Bà Thục đậu xe xong thong thả đi lên lầu 2 bằng thang bộ, bà
vẫn thích thế để thêm dịp vận động cơ thể hơn là dùng thang máy cho tiện nghi
và mau chóng. Unit 1 phòng ngủ của bà trong khu apartment này được thiết kế gọn
xinh, địa điểm lại gần khu thương mại Việt Nam cũng như chợ Mỹ nên bà rất vừa
lòng.
Bà Thục thay quần áo và nằm ra chiếc ghế mây nghỉ ngơi, bà vừa
ra chợ Việt Nam vào dịch vụ gởi tiền để chuyển 10,000 đồng về cho người em
trai. Thế là bà đã làm tròn lời hứa hẹn với em và với tình cảm trong con người
bà, lòng bà thảnh thơi, nhẹ nhỏm và vui mừng khi nghĩ đến gia đình em trai, chắc
là vợ chồng con cháu họ đã sung sướng biết bao nhiêu.
Bà Thục thuê căn apartment với giá trợ cấp của chính phủ dành cho người có lợi tức thấp kể từ khi bà đủ tuổi về hưu 2 năm nay, bà sống ở Mỹ đơn độc không chồng, không con, mà ở Việt Nam cũng chẳng còn ai thân thích gần gũi ngoài gia đình ông Thức, đứa em trai duy nhất, cha mẹ bà đã lần lượt qua đời kể từ khi sau 1975.
Ngày xưa gia đình bà nghèo, nhưng cha mẹ bà cũng chắt chiu
nuôi 2 chị em bà ăn học, đứa con gái là bà học hành chăm chỉ giỏi giang bao
nhiêu thì thằng em học hành vừa lười vừa dở bấy nhiêu. Cô Thục đã trở thành 1
dược sĩ. Cô dược sĩ Thục ngày ấy đã đi làm và phụ giúp cha mẹ đắc lực trong cuộc
sống hằng ngày, còn Thức học không xong, thi rớt Tú Tài đi lính, ngành tác chiến
nay đây mai đó. Cô Thục thương em lận đận, mỗi khi em về phép ngoài các món
ngon nấu cho em ăn, cô còn cho em tiền khi trở lại đơn vị.
Cô Thục không mấy xinh đẹp, có bằng cấp, ngành nghề sáng
giá, nên hình như đó là những lý do khiến các chàng trai không thích đến gần,
và vì cô miệt mài hi sinh cho gia đình nên hầu như không có cơ hội đi tìm
hạnh phúc cho riêng mình. Tuổi xuân trôi qua lúc nào không hay.
Sau 1975 cũng như bao nhiêu gia đình khác, cuộc sống nhà cô
Thục trở nên chật vật khó khăn, rồi Thức lấy vợ sinh con, bấy nhiêu người sống
cùng trong một nhà đã trở nên chật chội và tài chính càng lúc càng khó khăn
hơn. Năm 1989 cô Thục đi vượt biên tìm tự do và thêm lý do không kém phần quan
trọng là vì kinh tế để có thể giúp đỡ gia đình hữu hiệu hơn, chuyến đi vượt
biên cuối mùa đã khiến Thục phải chờ đợi ở Thái Lan hơn 4 năm sau khi đậu thanh
lọc mới được phép đến Mỹ định cư.
Sang Mỹ ở lứa tuổi về chiều, 49 tuổi rồi, Thục chợt nhận ra
mình đã lãng quên chính mình hơn nửa đời người, học lại thì không thể mà lấy chồng
cũng không xong. Cô đã đi làm những công việc trong hãng xưởng để có tiền sinh
sống và gởi tối đa những đồng tiền của mình kiếm được về giúp gia đình ở Việt
Nam.
Rồi cô Thục cũng lấy chồng.
Nhưng chỉ là một cuộc hôn nhân gượng gạo, cố gắng kéo dài được
mấy năm cho có đôi có cặp thì người chồng đã chia tay trả Thục trở về vị trí độc
thân như cũ, thế là cô Thục già chấp nhận duyên phận thiệt thòi hẩm hiu, ở vậy
cho đến giờ.
