The Librarian, họa sĩ Giuseppe Arcimboldo (1527–1593)
Nhờ một ít kinh nghiệm về sách vở khi còn ở Việt Nam, chàng được nhận vào làm việc tại một thư viện trường trung học khi đến định cư ở Hoa Kỳ. Mê sách, mê đọc, lại cần cù, chịu khó đi học, về sau, chàng được tuyển dụng vào một thư viện đại học, phụ trách phân loại, sắp xếp sách báo lên giá (shelver) và trông coi phần sách báo tiếng Việt. Đó là một tòa nhà tám tầng, lưu trữ sách báo khoa học nhân văn, nằm trong một hệ thống gồm nhiều thư viện khác nhau. Từ thư viện trường thu gọn trong một phòng học chứa vài ngàn đầu sách (mà chàng gần như thuộc lòng), vừa vào nhận việc, chàng cảm thấy mình như bị ném vào một vùng biển lớn. Cũng là cao ốc như mọi cao ốc khác, nhưng nhìn từ bên trong, mọi sức nặng của nó nằm trong các kệ sách dài có đến hàng trăm, thậm chí cả ngàn cây số, đủ để chứa hàng triệu cuốn sách. Phục vụ cho nó là cả một “đạo quân”: ngoài một bộ sậu quản lý điều hành đa dạng và các nhân viên thư viện phụ trách đủ loại công việc khác nhau, còn có khá nhiều sinh viên làm bán thời gian, những chuyên viên máy tính, nhân viên an ninh, thợ mộc, đầu bếp và các đội vệ sinh thay nhau quét dọn cả ca ngày lẫn ca đêm.
Ngày hai buổi, chàng chẳng biết gì ngoài những gáy, những
bìa, những tựa đề, những năm tháng, những ngôn ngữ, những loại, hạng, những
tên, những tấm thẻ. Ghi, chép, phân
loại, bê lên giá, bỏ xuống kho. Sách và sách. Rốt cuộc, chàng đồng hóa với
sách. Làm việc thấy sách đã đành, ăn cũng thấy sách, ngủ cũng thấy sách, đi
chơi cũng thấy sách. Chả thế mà chỉ một thời gian ngắn sau, chàng thực thụ trở
thành “anh chàng sách” – a book guy -, tục danh mà tay trưởng phòng gán cho bức “The
Librarian” (1) của Giuseppe Arcimboldo. Không xương không thịt, không tóc
tai, không máu huyết. Sách. Sách. Sách. Đầu sách, tay sách, bụng sách, ngực
sách, mắt sách, tóc sách. Sách lớn sách nhỏ sách vừa sách dày sách mỏng. Bìa
sách nào trông cũng cứng cát, khỏe mạnh và vững chãi y như để bảo vệ một cách
nghiêm túc những gì chứa trong đó. Nhìn bức tranh phóng lớn treo ngay trước
phòng nhân viên, chàng cảm thấy nó chẳng khác gì tấm gương soi chính mình.
Hàng ngày, đi lui
đi tới trên những tấm đá hoa cương mòn nhẵn vết chân người, đi lên đi xuống những
cầu thang xoáy vào lòng cao ốc, đi ngang qua hàng hàng lớp lớp những khối giấy
bất động, chàng có cảm giác rằng mọi hiện hữu ở bên ngoài đều được phản ảnh vào
trong những vật thể vô tri vô giác này. Bất cứ xuất phát từ đâu, bất cứ ra đời
vào thời kỳ nào, bất cứ đề cập đến chuyện gì, và dù hay dù dở, dù đáng đọc hay
đáng vứt vào sọt rác, tất cả bọn chúng đều được quyền có mặt ở đây một cách
bình đẳng. Nào là hàng ngàn tiểu thuyết được in ở Bhutan năm 1983, nào là hàng
trăm tạp chí xuất bản ở Trung Hoa năm 1949, nào là hàng chục sách trẻ em được
in ở Iran năm 1981, nào là vài thi tập được ra mắt ở Ghana năm 1958…và nào là
hàng ngàn sách báo Việt Nam đủ loại. Tài liệu bằng chữ quốc ngữ, tài liệu bằng
chữ Hán, và cả những tài liệu bằng chữ Nôm. Có nguyên cả bộ Nam Phong tạp chí,
xuất bản từ đầu thế kỷ 20, tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, bản “photocopy” các số
tạp chí Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn. Rồi sách báo của hai miền Nam Bắc, từ nhật
báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, tạp chí Cộng Sản, tạp chí Học Tập, Nhân Văn
giai phẩm cho đến các công báo Việt Nam Cộng Hòa, tạp chí Bách Khoa, Văn, Quê
Hương, Phụ Nữ Diễn Đàn, Phổ Thông, lại có cả hàng lô các nhật báo xuất bản trước
năm 1975 như Sài Gòn Mới, Sóng Thần, Chính Luận, Điện Tín…, tuy đã ố vàng,
nhưng vẫn còn nguyên vẹn. Chàng ngạc nhiên khi nhìn thấy những ấn bản đầu
tiên của tạp chí Mùa Lúa Mới, xuất bản ở miền Trung vào năm 1956, một số tờ nội
san của đại học Đà Lạt hay Bản Tin của Viện Đại Học Huế phát hành từ những ngày
đầu thành lập, năm 1958.
Về hình thể, thì
sách báo cuốn nào cũng như cuốn nào, hao hao nhau, nhưng những gì chứa đựng
trong đó lại hoàn toàn khác nhau. Mỗi cuốn là một thế giới. Chúng xa lạ nhau,
đôi khi tương phản nhau và phủ định lẫn nhau. Ấy thế mà chúng nằm bên nhau,
chung sống hòa bình. Một hòa bình lặng lẽ và an phận. Người ta thu gom tất cả
những gì được viết ra trên thế giới, bất cứ ngôn ngữ nào, trang trọng xếp chúng
lên giá; thế là, chúng chễm chệ nằm yên ở đó, chờ đợi năm này qua năm khác, thập
kỷ này đến thập kỷ khác và thế kỷ này qua thế kỷ khác, không cần biết có ai sẽ
sờ đến hay không.
