ tay lên một bức thủ cảo:
- Đương nhiên là trong tác phẩm phải thể hiện được phần nào con người của tác
giả, và đó chính là một phần của con người lưu cho hậu thế rồi còn gì.
- Ông nói không sai, cái gì tốt đẹp cũng còn lại cái sinh mệnh cũng như nghệ
gia có con có cháu vậy.
Viên tri phủ khi nói tới đây xem chừng tin vào quan điểm của mình lắm.
- Nếu như trong khi sáng tạo tác phẩm, nghệ gia phải hi sinh tính mạng của mình
thì đó là trường hợp pho tượng ngọc của tiên sinh chăng?
- Pho tượng Quan Âm thì tình trạng lại đặc biệt, tác giả không chỉ vì tác phẩm
mà chết, nhưng cái chết của ông ta thật cũng xứng đáng – vì hoàn thành được một
tác phẩm như thế rồi nằm xuống thì cũng không uổng một đời.
Ngưng lại một chút, ông ta nói tiếp:
- Nếu
ông xem pho tượng này thì sẽ cảm thấy như vì tác phẩm mà ông ta sinh ra, rồi
cũng vì tác phẩm mà phải hi sinh tính mệnh. Nếu không như thế, thật không thể
nào hoàn thành được tác phẩm này.
- Nếu
thế ắt hẳn phải là một vật quí giá phi thường, chẳng hay chúng tôi có duyên được
xem chăng?
Tôi phải khẩn khoản đến nửa ngày, ông lão mới bằng lòng cho tôi xem. Những đồ
trân quí, ông ta để trên lầu hai, còn riêng pho tượng ngọc thì để tận lầu ba.
- Tác
giả của nó là ai vậy?
- Tên
ông ta là Trương Bạch, trên đời chẳng ai biết đến đâu. Tôi nghe được câu chuyện
về đời ông ta từ nữ trụ trì ở am Kê Minh, và tôi phải hiến cho ni cô ở am này một
tài sản lớn - cho mụ trụ trì già giảo hoạt - bà ta mới chịu giao cho tôi pho
triển ngọc Quan Âm. Khi đó, người chủ của pho tượng này qua đời rồi, nó vào tay
tôi thật đáng hơn ở trong am nhiều.
Pho tượng nhỏ được khắc bằng một khối ngọc cực kỳ trong trắng, đặt trên một cái
bệ bằng ngọc xanh trong một cái hộp pha lê ngay giữa lầu ba, chung quanh có
song sắt đúc hoa nặng nề, không ai lay nổi.
- Ông
thử đi vòng quanh mà xem, mắt pho tượng lúc nào cũng nhìn theo ông đấy.
Nghe ông ta nói, pho tượng này quả thực lạ thường. Tôi đi quanh một vòng, mắt
pho tượng đích thực lúc nào cũng theo dõi tôi không ngoa. Thế nhưng hình dáng
Quan Âm thật buồn, tưởng như diễn tả đúng vào lúc đang toan bay lên, một tay
giơ cao, đầu hơi ngửng về phía sau, một tay phải đưa ra phía trước, linh động
chẳng khác gì một nữ nhân hòa ái trong lúc thương tâm, tựa như Quan Âm bồ tát sắp
bay lên trời còn cố giơ tay ban phúc cho chúng sinh. Thế nhưng nhìn vào khuôn mặt
thì không cảm thấy hình ảnh giáng phúc. Một pho tượng chỉ cao mười tám phân, mà
người điêu khắc nên nó có thể làm cho kẻ xem khó có thể quên vì ngay cả y phục
cũng đặc biệt sáng tạo.
- Tại
sao người ni cô lại có được pho tượng này?
- Ông
nhìn kỹ tư thế của điêu tượng này, trong đôi mắt chứa đầy yêu thương, sợ hãi,
thống khổ.
Nói tới đây ông ta ngưng lại một chút, rồi thốt nhiên tiếp:
- Thôi
mình xuống dưới lầu, tôi sẽ kể cho ông nghe từ đầu đến cuối.
°
° °
Người ni cô ấy tên là Mỹ Lan, khi sắp chết mới kể câu chuyện này. Cũng có thể
bà ni cô trụ trì thuật lại cho tôi không hoàn toàn đúng, có thêm thắt cho câu
chuyện thêm sinh động nhưng viên tri phủ ngoài việc đổi một số tên đất, xác quyết
với tôi chuyện này không sai. Cũng theo như bà trụ trì, người ni cô này trầm mặc,
ít nói, khi còn sống chẳng truyện trò với ai bao giờ.
Vào khoảng hơn một trăm năm trước, Mỹ Lan khi ấy là một thiếu nữ đang tuổi
thanh xuân, sống trong trạch đệ quan trấn thành Khai Phong. Nàng vốn là con gái
duy nhất của Trương thượng thư, xinh đẹp bội phần. Cha cô là người cực kỳ
nghiêm chính, nhưng với con lại cưng chiều vô cùng. Cũng như bao nhiêu quan to
thời đó, trong gia phủ có rất nhiều họ hàng thân thích ở, người nào biết chữ
thì làm việc quan, người nào dốt nát thì làm việc nhà.
