Chiều nào ông Năm cũng chọt gậy ra ngồi nơi quán nước nghèo sát bờ sông. Quán nghèo thiệt: mái lợp lá, giàn rường cột chống đỡ bằng những cây bần, cây so đũa phệu phạo. Trên nền đất gập ghềnh là những chiếc bàn gỗ cũ kỹ, có vẻ như khép nép, ngượng nghịu trước những chiếc đẩu nhựa bao quanh. Trên cao, chỗ đặt những ly tách, chai nước ngọt, trái chanh, hũ đường… được bện bằng những cây sóng lá, gá đỡ lỏng chỏng như chực rụng xuống lúc nào không báo trước.
Có cả chục ngôi quán như thế trên khúc sông
nhỏ gần nhà, nhưng ông thích nó hơn cả. Không có nhạc xập xình, nằm thoi loi ra
khúc ễnh cong nên có thể ngó xuôi ngược dọc hai bờ, phủ kín màu xanh lá dừa nước,
che khuất những căn nhà tầng nghễnh nghệu. Những người khách lui tới quán hầu hết
là dân lao động trong khu phố. Họ từ tốn, không ồn ào, nhớn nhác. Món nước giải
khát được nhiều người ưa thích là trà đá. Ông Năm cũng vậy, ông tới đây lúc nào
cũng kêu ly trà đá và ngồi đó ngó mong ra khúc sông quạnh, xuôi về hướng Bắc
trước khi đổ vào con sông lớn Sài Gòn. Ông thẫn thờ bên ly nước, xa xăm, mắt
dán chặt vào chót ngọn lá dừa nước chúc trong dòng chảy, rung nhè nhẹ đều đặn.
Hình như ông có tâm sự, một nỗi nhớ lung linh, lòe sáng gợn lăn tăn trên lưng
con sóng nhỏ. Là người ta đoán vậy, chứ thật ra chỉ có ông mới hiểu rõ ngọn
ngành tự đáy lòng mình.
Mùa gió chướng nổi lên lâu rồi, nhưng hiu hiu. Bữa nay thì rộ
hung. Cái loại gió giao mùa bắt người ta nao nao hoài nhớ. Nhớ nhà, nhớ quê, nhớ
mối tình đầu chẳng hạn. Ai cũng có mối tình đầu và luôn đẹp. Ông cũng vậy, cũng
có mối tình đầu, nhưng thỉnh thoảng mới bay qua, chỉ đủ gợn rung dây đàn chùng
rồi thôi. Ở cái tuổi tám mươi chuyện tình ái thời trai trẻ như vết sượt trên
da, không còn mặn mòi, chẳng bâng khuâng nhung nhớ chi nữa. Duy nhất ông có một
nỗi nhớ khôn nguôi: nhớ quê, nhất là khi ngọn gió chướng khi hiu hiu, lúc mãnh
liệt như bàn tay vô hình bóp thắt tim ông từng cơn. Mươi ngày trước ông nhận ra
ngay thứ gió dờn dợn nỗi cồn cào này trên bàn ăn, bắt ông phải buông đũa. Đứa
cháu nội hỏi sao vậy ông? Nước mắt ông dân dấn như con nít. Thằng con trai hiểu
cớ sự nói ba già rồi, làm sao ngồi xe đến gần sáu trăm cây số, ba cũng không thể
đi máy bay được. Giọng nói chăm sóc của nó sao giống lưỡi dao bén cắt rột những
bó cải xanh mướt làm vậy? Nước mắt chảy thành giọt, ông vội vã bỏ lên gác, nhìn
tấm ảnh thờ của vợ mỉm cười sau khung kính như thầm nhắc: già thiệt rồi, không
đi nổi đâu!