Ông mê sách
như người mê đồ cổ. Nghe ở đâu có sách quý là ông tìm tới dù có phải tốn kém
tàu xe và phải bỏ ra cả một món tiền lớn để “rước” người có nhan như ngọc đó về,
ông cũng dám chơi một phen cho thỏa chí. Như cuốn Tự vị của Paulus Của, nghe
đâu như là ấn bản đầu tiên của một ông cụ nào đó bắc bực làm cao đến tận giời,
ông tôi đã phải lặn lội vào tận xứ Thủ Dầu Một xa lắc xa lơ để mua cho bằng được.
Công cuộc mua quyển sách đó, chẳng những khiến ông mất đến mấy chỉ vàng, mà còn
ốm một trận thừa sống thiếu chết.
Cuốn sách cũ đến
nỗi như đã ngàn năm tuổi. Còn hơn một người chơi đồ cổ, ông tôi lại phải tốn
thêm một món tiền và nhất là tốn rất nhiều thì giờ để nài nỉ và kiên nhẫn ngồi
chờ anh thợ đóng sách đóng lại giùm. Lúc này quyển sách đối với ông như một con
bệnh thập tử nhất sinh và anh thợ đóng sách cứ như một bác sĩ. Khi anh thợ tháo
bung sách ra, ông đau nhói như thể gan ruột của mình cũng bị lôi ra như thế.
Ông hồi hộp theo dõi từng mũi chỉ khâu, nín thở xem anh ta cắt xén, làm bìa.
Cho đến khi sách được làm mới một cách khỏe mạnh, xinh đẹp, ông ôm quyển sách
trước ngực như một người mẹ ôm đứa con bé bỏng vừa được bác sĩ cứu sống. Ông hết
lời cảm ơn anh ta, đưa cho anh một tờ tiền lớn và hào phóng không nhận tiền thối
lại. Đem quyển sách về nhà, ông lại mất cả buổi ngồi ngắm đến nỗi quên cả bữa
cơm khiến bà tôi phải giục. (2)
Số lượng sách
tuôn vào thư viện không hề ngưng nghỉ. Mỗi ngày mỗi nhiều. Chàng nghĩ: có lẽ
nhu cầu sách báo của nhân loại là vô giới hạn. Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
(Library of Congress) mỗi ngày nhập vào hàng ngàn cuốn sách mới, cộng thêm vào
hàng trăm triệu cuốn có sẵn nằm trên những giá sách dài đến gần vài trăm dặm.
Đó là chưa kể vô số tài liệu tích chứa trong máy vi tính, máy fax,
máy sao chép và hàng tỷ tỷ trang trên mạng lưới điện toán toàn cầu. Thư viện
chàng làm nhỏ bé hơn, nhưng không có ngày nào là không có các đầu sách hay tạp
chí và nhật báo mới. Giá sách và kho lưu trữ vẫn đều đặn được xây thêm hàng
năm. Dẫu vậy, vì vào nhiều quá, nên buộc phải thải ra. Sách vào sách ra như những
đợt thủy triều, lúc lên lúc xuống. Chẳng khác gì hơi thở của thư viện. Cứ vào đầu
mỗi kỳ ba tháng, thư viện ào ào thở sách ra, chuyển đến những nơi nào đó để rồi
đến cuối kỳ, nó lại ào ạt hít sách vào. Khác biết bao với thư viện lúc còn phôi
thai ngày xưa, sách báo hiếm hoi đến nỗi, một người làm thư viện vào thế kỷ 18,
nhân vật chính trong tập sách nhỏ “Old Librarian’s Almanack” (3), trong
khi chùi bụi cho những kệ sách mà anh ta phụ trách, đã có thể dư thời gian để đọc
đi rồi đọc lại không biết bao nhiêu lần từng cuốn sách một có sẵn mà vẫn chưa
có sách mới nhập vào.
Ngoài giá sách là
kho chứa, một thế giới khác khẳn. Sách trên giá là sách thức, sách trong kho là
sách ngủ. Chúng chất chứa vô số những tài liệu “nằm”, đa phần thuộc về nhà nước
Hoa Kỳ, nơi ta có thể tìm thấy những văn kiện được ban hành cách đây cả mấy thế
kỷ, hay các tài liệu thống kê dân số ghi rõ số lượng nhà của thổ dân làm bằng
bùn và rạ ở tiểu bang Maryland vào những năm thập niên 1820, hay bản thống kê
những người thợ đan rổ, thợ thuộc da trong mỗi một ngôi làng ở đâu đó ở một tiểu
bang miền Nam. Ngoài ra là hàng đống tài liệu kịch nghệ với khổ to một cách lạ
thường nằm bên cạnh những thùng đựng các tài liệu viết tay đâu hồi thế kỷ 18. Lại
cũng có tài liệu khá bất ngờ như các tạp chí thân-Hitler tuyên truyền chống di
dân và chống Do Thái, được xuất bản ở Hoa Kỳ ngay trong thời gian Mỹ đang lâm
chiến với Đức Quốc Xã thời Đệ Nhị Thế Chiến. Tóm lại, đó là những gì đã đi vào
quên lãng. Nhưng chúng không có quyền mất. Thiếu chúng là nhân loại thiếu đất đứng.
Vì thế, chúng phải hiện hữu, dù là một hiện hữu vô tích sự.
Có lần, chàng đi
xuống kho chứa, lục tìm một tài liệu theo yêu cầu của một học giả đến từ Ấn Độ.
Nhìn thấy tài liệu, chàng ngẩn ngơ, không thể ngờ có ngày mình được nhìn tận mắt
một di vật văn hóa quý giá như thế. Đó là cuốn “Polyanthea” của Nani Mirabelli,
xuất bản từ năm 1503 ở Savona nước Ý, lược ghi các tác giả xuất hiện vào các thời
kỳ trước đó. “Polyanthea” là một trong những cuốn sách in đầu tiên, sau khi
Gutenberg sáng tạo ra máy in vào năm 1452. Sách được in ra từng trang rời, có
ghi ký hiệu để phân biệt số thứ tự. Vào thời đó, người cần sách mà có tiền thì
mua từng trang in rồi đến người thợ đóng sách thuê đóng lại thành tập, dày mỏng
hay đẹp xấu tùy theo sở thích và túi tiền của khách. Các sinh viên nghèo không
có tiền đóng sách, thì chia nhau giữ từng trang, học xong rồi trao đổi
nhau (4). Bây giờ, loại sách như thế chỉ để nhìn,
chẳng ai dám mạnh tay cầm giữ. Làm thiệt hại chúng là làm thiệt hại
lịch sử. Vì chúng chính là lịch sử.