Một hôm, có một đứa cháu họ xa đến Trương phủ. Tên anh ta là Trương Bạch, rất
thông minh, hoạt bát đầy vẻ tinh anh. Tuy mới mười bảy tuổi nhưng thân hình cao
lớn, ngón tay búp măng dài, không có vẻ nào một cậu bé nhà quê. Cả phủ ai cũng
mến anh ta nhưng ngặt vì không biết chữ nên phu nhân giao cho Trương Bạch việc
tiếp khách.
Anh ta hơn Mỹ Lan một tuổi, cả hai đều còn trẻ con, thường hay chơi đùa với
nhau. Trương Bạch hay kể chuyện đồng quê cho Mỹ Lan nghe và cô nàng thích lắm.
Qua độ hơn mười ngày, mọi người đã bớt vồn vã, phần vì chàng ta tính tình lạ
lùng thích tìm nơi cô tịch, phần khác lơ đễnh hay quên việc, nên thường bị mắng.
Vì thế phu nhân cho anh ta ra coi vườn và xem chừng Trương Bạch thích việc này
hơn.
Trương Bạch vốn là kẻ trời sinh thích sáng tạo, không thích theo lối người thường
học hành. Được sống chung với chim chóc, cỏ hoa có vẻ thích thú, vừa đi vừa gọi,
tưởng như một vì chúa tể quần sinh. Nếu không ai để ý đến anh chàng thì anh ta
lại làm được nhiều điều lạ. Không ai dạy mà anh ta biết vẽ. Khi rảnh rỗi anh ta
làm được những chiếc đèn lồng tuyệt đẹp, hay lấy đất sét nặn chim nặn thú trông
như sống thực.
Đến năm mười tám tuổi, xem ra anh ta vẫn chẳng có gì gọi là sở trường. Thế
nhưng vì đâu mà lôi cuốn Mỹ Lan, nàng cũng không biết nữa. Trương Bạch thân
hình cao ráo, thanh tú, ngoài cha cô ai ai cũng mến gã. Hai anh em họ ngày càng
thân nhau, nhưng một điều rõ ràng là hai người cùng họ làm sao có thể lấy nhau.
Một hôm, Trương Bạch nói với phu nhân anh ta muốn đi kiếm nghề để học. Anh ta
đã kiếm ra một cửa hiệu bán ngọc khí, và đã nói với người ta để xin học việc.
Phu nhân thấy vậy cũng ưng vì càng ngày anh ta và Mỹ Lan xem càng thân thiết quả
không hay. Tuy nhiên Trương Bạch vẫn sống trong phủ, tối tối lại về và càng có
nhiều chuyện để kể cho Mỹ Lan nghe.
Phu nhân mới nói với con rằng:
- Mỹ
Lan, con và biểu huynh con đều đã lớn khôn, tuy là anh em họ, nhưng hai người
không được gặp nhau nữa.
Nghe mẹ dặn, Mỹ Lan càng nghĩ càng buồn. Trước đây nàng chưa bao giờ nghĩ rằng
mình đã yêu Trương Bạch. Tối hôm đó, nàng vào hoa viên gặp anh ta. Ngồi dưới
ánh trăng, trên một phiến đá, Mỹ Lan nói cho Trương Bạch nghe lời mẹ.
- Này
anh Bạch, mẹ em dặn là em không được gặp anh nữa.
Nói đến đây, hai má nàng ửng hồng.
- Đúng
rồi, chúng ta đều đã lớn.
Cô gái cúi đầu làm như tự hỏi mình:
- Thế
ư, vậy là thế nào?
Trương Bạch choàng một tay qua lưng Mỹ Lan nói:
- Thế
có nghĩa là em càng ngày càng làm cho anh say mê, càng ngày càng làm cho anh muốn
gặp. Nếu em ở bên cạnh anh, anh thấy vui sướng, nếu em không ở bên anh, anh thấy
tịch mịch thê lương.
Mỹ Lan thở dài hỏi lại:
- Thế
bây giờ anh vui lắm ư?
Giọng Trương Bạch trở nên trìu mến:
- Phải
rồi. Có em ở bên cạnh, tâm hồn anh xao xuyến khác thường. Mỹ Lan, em là của anh
mà anh cũng là của em.
- Chắc
anh biết rồi, em không thể nào lấy anh được. Chẳng bao lâu cha mẹ em sẽ gả chồng
cho em.
- Đừng
em, đừng nói chuyện ấy.
- Thế
nhưng anh cũng nên biết như thế chứ.
- Anh
chỉ biết cái này thôi.
Nói đến đây Trương Bạch kéo Mỹ Lan vào lòng:
- Từ
thuở khai thiên lập địa, em vì anh mà sinh ra, anh cũng vì em mà có mặt trên đời,
anh không bao giờ để em đi. Anh yêu em không biết bao nhiêu mà kể.