Thiệt cơ khổ, ông than thầm, đến một chút xíu nhớ cũng không
được nhớ trước mặt con cháu vốn sinh ra ở vùng quê nghèo, mà phải trốn ra đây,
ra ngồi nơi góc quán nghèo để hoài nhớ về quê hương nghèo của mình cho có đôi
có bạn sao? Mà nghèo sao được chớ? Giàu hung. Ông ứa nước mắt. Giàu nắng, giàu
gió, giàu bão, giàu lũ lụt quanh năm. Mùa nào thức ấy. Suốt cả thời trai trẻ
cho tới khi “bị bắt cóc” vào đây, ông đã sống với nó, lặn lội cùng nó, hít thở
với nó, chạy nhảy cùng với những thứ trời ban tặng cho xứ sở ông. Vậy mà giờ
này phải đành đoạn chia tay với ngần ấy thứ chỉ vì con vì cháu…
Giờ thì ông chỉ có mỗi một ước ao duy nhất, được về lại
chốn quê, nhìn ngắm lần cuối cùng cho đã cơn khát nhớ, rồi buông tay, nằm xuống
ở đâu cũng được. Một nắm xương tàn nơi đất khách quê người đâu còn ý nghĩa gì đối
với thân người đã nằm sâu dưới lòng mộ địa? Nằm nơi chôn nhau cắt rốn hay xứ lạ
quê người vẫn là những tầng đất kín bưng? Nhưng tim ông vẫn còn đập, mắt ông vẫn
còn nhìn thấy rõ ràng mọi vật trước mặt, thì ông nhất định phải hít, phải nếm,
rờ đụng những thứ ông đã từng đắm mình gần cả cuộc đời. Đầu tiên là soi cát ở
làng ông. Soi cát vàng óng như màu mật ong. Mùa gió Nam non hất tung những bông
mướp vàng lay bay chấp chới; đến Nam cồ, cát cuộn gió bốc tận trời cao. Cát bay
mịt mờ suốt dãi sông trong vắt. Ngọn gió hung bạo thổi tốc mái tranh, lật chổng
những ổ chim dồng dộc đu đưa trên đọt tre cao, khiến chúng thích thú há miệng
hót dài đưa cơn gió xuống tận cửa biển, mất hút. Những ổ chim bọn trẻ thời ông
khèo xuống làm hia đóng vai Triệu Tử Long, Trương Phi… chơi trò nhà chòi, đẹp tựa
bức tranh mực tàu…
Nhưng mà làm sao với được một gang tay nỗi nhớ, khi đứa con
nói ba không thể ngồi xe, đi máy bay? Cơ khổ. Rõ ràng tuổi già làm ông bị cụt
đường. Mối dây liên lạc duy nhất là những trang báo viết vài dòng ngắn ngủn,
toàn là chuyện sập bờ kè, ông này lập quỹ ma, công ty nọ phá sản… Chẳng lẽ quê
ông chỉ có những chuyện đó đáng lên mặt nhựt trình? Ông hậm hực đau khổ mà
không biết bày tỏ cùng ai. Nỗi khổ tâm đeo bám y hệt con đỉa bám vào chân ông
khi vác cuốc xuống ruộng mùa tháng mười nước nổi trắng đồng.
Trước mặt ông, đọt lá dừa vẫn chúc xuống dòng nước trôi lặng
lờ một cách cần mẫn miệt mài, có lúc ve vẩy như cái ve vẩy tay của người thôn nữ
quảy đôi thúng gạo trên vai. Ngoài quê không có loại dừa nước, nhưng có những
thứ khác ven sông: cây cám, hàng tre hát ru kẽo kẹt với gió nồm nam mát rười rượi,
không cần tốn kém những máy quạt, điều hòa… Trưa, ra bờ sông nằm gối đầu lên đụn
cát nhỏ đánh một giấc dài theo tiếng sõng khua mái chèo lụp bụp, cái tiếng nghe
như tiếng gõ tang trống lúc Điêu Thuyền ngước cao chiếc cổ trắng, ca khúc huê
tình, lúng liếng mắt làm Lữ Bố bủn rủn chân tay đánh rơi đại đao xuống đất!