Những lúc rảnh rỗi
khá hiếm hoi, chàng đi dọc theo các lối đi, giữa hai hàng giá sách, lắng nghe sự
im lặng, lắng nghe mùi bụi, mùi giấy, có khi là mùi mốc và mùi…lịch sử. Chàng
mê mẩn nhìn những chiếc gáy sách, cái dày cái mỏng, cái thì in chữ vàng cái in
chữ đen, rất nhiều gáy sách chữ đã mờ, đọc không rõ, chúng nằm kề nhau, ôm ấp
nhau, dựa hơi nhau, gắn bó với nhau, kệ trên kệ dưới y như thể số phận chúng
mãi mãi phải đeo đẳng nhau như thế cùng chống chỏi với sức tàn phá của thời
gian để tồn tại! Ở đây là mấy bộ tự điển bách khoa chiếm hết nguyên một dãy kệ
dài, ở kia là “Lenin toàn tập” bản tiếng Pháp, bên nọ là những tự điển và kinh
sách Phạn ngữ, cuốn nào cuốn nấy dày cộm, mở ra, thấy toàn là chữ và chữ loăn
quăn, chi chít. Biết bao là công trình tim óc, biết bao là tri thức tích chứa!
Chỉ nhìn thôi là đã thấy hoa mắt, nói gì đến chuyện viết, chuyện đọc. Chàng bần
thần nghĩ đến những con người đã cống hiến hết đời mình để chúng ra đời, tồn tại
và hiện diện ở đây y như thể chúng có một đời sống riêng, chẳng dính líu gì đến
họ. Sức nặng của chúng không phải sức nặng của một khối vật chất mà là sức nặng
của một thứ chẳng có chút trọng lượng nào: chữ.
Đôi khi cầm một một
cuốn sách trên tay, chàng phân vân không biết là đang cầm một vật thể hay cầm một
phi vật thể. Là sinh vật hay tử vật.
Biết đọc vỡ
nghĩa sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục
này là một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn
Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri
kỷ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn Cao mà treo là có một vật báu
trên đời. Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới
quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp lại mặt
một người cách xa y hàng bao nhiêu thế kỷ tài học, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn
bị hành hình thì cái thèm muốn kia chỉ là một cái mộng…
(…) Đêm hôm ấy,
lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng
xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy
mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột và gián. Trong một không khí khói tỏa
như đám cháy, ánh sáng đỏ ngòm của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu đang
chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ (…) Một tên tù cổ đeo
gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng
trên mảnh ván. Tên tử tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất
những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại
gầy gò, thì run run bưng chậu mực. (5)
Hôm đó, không ngủ
được, chàng thức dậy sớm. Tháng năm, chưa tới năm giờ mà trời đã sáng trưng. Mắt
nhắm mắt mở, vừa phóc xuống giường là bật ngay computer. Màn hình
trắng xóa, không có gì. Lại có vấn đề? Không sao. Vào phòng tắm, rửa vội mặt
mày. Trở lại phòng. Màn hình vẫn trắng. Tắt, mở lại. Vẫn thế. Chàng lầm bầm, bực
bội. Cái vật thể chiếm chỉ một góc nhỏ của chiếc bàn đó, nó cho ta đủ thứ trên
đời. Lúc nào nó có vấn đề là y như ta đánh mất cả thế giới.
Đang loay hoay
dây nhợ, nút bấm để tìm xem nó hỏng hóc ở đâu thì tiếng bà vợ đâu đó ở phòng
bên léo nhéo gọi anh ơi anh ơi, qua đây nhanh lên, nhanh lên, xem cái gì thế
này. Chàng chạy vội qua. Vợ chàng đưa cho chàng một chiếc hộp nhỏ:
– Anh xem nè, chiếc
hộp phấn này, chính em vừa mới mua nó hồi khuya, sao bây giờ chỉ là cái hộp
giấy, chẳng có một chữ nào chỉ dẫn cách dùng thì sao mà dùng đây. Anh thấy có lạ
không…
Chàng cầm chiếc hộp
lên xoay quanh, người bỗng rợn tóc gáy. Chỉ toàn là những dải đen trắng hay dải
màu, tuyệt không có một chữ nào.
– Em lấy những
chiếc hộp khác cho anh.
Nàng vội vã tới tủ
thuốc.
– Sao kỳ cục thế
này, nàng la lên, sửng sốt.
Chàng bước lại.
Lôi hết hộp thuốc này đến hộp thuộc khác ra xem, lớn, nhỏ, vuông, tròn, cao thấp,
tất cả đều trống không. Không có chữ. Chàng ném từng hộp xuống sàn nhà, chạy về
phòng, mở computer lên. Mà hình vẫn trống không, chỉ là một tấm
kính vòng cầu đầy những hạt li ti nhảy nhót loạn xạ. Chàng đến tủ sách, lật
tung chồng báo, xô hết sách xuống. Cũng như những chiếc hộp, tất cả sách, báo
bây giờ chỉ toàn là giấy. Chàng lật hết cuốn này đến cuốn khác. Trống
không.
Chàng gọi điện
thoại đến thư viện, rồi gọi đến bạn bè đến bà con, gọi lung tung, hết người này
đến người nọ. Cũng như chàng, mọi người đều không tìm thấy chữ.
Chữ đâu rồi?
Chữ đâu rồ? Chữ đâu rồi?