Mỹ Lan vùng ra khỏi tay Trương Bạch, đi một mạch về phòng.
Tình yêu chớm nở trong tuổi thanh xuân thật bồi hồi, mà khi cả hai bên đều hiểu
rằng họ ở trong một hoàn cảnh ngang trái thì lại càng thấy thấm thía mùi vị vừa
ngọt ngào, vừa đắng cay. Đêm hôm ấy, Mỹ Lan trằn trọc, khi thì nghĩ đến lời mẹ
dặn, khi thì nhớ lại những gì Trương Bạch nói với mình lúc ban chiều, như chỉ một
đêm mà nàng trở nên khác hẳn. Hai người càng muốn thoát ra khỏi sợi dây ái
tình, càng thấy mình bị trói chặt. Cả hai cùng cố tránh mặt nhau. Ba ngày sau,
Mỹ Lan e e ấp ấp đến kiếm Trương Bạch. Vì hai người chỉ lén gặp nhau, lửa tình
càng thêm mãnh liệt. Hôm ấy, ái tình của tuổi xuân, êm đềm của nuối tiếc, sâu
xa của thề nguyền, ngọt ngào hơn, mà cũng đắng cay hơn. Hai người cùng biết rằng
họ không thể nào cưỡng lại được quyền của đấng sinh thành. Nhưng họ không biết
phải làm gì, chỉ biết yêu.
Cứ như phong tục thời ấy, cha mẹ Mỹ Lan ngấm nghé một thư sinh cho con nhưng
nàng cực lực từ chối. Có lần nàng còn nói nàng không muốn lấy chồng khiến cho mẹ
nàng giật mình. Nhưng Mỹ Lan tuổi cũng còn nhỏ, nên hai ông bà cũng có ý muốn để
nàng ở nhà thêm vài năm.
Trong thời gian ấy, Trương Bạch vẫn tiếp tục đi học nghề. Trong nghề khắc tượng,
anh ta cảm thấy mình có thiên tư, chẳng khác gì một người được sinh ra để làm
việc này, nên chẳng bao lâu đã trở thành một người thợ xuất sắc. Anh ta mê điêu
khắc lạ lùng, mỗi khi làm việc quên ăn quên ngủ, ngay cả những chỗ tỉ mỉ nhất
cũng thập toàn thập mỹ, khiến cho ông thầy dạy cũng phải kinh ngạc. Những nhà
phú quí càng ngày càng đến đặt mua nhiều hơn.
Một hôm, nhân lễ thọ của hoàng hậu, cha Mỹ Lan quyết định dâng một lễ vật tuyệt
hảo, nên tìm được một khối ngọc lớn, loại thượng đẳng. Theo ý của phu nhân, ông
tự mình đem đến nơi Trương Bạch làm việc nói rõ nguyên nhân. Khi xem những tác
phẩm của anh ta, ông càng thán phục.
- Này
cháu, đây là một lễ vật dâng lên hoàng hậu, nếu cháu làm khéo, ta sẽ thưởng một
món tiền lớn.
Trương Bạch xem kỹ khối ngọc, lấy tay vuốt ve tảng đá chưa từng đẽo gọt, trong
lòng vui sướng vô cùng. Chàng nói rằng đã lâu vẫn mong có cơ hội tạc một pho tượng
Quan Âm, và tin rằng sẽ hoàn thành một nghệ phẩm cổ kim chưa từng có.
Trong khi điêu khắc, Trương Bạch không cho ai xem và khi xong, quả nhiên pho tượng
Quan Âm là một tác phẩm tuyệt hảo, đúng qui củ từ xưa truyền lại. Từ nghi thái,
phong tư, chỗ nào cũng hoàn toàn. Hơn nữa chàng còn làm được một điều chưa ai
có là ở hai tai pho tượng khắc hai vòng đeo chuyển động được. Trái tai cũng thật
tinh xảo, chỗ dày mỏng, chỗ lên xuống chẳng khác gì người thật. Thêm một nét,
khuôn mặt pho tượng y hệt Mỹ Lan.
Viên thượng thư vui mừng không sao kể xiết. Trong bao nhiêu bảo vật của hoàng
cung, không gì có thể sánh với pho tượng này. Ông bảo:
-
Khuôn mặt cháu khắc sao giống hệt Mỹ Lan.
Trương Bạch đắc ý đáp:
- Dạ
đúng vậy. Chính nàng là cảm hứng cho cháu.
Ông quan thưởng cho Trương Bạch một món tiền lớn, rồi tiếp:
-
Thôi, từ nay sự thành danh của cháu không còn là vấn đề nữa. Ta đã cho cháu cơ
hội này, vậy phải biết ơn ta nhé.