Chiếc sõng neo róc rách nước bên lườn mất hút dặm đường dài,
để mỗi khi buồn, ông xuống bếp phụ đám cháu lặt những cọng rau xanh dờn như một
cái cớ làm vơi nỗi nhớ. Nhưng chẳng vơi được mà lại vun đầy, cũng chỉ tại mấy cọng
mồng tơi, rau dền nấu nồi canh tập tàng. Thiếu. Đâu chỉ có vậy? Còn bồ ngót,
bình bát, bông mướp lúp búp và những con tép giã lập dập. Lửa đỏ đít nồi, nhồi
những con tép lá rau nhào lộn trong lớp khói nghi ngút cứ y như bầy cò trắng
tít cao trong bầu trời chiều xanh thăm thẳm. Những thứ tầm thường ấy mà sao đến
giờ này ông mới kịp thấy nó cao sang quá đỗi. Mà cũng phải, chính những thứ ấy
đã theo chân cha ông thời mở cõi, đã nuôi dưỡng biết bao thế hệ lớn khôn, đã
hóa con cái ông và bao người khác vịn được tay vào những ước mơ muôn đời của kiếp
người.
Cũng may, mấy tháng trước ông bốn Thơ vào Saint Paul gắp mày
lúa ghim vô võng mạc. Ông mừng như đào khoai nhằm hũ vàng, vội vã kêu xe ôm tới
thăm. Băng kín bên mắt phải, chiếc miệng móm mém, bốn Thơ mở to con mắt trái ra
cười với ông. Cười đến chảy nước mắt. Vì bất ngờ, vì cảm động… Bốn Thơ bật dậy,
hai người ôm nhau khóc. Đôi bạn già gần đất xa trời cứ ôm riết khiến cả phòng
ngơ ngác. Đôi bạn cùng ê a Tam Tự Kinh, cùng chận trâu, cùng lén vào ruộng mía
xiết những lóng dài ngọt lừ… Bữa nay gặp nhau nơi xứ người bảo sao không chảy
nước mắt được?
Ông Năm chạy ra quầy điện thoại công cộng gọi về nhà, nói ở
lại với bốn Thơ. Thằng con trai trả lời rột rẹt trong máy: ô kê, được ba! Chút
xíu con vô. Nó vô thiệt, ôm theo gói to những sữa, những bánh, nước yến… ấn vào
tay bốn Thơ, nói chú cũng như ba con mà. Lần này ông thấy nó ngoái nhìn lại cái
cũ kỹ trong tình bạn già nua của ông với cả tấm lòng thành khiến ông vui. Lần đầu
tiên ông hể hả với thằng con ra mặt.
Đêm ông ở lại, nằm ghé bên bốn Thơ ngửi cái mùi chua chua của
phèn đất, nồng nồng của rơm rạ thấy tâm thần phấn chấn lạ thường, thấy như tuồng
hai người đang nằm trên chõng tre trước chái hiên kể chuyện đi dân công Tây
Nguyên. Bao nhiêu năm ông mới được ngửi lại cái mùi đặc trưng ấy của quê nhà
nên coi bộ rất hả hê, ở riệt với bạn trong bệnh viện, suốt ngày lẫn đêm nghe bốn
Thơ kể chuyện ngoài đó. Hai ông già thi nhau nói, chen nhau kể chuyện xưa chuyện
nay về mảnh đất quê mùa, chơn chất, lắm tai ương, địch họa. Mọi người cứ như
cây xương rồng, bàn chải trên dãi cát cháy, cứ tồng ngồng lớn lên, bất chấp nắng
lửa, mưa dầu… để trổ hoa. Hết lớp này tới lớp khác cứ tiếp tục vịn tay vào cái
khốn khó mà lớn lên, mà thành người…
“Khu cồn mả Cây Keo đó, đâu còn nữa, anh. Những lùm bàn chải
với mai rừng hóa kiếp thành nhà cao nhà thấp rồi. Khu trại lính sát mép biển
cũng vậy, nhà cửa, phố xá kéo dài ra tận ngoài quốc lộ. Đường lớn, đường nhỏ,
nhà máy… cứ như trong phim ảnh. Tụi nhỏ bây giờ giỏi hơn lớp già tụi mình. Anh
mà về không chừng đi lạc…”. Bốn Thơ miên man kể, ông say sưa nghe như say sưa