Thỉnh thoảng bạn bè cũng có ý giới thiệu một ông độc thân
góa vợ nào đó, để đỡ đần và bầu bạn cùng nhau cho vui nhà, nhưng bà từ chối
ngay, đời chắc gì vui, duyên chắc gì may? Lỡ gặp ông khó tính khó nết, hay ông
ngã ra ốm đau bệnh hoạn nằm một chỗ thì bà phải hầu hạ, còn nếu ngược lại bà ốm
đau nằm một chỗ chưa chắc ông kia hầu hạ được gì. Cuộc sống độc thân tuổi về
hưu tuy có lúc buồn mà thảnh thơi, hằng ngày bà xem các phim truyện trên ti-vi
vừa để giải trí vừa để duy trì tiếng Anh của mình, rồi nghe nhạc, đọc sách, một
đam mê ngày cô Thục còn trẻ để tìm lại cảm giác thú vị của ngày xưa.
Với đồng lương lao động tằn tiện bao lâu nay bà Thục cũng để
dành được một món tiền, bà cất kỹ trong nhà băng.
Từ ngày về hưu bà sống bằng những đồng tiền hưu trí của mình
cũng gọi là đủ, vì bà không có nhu cầu gì nhiều ngoài hằng năm vẫn gởi chút tiền
về Việt Nam cho gia đình Thức hiện vẫn sống tại căn nhà cũ, nơi xóm nghèo xưa
do cha mẹ để lại. Xưa bà Thục thương thằng em vất vả đời lính, nay lại thương
em vất vả cảnh nghèo, nên bà vẫn không ngừng gởi về đỡ đần cho em.
Bà Thục đã đưa chồng về thăm Việt Nam 1 lần để giới thiệu chồng
với gia đình mình. Sau cuộc hôn nhân gãy đổ bà buồn chán và tủi thân, không có
ý định về Việt Nam nữa. Nhưng những chuyện buồn vui của cuộc sống nơi xứ người
bà vẫn tâm sự với người em ruột thịt của mình cho vơi nhẹ lòng, hai chị em đã
luôn gần gũi từ thuở ấu thơ đến khi khôn lớn và cho đến bây giờ cả hai cùng tuổi
xế chiều. Bà kể từ chuyện bà bị bệnh cao máu, cao mỡ, bệnh cườm mắt, phải uống
thuốc và nhỏ mắt mỗi ngày mấy lần cho đến hết cuộc đời, đến những chuyện vặt
vãnh hằng ngày. Từ chuyện bà về hưu và tiết kiệm xin được ở nhà gía rẻ dành cho
người già, xin được tiền food stamp, đến chuyện bà dành dụm được món tiền phòng
thân sau này.
Tóm lại bà Thục hài lòng với cuộc sống vật chất bảo đảm, dù
cô đơn một mình một nhà.
Mới đây ông Thức đã gọi phone cho bà và tha thiết đưa ra một
đề nghị mong chị giúp đỡ, thay vì chị gởi cho chút tiền mỗi năm và mỗi khi gia
đình em cơ nhỡ thì em xin chị giúp hẳn một món tiền để có vốn làm ăn là 10 ngàn
đô la. Bà Thục đã suy nghĩ rất kỹ, bà đã già rồi và một ngày nào đó sẽ chết đi,
số tiền dành dụm tuy không nhiều, nhưng là tất cả mồ hôi công sức của bà phải
được hữu ích cho người thân của mình. Bây giờ họ đang nghèo khổ, họ đang cần tiền.
Thế là bà Thục đồng ý.
Và hôm nay bà đã làm xong nhiệm vụ thân thương ấy.
Hai hôm sau bà Thục nhận được phone của ông Thức, người em
hoan hỉ báo tin đã nhận 10 ngàn đô của bà và không tiếc lời cám ơn chị. Lòng bà
Thục ấm lên, vui lên, nhiều gấp cả chục lần niềm vui của người em. Từ nay bà Thục
sống thanh thản hơn dù món tiền dành dụm của bà đã vơi đi, bà sẽ viết lại một tờ
di chúc nếu sau này bà chết, sau phần chi phí cho hậu sự, còn bao nhiêu, dù ít ỏi,
nhờ người ta gởi những đồng tiền còn lại về cho Thức.