Trương Bạch thế là đã nổi tiếng, nhưng điều tâm nguyện của chàng lại chưa
thành. Thành danh mà làm gì nếu không có được Mỹ Lan. Chàng biết rằng nguyện vọng
ấy không sao thành được, nên làm việc không còn hứng thú, nhiều mối hàng lớn
cũng chẳng buồn nhận. Chẳng biết sao hơn, ông chủ phường khắc chỉ còn có nước
thở dài.
Đến nay, Mỹ Lan đã hai mươi mốt tuổi, đáng lẽ phải là tuổi vui tươi của một thiếu
nữ chưa chồng. Đúng lúc ấy, có người đã mai mối nàng cho một gia đình rất thế lực,
và nàng không còn cách gì lần khân được nữa. Chẳng bao lâu hai bên đã cử hành lễ
đính hôn, troa đổi lễ vật cực kỳ long trọng.
Mỹ Lan và Trương Bạch thất vọng vô cùng, tưởng muốn phát điên nên bàn nhau trốn
đi. Mỹ Lan tin rằng tài nghệ của Trương Bạch chắc đủ nuôi thân nên chỉ đem theo
một ít tư trang, tính sẽ đi đến một nơi thật xa sinh sống. Hai người định một
đêm kia sẽ theo vườn hoa phía sau mà đi. Nào ngờ đêm ấy, một lão bộc nhìn thấy
hai người ở trong hoa viên nên đâm nghi, vì chuyện hai người thì cả nhà ai ai
cũng rõ. Ông lão không muốn để cho phủ quan thượng thư mang tiếng xấu nên ra giữ
chặt Mỹ Lan lại. Không cách gì hơn, Trương Bạch xô lão ra. Tuy lảo đão, lão nhất
định không buông, chàng bèn đấm cho một quả. Ông ta ngã văng vào tòa giả sơn, đầu
đập vào một cạnh đá, gục xuống tắt thở. Hai người thấy ông ta chết, hoảng sợ vội
chạy ngay.
Sáng hôm sau, trong nhà phát hiện hai người tư bôn, ông lão bộc táng mệnh. Quan
thượng thư giận đến cực điểm:
- Ta
nhất định sẽ cho tìm khắp thiên hạ đem chúng nó về giải quan trị tội.
Khi ra khỏi kinh đô, đôi nhân tình không dám ngừng bước, cứ đi thẳng nhưng
tránh những thành thị lớn. Vượt sông Trường giang, vào đến Giang Nam. Trương Bạch
nói với Mỹ Lan:
- Anh
nghe nói Giang Tây có nhiều ngọc đẹp.
Mỹ Lan ngần ngừ hỏi lại:
- Anh
vẫn còn định khắc ngọc sao? Nét khắc của anh ai cũng nhận được, chỉ nhìn qua là
biết thôi.
Trương Bạch nói:
- Thế
mình chẳng định khắc ngọc kiếm sống là gì?
- Đó
là chuyện tính khi lão Đái không chết. Bây giờ ai cũng cho là mình mưu sát lão.
Anh làm việc khác không được sao? Như làm đèn lồng hay nặn đất sét anh vẫn làm
thuở nào?
- Chẳng
lẽ anh lại làm những việc ấy. Anh đã nổi danh khắc ngọc rồi mà!
- Thì
chính là phiền ở chỗ đó.
- Anh
nghĩ rằng mình không nên lo quá. Giang Tây cách kinh đô cả hơn nghìn dặm, chắc
chẳng ai biết đến mình đâu.
- Hay
anh đổi cách đi, đừng khắc cái gì thật đẹp, chỉ cốt sao bán được là đủ rồi.
Trương Bạch cắn môi, không nói một lời. Chẳng lẽ chàng cũng như bao nhiêu người
thợ ngọc tầm thường khác, ẩn tính mai danh, sống thừa sống nhục? Chính mình hủy
diệt nghệ thuật của mình chăng? Hay để cho nghệ thuật hủy diệt mình? Quả thực
chàng chưa hề nghĩ đến tình cảnh này.
Thế nhưng trực giác của đàn bà không sai. Mỹ Lan e rằng điêu khắc những vật tầm
thường không hợp ý chồng. Sau khi qua khỏi Trường Giang, một sức mạnh vô bờ lôi
cuốn Trương Bạch khiến hai vợ chồng theo đường cái quan đi Giang Tây. Từ Giang
Tây họ đi qua những ngọn núi hùng vĩ tỉnh Quảng Đông, qua các đồng bằng. Hai
người không ngừng ở Nam Xương mà đi thẳng tới Cát An. Khi tới Cát An, người vợ
lại năn nỉ xin chồng cải trang. Xứ Giang Tây nổi tiếng về đất sét, có những đồ
sứ tuyệt đẹp. Nhưng làm đồ sứ Trương Bạch cũng không hài lòng, chàng nói:
- Nếu
có làm đồ sứ, người ta cũng nhận ra tài của anh. Ở đây có làm đồ ngọc chắc cũng
không sao đâu.