Chàng la lên với
chính mình, giọng vô cùng kích động. Dẫu chỉ là những ký hiệu, những chữ hoa chữ
thường dấu chấm dấu phẩy dấu hỏi dấu ngã, những câu đoạn dòng trang hiện diện
khắp mọi nơi. Chúng thân quen, gần gũi như những bàn những ghế những cửa những
chăn những màn những chén những đũa. Đi đâu chàng cũng thấy chúng, nhìn đâu
chàng cũng chạm phải chúng, ngày nào chàng cũng đọc chúng. Nhìn và đọc. Dẫu đọc
chỉ để mà đọc, đọc rồi quên, nhưng không thể không đọc. Chữ như một thứ hàng
hóa hào phóng và thừa mứa rơi vãi khắp nơi như cỏ như cây như đất như đá. Thế
mà bỗng dưng bây giờ, những ký hiệu lúc nhúc đó không còn nữa. Ngay cả các chữ
STOP trên các ngã ba, ngã tư cũng biến mất, chỉ còn trơ lại những tấm sắt đứng
chơ vơ ngơ ngác. Cả thế giới quen thuộc từ nhà cửa, đường sá đến công sở, trường
ốc vẫn còn đó, không có gì thay đổi. Nhưng nhìn quanh nhìn quất nhìn tới nhìn
lui, chàng thấy tất cả đều đột nhiên hoang vu y như thể không hề tồn tại. Đường
nào cũng là đường nào. Chỗ nào cũng là chỗ nào. Nhà nào cũng là nhà nào. Không
chữ, tất cả chỉ còn là những hình dáng và dấu hiệu vô hồn! Chàng bước đi
giữa mọi người, ai cũng nhìn vào ai, nhưng ai cũng cảm thấy ngỡ ngàng, mất
phương hướng, chẳng ai dính líu gì đến ai.
Thiệu phân
phát xong rồi, Quách Ðồ tiến lên nói:
Chưa hết.
Gần trưa, trong
lúc đang ngồi ăn, bỗng nghe tiếng vợ chàng gọi thất thanh từ trên lầu hai:
– Anh, lên đây,
lên mau.
Chàng bỏ chén bát
chạy vội lên lầu. Vợ chàng đang cầm cây viết nguyên tử, chỉ mảnh giấy trắng:
– Em muốn viết mấy
dòng gửi đi mà không thể viết được.
Chàng giật lấy
cây bút trên tay nàng, thử viết tên họ mình. Lạ thay, ngòi bút không theo ý
chàng. Những gì tuôn ra từ đó chỉ là những vạch ngang vạch dọc, những đường
cong queo không ra bất cứ hình thù gì. Y như thể hồi bắt đầu đi học, thằng bé cố
hết sức vẫn không thể viết ra được một chữ gì cho giống với hình in trong sách.
Lạ hơn nữa, càng cố gắng viết, chàng lại càng không thể viết. Đầu óc chàng đột
nhiên trống rỗng. Ý niệm về những nét chữ trở nên nhập nhòe. Nét vòng chữ a,
nét sổ thẳng chữ t, nét cong chữ c nằm chờn vờn
trong óc nhưng không thể tuôn ra từ đầu ngòi bút. Những hình ảnh có trong đầu
không liên hệ gì với ngòi bút và những đường nét vạch ra trên giấy.
Cuối cùng, chịu
thua, chàng ném cây bút xuống, vò đầu bứt tai.
Không những chữ
đã biến mất. Mà con người cũng mất cả khả năng viết ra chữ.
Không phải là sự
trục trặc của một người mà là sự trục trặc của loài người.
Thế giới bắt đầu
một kỷ nguyên mới: không có chữ.
Sau những ngày đầu
tiên hoảng hốt và xúc động, dần dà, mọi người tập làm quen với hoàn cảnh của một
thế giới vắng chữ.
Trước hết là sự
biến mất ngoạn mục của cái được gọi là truyền thông: báo chí, truyền thanh,
truyền hình và internet. Không còn headline news, breaking news, hot
news kéo theo những đoán già đoán non đẫm mùi thế sự (được mệnh danh
là phân tích, bình luận) chi chít chữ choán hết những khoảng trống trên giấy và
trên màn hình. Mọi chuyện, mọi sự kiện (được mệnh danh là biến cố) đều phải
thông qua chữ, đều là sản phẩm của chữ. Không chữ, không chuyện. Không Tsunami
Nhật tang thương, không đám cưới hoàng gia Anh ồn ào, không vùng cấm bay Lybia,
không Dow Jones lên xuống ngột thở. Cũng không xì-căn-đan này nối tiếp
xì-căn-đan kia đánh thẳng vào trí tò mò đầy khoái cảm nhân sinh: hết ông thống
đốc lấy người giúp việc đến ông thượng nghị sĩ có con với nhân viên, hết ông
giám đốc quỹ tiền tệ hãm hiếp cô bồi phòng đến ông dân biểu gửi hình khiêu dâm
lên Internet. Cũng không còn cái thú sử dụng chữ để nâng bi và sỉ nhục, thứ trò
chơi đầy khoái cảm khi đẩy được người này lên tận mây xanh và dìm kẻ kia xuống
đống bùn đen.
Trên các diễn đàn
quốc hội, thiếu tài liệu chữ, các ông nghị bà nghị lấp ba lấp búng nói chẳng
thành câu, lắm khi câu sau chưởi vào câu trước. Diễn đàn đâm ra vắng khách, chẳng
ai muốn chường mặt ra dạy dỗ thiên hạ. Những cuộc cãi vã liên tu bất tận về thuế
khoá, chiến tranh, hòa bình, lợi tức, an ninh quốc gia, thâm thủng ngân sách chấm
dứt. Không còn những văn bản lập quy chi chít chữ đóng thành từng kho tài liệu
chất cao như núi.
Các trường học
đóng cửa. Lúc đầu, các cô các cậu trẻ tuổi ngỡ ngàng vì bỗng dưng không được cắp
sách đến trường để gặp thầy cô gặp bạn bè, không còn được thấy bảng đen phấn trắng,
không còn có chỗ để được nhọc nhằn và nơm nớp ngóng đợi tương lai. Nhưng rồi
các cô các cậu đâm ra vui mừng, vì bỗng nhiên được giải thoát khỏi một nhiệm vụ
bực mình: đầu tư cho tương lai. Họ khỏi cần phải đợi những đợt nghỉ đông hay
nghỉ hè kiểu “sung sướng quá giờ cuối cùng đã hết/đàn chim non hớn hở rủ nhau về/chín
mươi ngày nhảy nhót ở miền quê/ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ.”(8) Họ
tự do, hoàn toàn tự do. Họ sống. Cuộc sống tự nó chứa mầm mống của tương lai,
chẳng cần phải nhọc lòng đầu tư để tính lời tính lỗ.