nghe bà nội ông thuở nhỏ kể chuyện cổ tích thần tiên. Giọng bốn Thơ phều phào
như chiếc xe đạp thồ gạo cũ kỹ, cọc cạch chở ông ngồi phía sau đi dạo hết phố
này qua khu khác. Ông ngơ ngác ngó những bảng hiệu to đùng, ông vịn tay trên
thành xi măng cầu Bà Chét, gác chân lên ghế đá công viên coi mấy đứa trẻ thả diều,
bãi biển đầy người tắm. Hai người rướn sức đạp lên cầu Đà Rằng để hoài nhớ câu
vọng cổ của người gác cầu dùng tay gõ nhịp lên lan can sắt: “Cúc Hoa ôi, nếu
chúng ta còn xa cách nhau vì kẻ tuyền đài người dương thế thì mãi mãi anh còn
là kẻ bị đầy ải đơn côi trong ngục thất… tâm hồn…” Giọng phều
phào ấy hứng khởi chở ông đi cùng khắp… cho tới lúc thiếp đi trong giấc ngủ nhẹ
tênh, cho tới khi bốn Thơ nắm tay ông, nước mắt trào bên khóe, bước lên xe. Ông
Năm như từ trời cao mây trắng rớt cái đùng xuống đáy vực. Giấc mơ ông là lớp
khói xịt sau đít xe, là cái vẫy tay của bốn Thơ không lòi ra khỏi khung cửa
kính kín bưng. Ông đứng ngó trân trân bóng chiếc xe hút nhỏ sau khúc quanh,
trên đường phố đông nghìn nghịt. Còn lại quanh ông là vũng nắng trắng lóa. Bốn
Thơ mang theo mẹ con bà hai Mun, ông năm Cảnh, sáu Đờn Cò cùng đám bạn răng rụng,
đôi tai nghễnh ngãng, mắt kèm nhèm… bay vụt ra khỏi thành phố. Đám bạn ấy và cả
bốn Thơ khác chi những cánh chim trốn tuyết, bay trở về phương Bắc?
– Mua vé Tây Ninh, ông. Hôm qua nẫu trúng
nhiều lắm – thằng bé đen đúa ốm tong teo chìa xấp vé số trước mặt, khiến ông giật
nẩy người thiếu chút nữa là rơi tõm xuống sông. Giấc mơ chềnh chồng gãy gập,
nát ngứu thành bọt sóng. Ông ngơ ngác ngó thằng bé xa lạ mà như đang nắm một thứ
gì đó thiệt gần gũi, quí báu lỡ bỏ quên lâu ngày trong hóc bếp ám bồ hóng, đang
thay thế chiếc bóng bốn Thơ xa hun hút. Ông ngó trân trân vào mặt thằng nhỏ, nuốt
nghẹn vừa chỉ tay vào chiếc ghế trước mặt:
– Me chay, cháu gốc… Cơ khổ, sao cháu lặn lội tận trong này?
– Dạ, nhà đông anh em, nghèo nghỉ hè cháu tranh thủ vào đây,
phụ tiền sách vở cho mấy đứa em.
– Chớ nhà cháu ở chỗ nào?
– Xóm Lẫm.
– Nhiều xóm Lẫm lắm, làm sao ông nhớ hết?
-Xóm Lẫm, Tây Phú…
– Ờ há… Tây Phú – Nói và ông nhắm mắt mơ màng, bỏ mặc thằng
bé lóng ngóng, loay hoay trên ghế với tập vé số dày cộp. Chất giọng đặc sền sệt
ruộng đồng và biển sâu khiến ông hồi hộp, run run như lần đầu tiên nắm tay cô
ba Thẩm, không thốt lên được lời nào. Chẳng biết cô còn hay mất. Cũng nhờ thằng
nhỏ này mà ông mới nhớ lại cái cầm tay đó, chớ lâu rồi ông đã quên?
Ông hỏi thăm gia sự, hỏi thăm xóm làng… Ông hỏi nhiều, dồn dập
đến nỗi thằng nhỏ hụt hơi trả lời, chỗ nhớ, chỗ không, biết và không biết chồng
chéo lên nhau, đan dệt tựa tấm lụa đào thơm tơ thơm tằm. Thằng nhỏ như thiên sứ
kết nối sợi dây đàn lỡ đứt của bốn Thơ, mang đến cho ông nụ hoa dú dẻ thơm nức
trong đáy mắt. Ông hả hê nuốt từng lời sền sệt từ chiếc miệng tròn phát ra những
âm lệch nghiêng.
Ông Năm chồm người cắt ngang:
– Hè, chớ cháu biết bến phà cũ chỗ cây da ở Đông Phước
không?