Lời đề nghị đó ngược với linh tính của đàn bà. Mỹ Lan chẳng biết sao hơn, đành
chiều ý chồng. Nàng nói:
- Anh
ơi, vì em trăm lần ngàn lần anh đừng nổi danh nữa nhé. Hai đứa mình hiện đã khổ
sở đến mức này, nếu như anh lại nổi danh thì mình chỉ còn có chết mà thôi.
Mỹ Lan sợ mà nói như thế, nhưng nàng cũng hiểu rằng, chồng nàng nếu không hoàn
thành những vật thập toàn thập mỹ, thì đâu chịu cam lòng. Chàng là người yêu
thích vẻ đẹp, có trình độ nghệ thuật cao siêu, lại tự hào về tác phẩm của mình,
thêm lòng đam mê ngọc khí. Tránh sai dịch bắt bớ hay không là ở chàng. Thật là
đầy đắng cay trong cái bi kịch này.
Trương Bạch lấy châu báu của vợ bán đi, mua về đủ các loại ngọc khác nhau mở một
tiệm nhỏ. Mỹ Lan xem chồng làm, thường phải nói:
- Thôi
đẹp rồi, người khác không ai làm đẹp đến thế đâu. Vì em đi, anh đừng phí công
thêm làm gì, để vậy thôi.
Trương Bạch chỉ còn có nước nhìn nàng mà chua chát mỉm cười. Lúc đầu, chàng chỉ
tạc các vòng đeo tai thường thôi. Thế nhưng mỗi loại ngọc có cái hồn riêng của
nó, mỗi loại phải dùng một cách khác nhau. Dùng ngọc khắc vòng đeo tai, dẫu đẹp
mấy cũng chẳng khác gì đào tiên cho khỉ hái, không đáng gì. Thành thử chàng vẫn
lén – lúc đầu trong lòng bất an nên chàng phải dấu vợ – điêu khắc đôi ba vật đẹp
tuyệt trần, để lộ chút thiên tài. Vừa làm xong là có người mua ngay, thật là
mèo mù vớ cá rán. Mỹ Lan lại cầu khẩn chồng:
- Anh
ơi, em lo quá. Tên tuổi anh mỗi lúc lại nổi như cồn. Em lại đang có thai, anh
nên giữ gìn một chút mới phải.
- Có
con ư? Thế thì mình là một tiểu gia đình rồi còn gì?
Chỉ trong khoảnh khắc, chàng thấy những gì Mỹ Lan lo lắng chẳng qua chỉ như người
nước Kỷ lo trời sập, lập tức tiêu tan. Mỹ Lan nói một mình:
- Mình
sống như thế này thật hạnh phúc.
Những gì Mỹ Lan nói không sai. Chỉ một năm sau, danh của tiệm Bảo Hòa đã vững.
Bảo Hòa là tên cửa hiệu của Trương Bạch. Những người giàu có trong vùng ai cũng
lại mua ngọc khí của chàng, cả thành Cát An ai cũng biết. Ngay cả những người từ
tỉnh đi ghé ngang qua thấy ngọc đẹp cũng mua.
Một hôm, có một người vào tiệm, nhìn quanh quất một hồi rồi hỏi chàng:
- Có
phải ông là Trương Bạch, bà con của Trương thượng thư ở phủ Khai Phong không?
Trương Bạch nằng nặc chối, nói từ trước tới nay chưa tới phủ Khai Phong bao giờ.
Người đó có vẻ nghi, chăm chú nhìn Trương Bạch một hồi rồi nói:
- Nghe
giọng ông đúng là người phương Bắc, thế ông đã có vợ chưa nhỉ?
- Có vợ
hay chưa có vợ liên quan gì đến ông?
Mỹ Lan ở trong nhà ghé mắt qua khe cửa dò thám. Khi người nọ đi khỏi, nàng cho
chồng hay gã là một viên thư lại trong phủ của thân phụ nàng. Chính đồ ngọc của
Trương Bạch đã làm lộ thân thế chàng.
Hôm sau, người đó lại đến. Trương Bạch nói:
- Tôi
nói cho ông hay, tôi không hiểu ông định làm trò gì?
- Tốt
lắm. Để tôi nói cho ông hay về gã Trương Bạch này. Y phạm tội mưu sát, lại còn
dụ dỗ tiểu thư con quan Thượng Thư, ăn cắp châu báu vàng bạc. Nếu như ông muốn
cho tôi tin ông không phải là Trương Bạch thì mời bà nhà ra cho tôi xin một
chén trà. Nếu như không phải là Trương tiểu thư thì thôi.
- Tôi
mở tiệm ở đây làm ăn đứng đắn, hẳn hòi. Nếu ông muốn làm phiền tôi, tôi sẽ đuổi
ông ra khỏi cửa.
Người nọ cười khẩy một tiếng rồi đi ra. Vợ chồng Trương Bạch vội vàng thu nhặt
những ngọc khí và đồ quí giá, thuê một cái thuyền gỗ, trời chưa sáng đã vội
vàng ngược giòng sông chèo đi. Lúc đó đứa con mới được ba tháng.