Nhưng sung sướng
nhất là các cháu thiếu nhi. Vừa rời vú mẹ, đang tuổi ham ăn ham chơi, bỗng dưng
bị ép phải đến một căn phòng gọi là lớp, ngày hai buổi nhọc nhằn cắm cúi vạch
những đường ngang nét dọc gọi là chữ, thứ hình vẽ chẳng ăn nhằm gì đến nhu cầu
hàng ngày của chúng.
Tòa án đóng cửa.
Nhà tù đóng cửa. Các cơ quan an ninh đóng cửa. Không hồ sơ lưu trữ, không giấy
tờ tài liệu, các công bộc của dân không biết mò vào đâu để truy cứu một tên tội
phạm hay làm sáng tỏ một vụ phạm pháp. Các viên chức anh ninh ngỡ ngàng khi
khám phá ra một điều lạ lùng: một người bỗng nhiên như mọi người. Không ai khác
với ai. Y như khi nhìn một đàn cá bơi dưới biển hay một đàn kiến bò trên sân: một
con như mọi con, mọi con như một con. Ông chánh án A thì cũng như ông đạp xích
lô B cũng như mụ bán hàng rong C cũng như thằng cướp nhà băng X. Kẻ gác tù cũng
như người tù.
Không chữ, xã hội
đánh mất ký ức của mình. Ký ức vốn là một gánh nặng vô tình. Đánh mất ký ức là
trút đi bao nhiêu phiền lụy. Mọi người trở nên vô căn, vô danh, vô lý lịch. Lúc
đầu, người ta bực mình vì không thể biết được quá khứ của nhau để thẩm định giá
trị, nhưng rồi sung sướng vì từ nay, ai cũng trong sáng, không còn lý lịch đen
lý lịch đỏ. Không tên không tuổi. Mang một cái tên, sở hữu một cái lý lịch là
mang cả hào quang lẫn đau khổ. Vinh trộn cùng nhục. Hoan lạc lẫn sầu não.
Những nhà thuyết
giáo, những tay tu từ chuyên nghiệp lặng lẽ bỏ nghề trở về với đời sống dân dã.
Thiếu chữ, họ đánh mất thứ dụng cụ đa năng, biến hóa không lường để tạo nên những
lý thuyết trơn tru, những ẩn dụ hấp dẫn, những trang giấy tràn trề thuật ngữ
hàn lâm dành cho những độc giả sùng tín, thích ăn chữ và nhai chữ. Kéo theo đó
là sự vắng mặt của trò chơi chữ nghĩa qua những màn tranh cãi liên tu bất tận,
có khi chỉ còn là những cuộc ném chữ vào mặt nhau (cho đã!).
Nhà văn nhà thơ,
những hư-cấu-viên, biến mất. Mất chữ, họ không còn thứ bùa phép vạn năng để vẽ
vời, bịa đặt và pha chế hiện thực. Không có họ, mọi thứ trong đời sống, kể cả
tình yêu, bỗng trở nên trần trụi, ngổn ngang, sần sùi. Trời không còn xanh, hoa
chẳng còn hồng, kỷ niệm chẳng hề ngọt ngào và đau khổ chẳng hề dằn vặt vì mọi sự
thể mất hết lớp sương mù hư cấu bao phủ bên ngoài. Mất chữ, chàng và nàng không
còn biết lấy gì để bâng khuâng, thổn thức, bồi hồi, dịu dàng, cay đắng. Nhưng
không chữ, đời sống trở nên đơn giản. Không có quá khứ để đào bới. Không có
tương lai để âu lo. Không chữ, tình vẫn còn đó, bớt đi màu mè nhưng những dối
trá, lọc lừa mất điều kiện để tăng lên. Không chữ, tinh thần bác ái giảm đi
nhưng lòng căm thù khó truyền bá và phát triển. Không chữ, lấy gì mà nung nấu
và huy động tinh thần tuẫn giáo! Không chữ, cái gọi là lịch sử đột nhiên biến mất.
Không ai có thể nhân danh nó để gây chiến tranh, để duy trì bản sắc hay để bảo
vệ những giá trị vốn dĩ rất mơ hồ.
Lý Tư tâu với
Tần Thủy Hoàng:
Thần
xin đốt tất cả các sách sử, trừ những sách sử của nhà Tần. Trừ những người làm
chức bác sĩ, ai cất giấu Kinh Thư, Kinh Thi, sách vở của trăm nhà thì đều đem đến
các quan thú, quan úy mà đốt đi, hai người dám bàn nhau về việc Kinh Thi, Kinh
Thư thì chém giữa chợ, lấy đời xưa mà chê đời nay thì giết cả họ. Quan lại biết
mà không tố cáo, thì cũng bị tội. Lệnh ban ra trong ba mươi ngày không đốt sách
thì khắc vào mặt cho đi thú để xây và canh giữ trường thành. (9)
Chàng trở lại thư
viện.
Toàn bộ khu đại học
vắng teo. Cây cao phủ bóng trên những lối đi lạnh lùng. Vắng người, cỏ dại phơi
phới vươn lên, hân hoan bò lên ghế đá, bao quanh tượng đài, phủ kín bồn hoa.
Hoa chen lá, lá chen cỏ. Thiếu bóng những đứa con tìm chữ, cả khu đại
học trở thành hoang hóa. Họ – có đứa từ những nơi rất xa trên địa cầu – đến
đây, hy sinh mọi thú tiêu khiển của tuổi trẻ, lặn hụp trong thế giới chữ. Bước
vào với một tâm hồn trong trắng, lành lặn và hồn nhiên. Sau một thời gian, bước
ra với một đầu óc lúc nhúc chữ, lúc nhúc kiến thức, lúc nhúc khái niệm. Họ bắt
đầu nhìn cuộc sống với một cái nhìn đầy nghi hoặc và bất trắc. Núi chẳng còn
núi, sông chẳng chỉ là sông. Người không là người. Vật không như là vật. Nhìn ở
đâu, họ cũng thấy khác.