Thằng nhỏ nhìn xấp vé số, miệng méo xệch:
– Dạ chỗ cầu Chùa.
– Không phải, ở cầu Chùa ngó chéo lên cỡ bốn năm trăm thước.
Chạy u một hơi là tới liền đó mà.
– Dạ – thằng nhỏ trả lời vừa ngó ra con đường bắt đầu đông
nghịt xe cộ.
– Còn nữa, ở Tây Phú chắc nghe tiếng giáo Hai ở đồng Bầu Sấu,
ông giáo hồi đánh Tây đó mà, nghe nói ổng viết sách thuốc, trị bịnh, lập gia phả…
– Dạ, mà cháu đâu biết đồng Bầu Sấu, có nghe nói ông giáo
Hai.
– Đúng. Bầu Sấu là Phú Ân. Ổng đó, nay ra sao cháu?
Thằng nhỏ gãi đầu, ấp úng không biết trả lời sao:
– Nghe nói mạnh khỏe – Nó đáp bừa, chớ thật bụng đâu biết
ông giáo Hai là ai.
Ông xịch ghế lại gần, nắm tay thằng nhỏ, vuốt ve bàn tay gầy
tong gầy teo của nó, miệng lẩm nhẩm “cơ khổ ở ngoãi chưa hết nghèo thiệt sao?”.
Thằng nhỏ nghiêng đầu về phía ông nhưng nghe không rõ ràng.
– Dạ, nhà con nghèo thiệt mà. Nghèo nên mới theo anh em vô tận
đây bán vé số. Nhưng khai trường là con về liền, còn đi học.
Ông già chồm tới định nói câu gì đó nhưng cuối cùng thì ông
thả rơi vào tư thế cũ. Ngoài đường xe cộ mỗi lúc một đông thêm. Quán có thêm mấy
người công nhân tan ca bước vô kêu ly xây chừng, trà đá… Thằng nhỏ lúng túng với
tập vé số còn dày trong lòng tay gầy guộc. Nó ngoái nhìn những người mới đến. Mắt
ông già chạm ngay vào cái ngoái nhìn đầy lo lắng rê theo chút hy vọng mỏng tang
của thằng nhỏ đồng hương. Ông thả vội tay nó ra, lần vào túi áo, lôi những tờ
giấy bạc cong queo ấn hết vào tay thằng nhỏ, nói phều phào:
– Ông còn chừng đó, chẳng biết bao nhiêu, con giữ lấy hay chọn
những tấm vé con thích, biết đâu chừng gặp hên. Ông già rồi. Vé với số mà làm
gì. Chừng nào sắp về, con ghé lại quán này nhắn ông, có chút quà cho cháu mang
về quê – miệng nói, bụng nghĩ ngay đến món tiền cất trong chiếc tráp gỗ
chưa tiêu đến. Chẳng nhiều nhặn gì, nhưng sẽ phụ thêm tấm áo, cuốn vở, cây bút
chì cho tụi em nó. Tội. Biết đâu ông bà, thần hoàng bổn địa phù hộ cho chúng
thành tiến sĩ, kỹ sư…
Ông đẩy tay cầm tiền của thằng bé về phía bụng nó, dặn:
– Cứ vài ba bữa cháu tạt qua đây, nói chuyện với ông chút
xíu cho vui.
Thằng nhỏ cầm những đồng bạc cong queo, miệng há hốc ngạc
nhiên, nói lí nhí: “cảm ơn” trước khi bước qua các bàn khác rồi hòa vào giòng
người ngược xuôi như giòng nước xoay vòng. Ông Năm thẫn thờ đứng lên ngó theo
bóng nó hút xa với nỗi vui khấp khởi, hy vọng thế nào nó cũng sẽ quay lại nói
chuyện với mình.
***
Cơn mưa cuối mùa thiệt dữ dội. Mưa ầm ầm như cầm
chĩnh mà trút. Mưa xán xuống mặt đường vẽ thành những vòng tròn nối nhau trôi
xuống các hố ga. Nước chảy ào ào. Chẳng mấy chốc, con đường trước mặt như mương
nước. Xe cộ chạy ngang qua tát nước lên tận hàng hiên. Gành bật cười, nghĩ thầm:
mưa xứ này thiệt kỳ, ào ào như lũ. Đến mưa cũng hối hả huống chi con người.