Vậy mà 3 tháng sau ông Thức gọi phone sang, bà Thục chưa kịp
vui mừng hỏi han em đã làm ăn gì chưa thì ông Thức buồn rầu tuyên bố:
– Chị ơi, nhà em mới vừa bị kẻ gian đột nhập xông thuốc mê
và lấy cắp hết 10 ngàn đô rồi!
Bà Thục bàng hoàng nghe em nói tiếp:
– Chị có thương em, thương các cháu chị, thì xin chị giúp em
lần nữa…
Bà Thục không còn sức cầm lấy chiếc điện thoại nữa, bà buông
phone và buông người ngồi phịch xuống ghế như một kẻ không hồn. Bà đã mất ăn mất
ngủ mấy ngày đêm, 10 ngàn đô là bao công lao và tấm lòng của bà gởi về, thế mà
bị mất đi một cách gọn gàng êm thắm, nhẹ tênh như bông gòn, như mây bay, gió
thoảng, hay như một trò đùa, một màn kịch vụng về không hơn không kém.
Bà không thể nào tin được.
Nhưng em trai bà nỡ lòng nào dựng lên màn kịch này để lừa dối
bà, để xin thêm tiền của bà? Bà dằn vặt tự hỏi và không thể trả lời. Cuối cùng
bà Thục quyết định sẽ về Việt Nam bất ngờ, đối diện với em mình để tìm hiểu sự
thật cho ra lẽ.
*
Từ phi trường Tân Sơn Nhất, bà Thục thuê xe taxi đưa bà đến
một khách sạn tại Gò Vấp, bà biết căn nhà cũ sẽ không có chỗ thoải mái cho bà
vì theo lời ông Thức kể bấy lâu nay là hai đứa con đã lập gia đình và một đứa
còn độc thân đều ở chung với vợ chồng Thức, nhà đất ở Việt Nam rất đắt đỏ, Thức
tiền bạc đâu mà lo cho các con chỗ ở riêng. Cuộc sống là sự tuần hoàn như cây cối,
già cỗi thì chết đi, cây con thì sinh sôi nẩy nở. Xưa căn nhà ấy có cha mẹ và 2
chị em bà, nay căn nhà ấy đã đông hơn, thêm lên mấy đầu người rồi.
Buổi chiều hôm sau bà Thục tìm về xóm cũ tại khu cầu hang quận
Gò Vấp. Khu xóm nay đã đổi khác rất nhiều nhưng bà làm sao quên được lối cũ, cảnh
xưa. Kia vẫn là đường rầy xe lửa dẫn đến ga Xóm Thơm, và bên này là nhà cửa
chen chúc. Bà vừa đi vừa dò tìm theo những dấu vết cũ, cuối cùng bà Thục cũng
tìm ra đúng số nhà, nhưng đứng trước căn nhà bà kinh ngạc, không tin đây là sự
thật vì căn nhà to đồ sộ và cao ngất 4 tầng lầu, chứ không phải là căn nhà trệt
tầm thường ngày xưa cô Thục từng ở từ thuở sinh ra đến khi lớn lên với cha mẹ
mình nữa.
Bà ngại ngần, bà ngẩn ngơ, không dám gõ cửa mà đi ra một
quán nước ở đầu con hẻm, đối diện xéo xéo với nhà ông Thức, bà gọi một ly nước
uống để định thần lại cho tỉnh táo, kẻo bà tưởng mình đang mơ. Hay là bà đã
nhìn lầm số nhà? Không, chắc chắn là không vì bà đã nhìn kỹ mấy lần rồi. Hay là
em trai bà đã bán nhà cho người khác? Cũng không, vì bà mới gởi số tiền 10 ngàn
đô về địa chỉ nhà này.
Khi cô hầu bàn bưng ly nước ra thì bà Thục vờ hỏi bâng quơ:
– Căn lầu 4 tầng kia sao mà đẹp thế.