Chưa từng làm
điều ác, nhưng chữ nghĩa làm cho lòng người bỗng dưng nhiễm đầy vết thương.
Chàng leo lên tầng
cấp thư viện. Rùng mình. Tấm bảng đồng to, bóng loáng khắc sâu câu châm ngôn đầy
kiêu hãnh dẫn từ ý của một nhà tư tưởng xưa bây giờ mênh mông trống. Mọi cánh cửa
mở toang. Chàng bước vào, đi dọc theo hành lang, xuyên qua các phòng làm việc.
Im lặng. Trước đây, cũng im lặng như vầy, nhưng là một im lặng thành khẩn, sâu
lắng, qua đó, thỉnh thoảng vang lên tiếng sột soạt đầy ý tứ của giấy, tiếng bước
chân thận trọng, tiếng trò chuyện thầm thì. Bây giờ là một im lặng lạnh lùng,
trống rỗng. Chàng đưa tay, thử bật điện. Công tắc hư. Không có điện, nhưng ánh
sáng bên ngoài hồn nhiên tràn vào, chiếu lên những giá sách im lìm. Đám sách vẫn
còn đó, gáy trống trơn, chịu đựng, nhẫn nhục, nằm nối tiếp nhau trong một bất động
chờ đợi. Chỉ còn là những khối vật chất rỗng ruột vô hồn, cuốn này nép sát cuốn
kia, đều đặn một cách vô nghĩa. Thiếu những ký hiệu lòng vòng lèo vèo đầy ắp
bên trong, chúng như những chiếc vỏ khô. Trước kia, nói đến sách là nói đến những
khối lượng giá trị, cái dày cái mỏng cái nặng cái nhẹ. Chàng vẫn có thói quen
nhìn giá trị của chúng qua cái “dày cộm” hay “mỏng tanh”. Có cuốn chàng có thể
bỏ trong túi như bỏ một món đồ chơi; có cuốn phải chở bằng xe đẩy. Vắng chữ,
chúng vẫn thế, vẫn là những khối như thế, không cuốn nào nặng thêm cũng chẳng
cuốn nào nhẹ thêm. Chúng lẫn lộn với những ghế những bàn những kệ những bụi.
Tiếng thơ rền
vang như một xa xăm vọng về, sâu lắng. Chàng ngơ ngác nhìn quanh. Không thấy gì
cả. Âm thơ cứ như rơi xuống từ khoảng không, vỡ ra từng phiến nhỏ tản mát khắp
nơi, tan loãng trong nắng chiều lặng lẽ.
Bất giác, chàng bỏ
chạy. Loanh quanh qua các kệ sách, lên thang lầu, lầu một, lầu hai, lầu ba, lầu
bốn…lầu bảy, lầu tám. Tiếng thơ đuổi theo chàng. Chàng chạy nhanh, tiếng thơ
nhanh, chàng chạy chậm, tiếng thơ chậm. Bước chân quýnh quíu, dồn dập chạm vào
giá sách, hai bàn tay chạm vào những khối giấy nặng nề, dội lại khô khốc. Tới
chỗ làm việc cũ của mình, chàng tìm thấy những tấm thẻ trống không nằm lăn lóc
trên bàn, trong các hộc tủ, rơi bừa bãi trên sàn nhà. Trong các phòng đọc sách,
ghế bàn đầy bụi im thin thít, lạnh vắng. Hàng ngày, khi đi ngang qua đây, chàng
vẫn thấy những khuôn mặt trầm ngâm, những dáng người ngồi im lìm bất động, những
đôi mắt trừng trừng đảo qua đảo lại, nhích lên nhích xuống trên các trang giấy
chi chít chữ. Góc này là đám sinh viên cần cù, đầu óc căng ra, lục lọi, soi
mói, đánh vật với ký ức, với những câu hỏi. Góc kia là ông giáo sư kinh tế, gần
cửa sổ là ông tiến sĩ nhân chủng, khuất sau khu chứa sách tham khảo là nhà ngữ
học nổi tiếng thế giới. Chữ nghĩa đã chật ních trong đầu vậy mà họ vẫn cứ đến
đây, ngày này qua ngày khác, lục tìm hết cuốn sách này đến cuốn sách khác, ghi
ghi chép chép.
Thư viện là nơi
chữ đối diện người, người trầm ngâm chữ, một đối diện lặng lẽ, một đối thoại
triền miên, cô độc. Thay vì ăn chơi, họ suy nghĩ. Thay vì chỉ suy nghĩ, họ viết.
Thay vì chỉ cần mò mẫm trên con chữ có sẵn, họ tạo ra thêm những con chữ mới. Họ
kiếm tiền bằng chữ. Họ tìm danh vọng bằng chữ. Họ hạ nhục nhau bằng chữ. Họ giết
nhau bằng chữ. Họ chiến đấu bằng chữ. Họ yêu nhau và phản bội nhau bằng chữ. Với
chữ, họ vẽ vời quá khứ, họ phịa tương lai. Họ dựng nên đời sau, kiếp trước. Họ
phỉnh gạt nhau và phỉnh gạt mọi người.