Âu cũng là vận mệnh xui xẻo, hay trời làm ra thế nên đến Cống Huyện thì đứa nhỏ
khởi bệnh, không thể không ngừng lại. Một tháng trời đi thuyền tiền bạc tiêu hết
sạch. Trương Bạch đành phải lấy ra một món ngọc khí tuyệt đẹp bán cho một gã
lái buôn họ Vương. Đó là một con chó, mắt nửa thức, nửa ngủ.
Tên lái buôn vừa thấy đã reo lên:
- Ôi
chà, đây là ngọc của tiệm Bảo Hòa đây mà! Không đâu có thể làm được mà cũng
không đâu bắt chước được.
Trương Bạch mừng thầm:
-
Vâng, tôi mua ở Bảo Hòa đấy.
Cống Huyện nằm ở chân một dãy núi cao. Lúc đó trời đang mùa đông. Trương Bạch
càng thích cảnh trí và không khí trong lành. Hai vợ chồng bàn nhau ở lại đây.
Khi đứa nhỏ khỏi bệnh, Trương Bạch lại bắt đầu tính chuyện mở tiệm. Cống Huyện
là một thành phố lớn, nên ho đi cách đó chừng hai mươi dặm cho chắc ăn. Trương
Bạch bàn với vợ bán đi một món ngọc khí làm vốn. Mỹ Lan hồ nghi hỏi:
- Tại
sao anh lại phải bán ngọc?
- Có
thế mới đủ tiền mua hàng.
- Kỳ
này anh nên nghe lời em, mở một tiệm bán đồ sứ.
- Sao
lại …
Chưa dứt câu, Trương Bạch đã hiểu ý vợ.
- Thì
tại anh không nghe lời em, suýt nữa mình bị bắt. Đồ ngọc với anh chẳng khác gì
tính mệnh, bộ anh không nghĩ đến vợ con hay sao? Đợi bao giờ êm êm hãy nghĩ tới
việc khắc ngọc.
Bất đắc dĩ, Trương Bạch phải mở tiệm bán đồ sứ, bán những tượng đất nung. Chàng
nặn vài trăm tượng Phật. Mỗi đầu tháng, khi thấy những lái ngọc đi từ Quảng
Châu qua, lòng chàng lại nao nao nghĩ đến điêu khắc. Khi đi ngang qua các tiệm
bán ngọc, nhìn những món đồ xấu xí bày bán, máu nóng lại nổi lên bừng bừng. Về
nhà nhìn thấy những tượng đất đang phơi, chàng lấy ngón tay di nát cả.
- Hừ,
đất bùn. Ta có thể khắc ngọc mà sao phải đi nặn đất bùn.
Nhìn thấy chồng lên cơn giận dữ, Mỹ Lan sợ lắm vội khuyên:
- Thế
anh không sợ chết sao?
Một hôm, gã lái buôn họ Vương gặp Trương Bạch, mời chàng vào nhà uống nước,
mong mua thêm được vài món ngọc. Trương Bạch hỏi:
- Ông
đi đâu về thế?
- Tôi
đi Cát An về đây.
Gã mở bọc ra, nói:
- Này
ông xem, đồ của tiệm Bảo Hòa bây giờ thế này đây.
Trương Bạch lặng thinh không trả lời. Khi gã Vương lôi ra một con khỉ bằng mã
não, chàng la lên:
- Đồ
giả rồi.
Gã Vương thở dài:
- Ông
nói không sai. Mặt con khỉ chẳng có thần khí. Nghe ông nói, ông có vẻ rành ngọc
lắm nhỉ.
Trương Bạch lạnh nhạt đáp:
- Thì
đương nhiên tôi rành.
- A,
thì ra thế. Hôm trước ông có bán cho tôi một con chó, chẳng dấu gì ông, tôi bán
lời gấp trăm lần. Ông còn món nào khác không?
- Để
tôi cho ông xem con khỉ bằng mã não thứ thiệt của tiệm Bảo Hòa.
Trương Bạch dẫn gã Vương về nhà, cho y xem con khỉ mã não chàng khắc hồi ở Cát
An. Gã lại năn nỉ hết lời để chàng bán lại cho món ngọc đó. Hôm sau, họ Vương đến
Nam Xương khoe ầm lên với các bạn ngọc khác là y mua lại được từ tay một gã bán
đồ sứ, rồi chép miệng:
- Người
như thế mà có những món ngọc đẹp, kể cũng lạ.
Độ sáu tháng sau, ba người nha dịch đến tiệm, đem theo công sự bắt hai vợ chồng
giải về kinh đô. Tên bí thư của Trương thượng thư cũng đi theo. Trương Bạch
nói:
- Để
chúng tôi lấy ít đồ mang theo.
Mỹ Lan cũng tiếp lời chồng:
-
Chúng tôi đem ít đồ cho cháu bé.
Rồi dọa thêm:
- Các
ngươi đừng quên rằng nó là cháu ngoại quan thượng thư, đi đường nếu nó bệnh,
các ngươi phải chịu trách nhiệm.