Cô gái vui vẻ tiếp chuyện:
– Dạ, bởi vì căn lầu đó ông bà Thức mới xây vài năm nay, kiểu
đẹp, nhà mới nên ăn đứt mấy căn lầu khác. Ông bà Thức giàu có sướng thật! – Cô
hầu bàn xuýt xoa – Ông Thức còn xây cho hai đứa con có gia đình ra ở riêng mỗi
đứa một căn lầu tương tự căn này nữa đó. Căn này thì ông bà ở chung với thằng
Út còn độc thân. Ba cha con ông Thức cùng làm chủ một xưởng cưa gỗ xuất khẩu,
giàu có lắm lắm luôn, nhất xóm luôn.
Bà Thục cũng xuýt xoa:
– Số họ thật may mắn, làm ăn thành đạt nhỉ.
– Còn nữa bác ạ, nghe nói mới đây người thân ở nước ngoài gởi
cho họ 10 ngàn đô nữa cơ, đã giàu có mà tiền ở mãi đâu cứ tự nhiên chảy vào
túi.
Thế là bà Thục đã hiểu, gia đình ông Thức đã ăn nên làm ra từ
lúc nào nhưng Thức không hề kể cho bà nghe, mà vẫn chăm chỉ than thở xin xỏ bà
dù mỗi lần chỉ vài trăm đô và cuối cùng là món tiền 10 ngàn đô. Nhưng họ chưa
chịu dừng lại ở đó, lại nói bị mất cắp để xin thêm, có lẽ vì thấy bà đồng ý cho
10 ngàn đô dễ dàng quá chăng? Ông Thức biết bà không có ý định trở về thăm Việt
Nam nữa, bà ngại đi xa vì đi đâu cũng phải mang theo mấy loại thuốc men lỉnh kỉnh
như con mọn, lại sợ ngã bệnh bất ngờ và vì nơi đó những kỷ niệm buồn nhiều hơn
vui, nơi đó cha mẹ bà đã không còn nữa, thằng em trai của bà đã già đi và các cháu
thì dường như xa lạ. Bà chỉ liên hệ với họ qua phone và gởi tiền về giúp em,
giúp cháu khi cần thiết là đủ vui rồi.
Bà Thục thất vọng không ngờ em bà đã đổi thay đến thế, nó đã
lợi dụng lòng tốt và tình thương của bà dành cho nó từ thuở còn thanh xuân cho
đến giờ. Bà Thục giận lắm, định quay trở về khách sạn, không gặp em, không bao
giờ gặp nó nữa, bà sẽ trở về Mỹ và quên đi thằng em đã đối xử với bà không còn
tình nghĩa. Nhưng sau khi uống hết ly nước, lòng tự giằng co, bà vẫn quyết định
đến nhà ông Thức.
Bà bấm chuông cổng, tiếng chó sủa inh ỏi rồi có người ra mở
cổng. Chính là Thức, ông ta ngơ ngác nhìn bà chị rồi thảng thốt kêu lên không
biết vì vui mừng hay vì kinh ngạc như bà đã kinh ngạc khi nhìn thấy ngôi nhà:
– Trời ơi, chị Thục hả?
– Vâng, tôi là Thục đây.
– Trời ơi, sao chị về không báo trước để em và các cháu ra
phi trường đón!
Bà theo chân em vào nhà, căn phòng khách rộng lớn với đồ đạc
bóng bẩy sang trọng làm bà Thục chóa cả mắt vì bà quen với phòng khách nhỏ gọn ở
căn apartment của bà rồi. Từ bộ bàn ghế, vách tường, đến kệ trang trí đều là sản
phẩm của gỗ quý với kiểu dáng đẹp, sành điệu và quý phái, đúng với phong cách
thành đạt của ông chủ kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu.
Vợ ông Thức cũng từ dưới nhà chạy ra hớn hở:
– Chị về chúng em mừng quá, hành lý chị đâu? Nhà em rộng rãi
xin mời chị…
– Cám ơn em, chị không biết nhà đã xây lại rộng đẹp thế này
nên đã ở khách sạn rồi
Sau vài câu thăm hỏi thông thường, bà Thục buồn buồn và
nghiêm trang đi vào vấn đề:
– Các em đã làm ăn khá giả, có cơ ngơi thế mà không cho chị
biết để chị mừng với, mà còn gây cho chị cảm tưởng là các em vẫn nghèo khó như
xưa và xin chị món tiền 10 ngàn đô là thế nào?