Ấn bản lần thứ
11 là ấn bản cuối cùng (…) Hàng ngày, chúng ta sẽ phá hủy chữ – hàng chục chữ,
hàng trăm chữ. Chúng ta sẽ cắt giảm ngôn ngữ đến tận cùng. Ấn Bản thứ 11 sẽ
không còn một chữ nào vốn đã trở nên lỗi thời trước năm 2050 (…) Thật là tuyệt
vời khi phá hủy chữ. (…) Chắc anh bạn chưa hiểu thấu hết cái đẹp của sự phá hủy
chữ đâu. Bạn có biết rằng Ngôn Ngữ Mới (Newspeak) là thứ ngôn ngữ duy nhất trên
thế giới mà kho từ vựng cứ nhỏ dần mỗi năm? (…) Bạn không biết rằng toàn thể mục
tiêu của Ngôn Ngữ Mới là thu hẹp tầm tư tưởng không? Cuối cùng chúng ta sẽ làm
cho thứ tội phạm tư tưởng không có cơ tòn tại, bởi vì sẽ chẳng còn chữ để mà diễn
đạt chúng. Bất cứ ý niệm nào còn được cần dùng sẽ chỉ được diễn tả chính xác
trong một từ, với một nghĩa đã được xác định rõ ràng, còn tất cả các nghĩa phụ
khác sẽ bị xóa bỏ và quên lãng (…) Chữ càng ngày càng ít theo thời gian và theo
đó, tầm ý thức cũng nhỏ dần (…) có lẽ cho đến trước năm 2050, tất cả mọi kiến
thức của Ngôn Ngữ Cũ (Oldspeak) sẽ biến mất. Toàn thể thứ văn chương của quá khứ
sẽ bị phá hủy. Chaucer, Shakespeare, Milton, Byron – chúng chỉ hiện hữu trong
Ngôn Ngữ Mới, không chỉ đuợc thay đổi thành một điều gì khác hơn, nhưng thay đổi
thành những gì trái ngược hẳn với cái chúng đã từng được hiểu. Ngay cả văn
chương của Đảng cũng thay đổi. Những khẩu hiệu cũng thay đổi. Làm sao mà ta còn
có câu khẩu hiệu đại loại như “tự do là nô lệ” khi ý niệm về tự do đã bị triệt
tiêu? Toàn thể lãnh vực tư tưởng sẽ khác hẳn đi. Nói cho đúng ra, sẽ chẳng còn
có tư tưởng nữa, thứ ý niệm mà chúng ta đang hiểu hiện nay. Theo chính thống
nghĩa là không còn suy nghĩ – không cần suy nghĩ nữa. Chính thống là vô thức.” (11)
Tiếng thơ chợt ngừng
bặt. Không gian trở nên trống rỗng khác thường.
Chàng giật mình,
lòng hoang mang và tuyệt vọng. Nhìn quanh, chờ đợi. Một hồi lâu, không thấy có
gì khác lạ, chàng buồn bã trở xuống. Đến lầu hai, trong bóng tối nhờ nhờ, chàng
chợt thấy có ánh đèn nhập nhòe ở cuối hành lang. Ngạc nhiên, chàng nhanh nhẩu
bước đến. Thì ra đó là khu sách tham khảo. Ánh đèn phát ra từ căn phòng nhỏ nằm
kế phòng đọc, nơi vốn là chỗ nghỉ trưa của nhân viên phụ trách an ninh. Nghe
ngóng một lát, chàng mở cửa, sửng sốt khi nhìn thấy một người đàn ông lặng lẽ
ngồi trong góc phòng. Ánh sáng từ chiếc đèn cầy chiếu lên tường một bóng đen
xiêu vẹo, nhảy múa chập chờn. Sợ hãi, chàng lùi lại, muốn đi ra, nhưng người
đàn ông ngẩng đầu lên nói, giọng bình thản:
– Chào ông bạn.
Vào đây.
Chàng ngập ngừng
một lát, rồi thận trọng bước vào.
Người đàn ông hói
đầu, phần tóc còn lại bạc trắng, lơ thơ bám hững hờ phía trên mang tai. Râu nhiều
hơn tóc, mọc tua tủa quanh cằm, trên dưới đều bạc trắng. Khuôn mặt trông rất
quen. Sau một hồi vận dụng trí nhớ, chàng nhận ra đó là nhà ngữ học tiếng tăm,
nhiều lần nằm trong danh sách những người được đề cử một giải thưởng lớn trên
thế giới. Ông ta không xa lạ gì với thư viện. Thư viện cũng chẳng xa lạ gì với
ông ta. Cả hai sống trong nhau. Ngày nào ông cũng có mặt ở một góc khuất cuối
phòng, bên cạnh những bộ sách nghiên cứu về ngôn ngữ dày cộm. Một mình, ghi ghi
chép chép. Khuôn mặt đắm chìm trên trang sách. Không cười, cũng chẳng thấy nói.
Toàn con người ông toát ra một sự lặng lẽ lạ thường. Ấy thế mà, thỉnh thoảng
hình ảnh ông lại xuất hiện trên báo chí, gây sốt dư luận có khi kéo dài hàng
tháng không chấm dứt. Chỉ cần một lời phát biểu của ông xuất hiện đâu đó trên một
chuyên san là người ta giành nhau chỉ trích, giành nhau ngợi khen, giành nhau
góp ý. Báo chí lại được dịp tràn trề chữ nghĩa. Nhiều chữ mới phát sinh. Nhiều
khái niệm mới tung vào đấu trường. Ông chẳng thèm trả lời ai. Ông chỉ tung ra một
số chữ (tất nhiên là rất mới lạ) để đánh động cuộc chơi, tạo cơ hội cho những kẻ
ăn theo có dịp bày biện chữ nghĩa của mình trên mặt báo. Thế giới chữ vốn vô
cùng im lặng, ấy thế, mà lại vô cùng ồn ào. Mỗi lần đọc các bài tranh luận,
chàng vẫn có cảm giác như nghe tiếng gươm, tiếng giáo khua vang trên trang giấy.
Người đàn ông hỏi:
– Ông bạn đến đây
làm gì?
– Tôi làm việc ở
đây.
– Thế à! Cũng là
người của sách vở đó nhỉ.
– Tôi chỉ là nhân
viên quèn, chỉ biết xếp sách trên giá thôi.
– Nhằm nhò gì.
Cũng như nhau thôi. Giờ thì ai cũng khỏe. Hết chữ rồi!
Chàng ngạc nhiên:
– Khỏe? Một người
sống với chữ như ông mà lại gọi là khỏe khi không còn chữ?
Người đàn ông
không nói gì, đưa tay với ly nước trên bàn, hớp một hớp rồi để xuống. Chàng
nhìn quanh phòng. Vương vãi đó đây toàn là giấy trắng, có tờ còn nguyên, có tờ
đầy những nét vẽ nguệch ngoạc. Tường đầy những hình vuông tròn, những đường kẻ
ngang kẻ dọc loạn xạ. Chàng tò mò:
– Sao chẳng có
sách báo gì ở đây cả, thưa ông?