Những tên nha dịch vốn đã được lệnh quan thượng thư đi đường phải lo cho chu
đáo nên đâu dám từ chối. Trương Bạch và vợ ra đằng sau, bọn công sai chờ đằng
trước. Quả thực là một cuộc biệt ly đau lòng. Trương Bạch hôn vợ, rồi hôn con,
theo cửa sổ thoát ra ngoài. Mỹ Lan nói vói theo:
- Đời
em lúc nào cũng yêu anh, nhưng anh đừng khắc ngọc nữa nhé.
Hai người nhìn nhau một lần cuối. Khi Trương Bạch đã đi khuất, Mỹ Lan mới quay
vào. Nàng cố gắng trấn tĩnh, một mặt dọn đồ, một mặt giả vờ nói chuyện với chồng.
Nàng ra ngoài giao cho một tên nha dịch bế con rồi quay vào trong. Đến khi bọn
công sai khởi nghi, xông vào tìm thì Trương Bạch đâu còn nữa.
Khi Mỹ Lan về đến nhà, mẹ nàng đã mất, cha đã già đi nhiều. Nàng quì xuống xin
lỗi cha, nhưng quan thượng thư mặt lạnh như tiền. Chỉ đến khi trông thấy đứa
cháu ngoại, ông mới dịu đi một chút. Cũng may, Trương Bạch đã trốn được, chứ nếu
như bắt được y, ông cũng không biết xử sao cho phải. Thế nhưng ông vẫn không thể
nào tha thứ cho Trương Bạch được vì y đã làm hỏng đời con ông, làm gia đình ông
tan nát.
Qua mấy năm, không ai nghe tin tức gì của Trương Bạch cả. Một hôm quan tri châu
họ Dương ở Quảng Châu lên kinh đô. Trương thượng thư thiết yến tiếp Dương tri
châu tẩy trần. Trong khi hai người đàm đạo, Dương tri châu cho hay ông có mang
theo một pho tượng ngọc cực quí giá, không kém gì pho tượng Quan Âm mà Trương
thượng thư dâng lên hoàng hậu ngày nào. Dáng cũng tương tự, mà nét khắc cũng
không sai bao nhiêu. Ông định dâng lên hoàng hậu để cùng với pho tượng cũ thành
một đôi.
Bàn tiệc ai cũng hoài nghi vì không ai tin có thể có người khắc được pho tượng
đẹp như thế. Dương tri châu cao hứng:
- Thế
thì để tôi đem ra mời quí vị coi.
Khi bữa ăn xong, bàn đã dọn dẹp, Dương tri châu sai lính hầu mang ra một hộp gỗ
bóng như mun, mở đem pho tượng Quan Âm để trên bàn. Cả phòng bỗng nhiên không một
tiếng động. Chính là pho tượng Quan Thế Âm đại từ, đại bi với nét buồn mênh
mang.
Một tì nữ vội vàng vào báo cho Mỹ Lan hay. Khi Mỹ Lan từ vườn sau lên thoạt
nhìn pho tượng để trên bàn, mặt nàng bỗng xanh như tàu lá. Nàng lẩm bẩm:
-
Chàng lại khắc ngọc nữa rồi. Chính là của chàng.
Cố gắng trấn tĩnh, Mỹ Lan lắng nghe xem Trương Bạch còn sống hay đã chết. Một
người khách hỏi:
- Chẳng
hay người nghệ sĩ ấy còn sống chăng?
Dương tri châu đáp:
- Con
người ấy kể ra thật là lạ lùng. Y không phải là một thợ ngọc thường. Tôi biết
được y là do cô cháu gái kể lại. Khi cháu tôi đi lấy chồng có mượn của nhà tôi
một cái vòng đeo tay cổ. Vòng này nguyên có một đôi, trên có khắc hai con rồng
quấn vào nhau, cực kỳ tinh mỹ. Cô ta sơ ý chẳng may đánh vỡ, sợ lắm vì không thể
nào mua đâu mà đền, mà cũng chẳng có ai khắc đẹp như vậy. Cô ta đi lùng khắp
các tiệm bán ngọc, nhưng đâu đâu cũng nói là bây giờ không ai có thể làm được
như thế. Không biết sao hơn, cô nàng mới dán giấy khắp phố để tìm người.
Không bao lâu, có một người áo quần lam lũ đến nhận làm. Khi đem chiếc vòng ra
cho y xem, y bảo y có thể làm được và quả nhiên y khắc một chiếc vòng y hệt chiếc
kia. Đó là lần đầu tôi nghe nói đến y.
Sau đó, khi tôi nghe nói hoàng hậu đang đi tìm người nào có thể khắc được một
pho tượng giống như pho tượng Quan Âm bà đang có để thành một đôi, tôi nghĩ
ngay đến người này. Tôi mua được ở Quảng Châu một khối ngọc tuyệt đẹp nên mời
gã ta lại. Khi gã đến, có vẻ như sợ hãi lắm chẳng khác gì một tên ăn trộm bị bắt.