Tính cách của mưa, của nắng và của người ở đây sao giống nhau quá chừng chừng.
Gành giật mình, mưa vầy làm sao qua chỗ ông già bữa hổm? Ngày kia về rồi. Sắp
khai giảng. Thiệt tội ông già, chắc là nhớ quê hung, phải ghé thăm ông cụ và cảm
ơn món tiền ông cho mình, chẳng nhiều nhõi chi nhưng hiếm có người tốt bụng như
vậy. Nó lại nghĩ, sao ổng cho mình băm sáu ngàn không tiếc mà mình lại tiếc ướt
áo? Nghĩ vậy và nó đội mưa chạy băng qua mấy con đường đón xe buýt qua bên kia
rạch Ông.
Mưa dứt thình lình. Đường láng lẫy như vừa rửa bột giặt. Mặt
trời buổi xế chiều ló ra thật dịu dàng. Xe dừng gần giao lộ, Gành xuống xe lóc
cóc chạy bộ một đoạn ngắn mà trong dạ chưa sắp xếp xuôi lọt những câu định nói
với ông già.
Quán vắng hoe. Bàn ghế trống trơn. Gành chưng hửng, lóng
ngóng ngó ra đoạn sông ngắn nơi có lùm dừa nước đứng lấn ra. Gành nhìn miết tàu
lá chúc trong dòng chảy, như thể cánh tay buông xuôi, mệt mỏi thả lửng xuống mặt
nước. Những lớp lá ngã vàng rung nhẹ trong làn nước sẫm màu. Gành thấy nhớ ông
già quá đỗi. Giờ mà có ông ngồi đây nghe nói chuyện hẳn mình cũng đỡ nhớ
nhà đôi chút. Mới đó mà đã hơn hai tháng. Hai tháng còn nhớ nhà, bầy em, lũ bạn
huống chi ông cụ xa quê đã lâu hung. Gành mon men lại gần chiếc bàn vuông kê
sát vách lá, ăn thông ra mé hông dùng làm chái bếp. Người đàn bà luống tuổi
đang lượm thóc trong rổ gạo ngẩng lên, hỏi:
– Cháu kêu gì?
– Dạ không. Cháu hỏi thăm ông cụ hay ra ngồi ở góc bàn đằng
kia, cô có biết nhà chỗ nào không?
– Quen?
– Dạ không.
– Không rõ chỗ nào, nhưng thấy ổng chống gậy từ hướng ngã tư
qua. Cả tuần nay không thấy lại. Già cả, nay đau mai bệnh ai mà biết được.
Gành chưng hửng, xớ rớ một lúc, nói cảm ơn rồi bước ra khỏi
quán. Giữa phố xá đông nghẹt người như vầy biết hỏi ai để tìm ra chỗ ở của ông?
Gành bước xiêu xiêu trong màu nắng thiệt lạ sau cơn mưa. Một thứ màu sắc khó diễn
tả nên lời: vừa nhồn nhột sắt se vừa mang mang trải dài lớp nắng oi nồng trước
đó thành một dãi hâng hẩng của lớp kem trên chiếc mâm đồng.
Gành ngơ ngác hỏi thăm từng căn phố, cố mô tả ông già để gợi
nhớ cho từng chủ nhà, nhưng ai cũng lắc đầu. Sao không giống như ngoài mình hè,
Gành tự hỏi, chốn này hình như mỗi người chỉ biết đến da thịt của riêng mình
thôi sao? Mọi hy vọng của nó bắt đầu xẹp lép, trương lên âm điệu buồn mênh
mang, như tiếng nhạc đám ma đang chậm rãi ngược chéo với hướng đường nó đang bước
tới phía ngã tư. Khung ảnh người quá cố bị che khuất bởi đứa nhỏ mặc áo tang,
trạc tuổi Gành, nên nó không thể nhìn thấy người chết là già hay trẻ. Đoàn xe
tang quành sang con đường khác, nó chỉ còn thấy khúc đuôi của những người đưa
tiễn, văng vẳng điệu nam ai buồn não nuột.