Ông Thức vội lên tiếng bào chữa:
– Nhờ trời thương gia đình em mới phất lên những năm sau
này. Em xin lỗi chị, chỉ vì muốn vun đắp tom góp cho con cháu em mới xin tiền
chị…
Bà Thục cay đắng:
– Kể cả việc em bịa đặt ra bị mất 10 ngàn đô để xin thêm lần
nữa? Em tưởng chị giàu có lắm sao? Chị đã chắt chiu bao lâu mới để dành được số
tiền ấy.
Ông Thức cố giãi bày:
– Dù gì cuộc sống bên Mỹ chị cũng được bảo đảm lúc tuổi già,
nhà nước lo hết, có đồng vốn nào chị không cho các cháu thì cho ai bây giờ? Cho
trước thì khỏi cho sau, con cháu em cũng như con cháu chị.
Vợ Thức xen vào cho câu chuyện chuyển sang hướng khác:
– Nếu chị muốn về sống ở Việt Nam thì chúng em mời chị về
đây ở chung căn nhà này như ngày xưa. Bây giờ những 4 tầng lầu, chị cứ ở hẳn 1
tầng tha hồ rộng rãi, lại có chị có em.
Tình chị em gì khi mà họ đang sống trong giàu có, vợ chồng,
con cháu đông đủ quây quần bên cạnh mà vẫn moi móc những đồng tiền dành dụm của
bà, một người già sống đơn độc nơi quê người, chuyện lớn chuyện nhỏ gì cũng
trông chờ vào xã hội, vào người dưng giúp đỡ, hơn nữa bà Thục không bao giờ có
ý định về sống ở Việt Nam nên bà từ chối ngay:
– Chị ở Mỹ quen rồi, ở đấy có mọi tiện nghi và lợi ích, về
đây khỏe mạnh thì không sao, lỡ ốm đau sao bằng bên Mỹ được.
– Chị nghĩ thế cũng phải, nhưng bất cứ lúc nào chị thay đổi
ý định thì cứ trở về, chúng em luôn chờ đón chị.
– Cám ơn hai em.
Khi bà Thục đứng lên từ giã vợ chồng ông Thức, người em ái
ngại cầm bàn tay chị, cố biện minh lần nữa:
– Mong chị hiểu cho chúng em, đằng nào những món tiền dành dụm
chị không cần tới, mà bên này thì con cháu đông, công việc làm ăn lúc này lúc
khác chẳng biết đâu được, chị bên ấy một thân một mình, có đồng nào cho các
cháu là chắc chắn nhất, không đi đâu mà thiệt chị ạ.
Vợ ông Thức vẫn ngọt ngào mời chào:
– Mỗi ngày chị đến ăn cơm với chúng em và các cháu cho vui
nhé? Chị đồng ý đi để ngày mai em làm món ngon đãi chị.
– Ừ, mai chị sẽ đến đây, chị ăn thế nào cũng được mà.
Vợ chồng ông Thức gọi xe taxi đến và vui vẻ tiễn chân bà Thục
ra cổng, đợi người chị vào xe họ mới quay vào nhà. Bà Thục ngồi trên xe, quay
nhìn ngôi nhà lầu 4 tầng lần nữa, từ trong đáy lòng bà Thục vui mừng khi thấy cảnh
nhà em trai giàu có, và cũng từ trong đáy lòng bà cảm thấy một sự đổ vỡ, tan
nát. Đôi mắt bà rưng rưng nhỏ lệ. Bà biết rằng ngày mai, cũng như mỗi ngày sau
đó, trong thời gian còn ở Việt Nam, bà sẽ đến đây ăn cơm với em, với các cháu.
Đấy vẫn là tình cảm, là tình ruột thịt bà dành cho họ, bà không nỡ quay mặt với
họ, dù rằng bà đau đớn vì mất đi hình ảnh người em ruột thân thương gần gũi
ngày xưa, dù rằng bà xấu hổ giùm người em ruột tham lam, tính toán và ích kỷ
bây giờ.
Và nỗi đau đớn ấy, sự xấu hổ ấy sẽ theo bà về Mỹ, và theo bà
cho đến hết cuộc đời.
Nguyễn Thị Thanh Dương