Tôi phải mất biết bao công phu mới nói cho y hay là muốn khắc một pho tượng
Quan Âm. Khi tôi nói về đôi vòng tai có thể xoay được dường như gã có điều úy kị.
Gã đi chầm chậm vòng quanh khối ngọc, xem kỹ mọi góc độ một lần. Tôi hỏi:
- Ông
thấy sao? Khối ngọc này có tốt không?
Anh ta ngẩng đầu nhìn tôi, giọng lộ chút tự kiêu:
- Khối
ngọc này dùng được, khắc tốt lắm. Đã bao nhiêu năm nay, tôi đi kiếm một khối ngọc
trắng, nay đã thấy đây. Đại nhân, tôi sẽ khắc một pho tượng, nhưng không muốn
ai làm rộn – tôi muốn làm gì thì làm, đừng ai quấy rầy tôi.
Tôi dọn cho anh ta một phòng, trong phòng chỉ giản dị có một cái giường và một
cái bàn cùng các vật dụng cần thiết. Người này lạ thật, chẳng nói chuyện với
ai, còn có vẻ thô lỗ với những người đem đồ vào cho y.
Khi y bắt đầu vào việc, tưởng chừng như có thần linh nhập vào người. Sau năm
tháng làm việc, y cũng không cho tôi ngó tới một lần. Lại thêm ba tháng nữa, y
mới đem thành phẩm ra ngoài. Tôi vừa nhìn thấy, chân tay bủn rủn đứng không vững,
chẳng khác gì quí vị mới rồi. Y nhìn tác phẩm của mình, mặt lộ một vẻ vô cùng kỳ
bí. Y nói:
- Đại
nhân, tôi muôn vàn cảm tạ ngài. Pho tượng này chính là lịch sử đời tôi.
Tôi chưa kịp đáp lời, gã đã đi mất dạng. Tôi cho người đi tìm nhưng chẳng thấy
anh ta đâu, biến mất vô hình vô ảnh.
Bỗng một tiếng đàn bà rú lên thảm thiết từ trong nhà đưa ra, nghe rợn người. Tiếng
kêu như xé ruột gan, ai nấy đều chết lặng. Lão thượng thư lật đật chạy vào, Mỹ
Lan đã nằm sóng sượt dưới đất. Một người bạn thân cận với gia đình thượng thư,
thấy Dương tri châu nghi hoặc, ghé tai nói nhỏ:
- Tiếng
kêu đó chính là của tiểu thư Mỹ Lan, con gái quan thượng thư. Tôi có linh cảm rằng,
người nghệ sĩ này chẳng ai xa, chính là chồng của tiểu thư tên Trương Bạch.
Khi Mỹ Lan tỉnh lại, nàng chạy ra như mê như tỉnh, vuốt ve pho tượng. Nàng ôm lấy
pho tượng vào lòng, tưởng như ôm Trương Bạch trong tay. Ai ai cũng thấy, khuôn
mặt của pho tượng và Mỹ Lan y hệt nhau, chính là một người.
Khi Dương tri châu nghe xong câu chuyện, ông nói với Mỹ Lan:
- Này
cháu, cháu giữ lấy pho tượng này. Ta kiếm một lễ phẩm khác dâng lên hoàng hậu
cũng được. Pho tượng này sẽ làm cháu nguôi ngoai phần nào. Cháu chưa gặp lại chồng,
có pho tượng này cũng đỡ nhớ.
Từ ngày đó, mỗi ngày Mỹ Lan thêm tiều tụy, như người nhiễm phải một căn bệnh lạ
lùng. Khi ấy, Trương thượng thư chỉ mong tìm ra Trương Bạch, bao nhiêu chuyện
cũ bỏ qua hết. Mùa xuân năm sau, Dương tri châu cho người đến báo, ông đã tìm đủ
mọi cách mà không sao tìm ra được tung tích của chồng Mỹ Lan.
Hai năm qua, một cơn ôn dịch lan đến toàn thành. Đứa con của Trương Bạch cũng
nhiễm bệnh chết. Mỹ Lan cắt tóc, vào một am ni cô xuất gia, chỉ mang theo duy
nhất pho tượng Quan Âm. Cứ như bà ni cô trụ trì, nàng sống một mình một thế giới
riêng, không cho một ai vào phòng, kể cả chính bà.
Bà ni cô cũng kể cho quan thượng thư nghe, đêm đêm nàng hay ngồi viết những lá
thư dài đem đốt trước pho tượng. Nàng không tiếp xúc với ai, nhưng tựa hồ rất
sung sướng mà cũng chẳng làm hại ai.
Mỹ Lan tu ở đó chừng hai mươi năm thì chết. Pho tượng Quan Âm bằng xương bằng
thịt tuy chết đi nhưng pho tượng ngọc vẫn còn lại với nhân gian.
Lâm Ngữ Đường
Nguyễn Duy Chính chuyển ngữ