Người đàn ông cười
to:
– Sách báo gì nữa
ông bạn. Không có chữ, sách báo chỉ là đá là đất mà thôi. Nhân loại đã chịu đựng
sự thống trị của chữ mấy ngàn năm, đủ rồi. Thoát khỏi chúng, ta mừng.
Chàng ngạc nhiên:
– Nhưng nếu không
có chữ thì làm gì còn có văn minh, làm gì còn có văn hóa, thưa ông?
Người đàn ông cười
lớn hơn, đôi mắt mơ màng nhìn vào bức tường trước mặt y như nhìn vào một khoảng
xa xăm nào đó. Rồi bắt đầu độc thoại:
– Văn minh! Vâng,
văn minh nào cũng gắn liền với chữ. Nhưng cũng chính chữ làm đảo lộn văn minh.
Bao nhiêu năm ta miệt mài với chữ, ta đào xới chữ để tìm xem bản chất của chúng
là gì. Ông bạn ơi, chữ là một hiện tượng kỳ lạ. Và kỳ cục nữa. Chữ nằm sẵn đó,
ai cũng nói được, ai cũng viết được, nhưng chúng vẫn là điều bí ẩn. Ta tìm cách
giải phẫu chữ y như các nhà sinh vật học giải phẫu cơ thể. Ta mổ văn, mổ thơ, mổ
bài viết. Ta mổ từng vần, từng chữ, từng câu. Ta banh chúng ta, ta ghép chúng lại,
ta tìm âm vị, hình vị, nghĩa vị. Ta tìm từ láy, từ kép, ta đối chiếu chữ cổ với
chữ mới, so sánh tiếng Phạn với tiếng Latin, tiếng Hán với tiếng Anh, thôi thì
đủ kiểu. Nhiều lúc, ta tưởng là đã bắt được chúng, tìm ra bản lai diện mục của
chúng. Thế mà ông bạn biết không, ta càng bắt thì nó càng truột khỏi tay ta.
Ông bạn nhìn xem…
Người đàn ông đưa
ta chỉ trên tường:
– Ông bạn có biết
đó là cái gì không?
Chàng nhìn lên những
hình vẽ nguệch ngoạc nằm kín cả bức tường, lắc đầu. Người đàn ông cười:
– Ông bạn không
còn nhận ra chúng sao?
– Không.
– Vậy thì ông bạn
thấy gì nào?
– Những vạch
ngang vạch dọc, hình vuông vuông tròn tròn…
– Chữ đấy, ông bạn
không tin sao!
– Không.
– Vậy theo
ông bạn, chữ là gì?
Chàng ngơ ngẩn:
– Là gì, là
gì, là gì…vâng, để tôi nhớ xem, à, thì là o tròn như quả trứng gà, ô
thì đội nón, ơ là thêm râu…
– Đấy, đấy! Chỉ
là những vạch ngang vạch dọc, vạch lên vạch xuống, vuông vuông tròn tròn chứ có
gì khác đâu.
Chàng chợt nhớ đến
thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường đánh vật với những đường cong đường thẳng
nét móc ngược lên nét vòng kéo xuống lòng đau khổ như uống thuốc đắng ngày bệnh…
(iw wnm msh
nsw) (12)
Chàng nhìn chằm
chằm vào những hình vẽ trên tường, đầu óc mơ mơ hồ hồ như bơi trong mộng. Bao tháng
ngày đã trôi qua từ ngày mất chữ, chàng không còn ý niệm gì về những đường nét
ghi lại trên giấy. Chàng đã từng chung sống với chúng như bóng với hình.
Những con chữ thân yêu đưa chàng tới những bến bờ xa lạ, kỳ thú. Chúng mang đến
cho chàng một thế giới khác, hoang đường và thơ mộng. Giờ đây, nhìn những vạch
ngang vạch dọc mà người đàn ông bảo là chữ, chàng có cảm giác buồn cười. Chúng
lổn nhổn, vô nghĩa y như lũ sỏi đá vô danh nằm ngoài đường.
Người đàn ông
nhìn chàng, vẻ xót xa:– Chúng ta đang sống lùi lại vài ngàn năm đó ông bạn à. Tổ
tiên ta tạo ra những vạch ngang vạch dọc như thế để nối kết sinh mệnh với nhau,
để là những phần tử của nhau. Thời văn minh, cũng vẫn là những vạch ngang vạch
dọc đó mà thôi. Ông bạn biết không, cái phiền của chữ, không phải là chính nó.
Khốn nạn là cái nghĩa. Nghĩa như mây trời như cá biển, mông lung bất định. Nhiều
lúc ta tưởng đã chụp bắt được chúng bỏ vào trong túi để từ từ lấy ra xài dần.
Nhưng chỉ là ảo tưởng. Ông bạn biết không, chữ ta viết ra là xuất phát từ những
ngày đêm nghiền ngẫm sách vở cổ nhân, chúng chính xác biết bao, khoa học biết
bao, rõ ràng biết bao, thế mà hễ tung ra ngoài là chúng trở thành khác, bị hiểu
một cách khác, lắm khi ngược hẳn. Thế mới chết. Thế là tranh cãi. Mà càng tranh
cãi, bạn biết không, nghĩa lại càng xa chữ. Không chỉ ở trong đầu kẻ chống ta
đâu, mà chính ngay trong cái đầu của ta đây này (vừa nói ông vừa vỗ binh binh
vào đầu mình). Chính ta chống lại ta, ta mâu thuẫn ta, không phải ai khác. Rõ
ràng nghĩa có đời sống riêng của chúng. Nghĩa chỉ mượn chữ, bám lấy chữ để mà
tác oai tác quái. Ông bạn nghĩ mà xem, để tồn tại, nhân loại có cần đến ngần ấy
sách không, ngần ấy chữ không. Hàng tỷ cuốn! Hàng tỷ tỷ chữ. Và sách vẫn tiếp tục
ra đời, chữ vẫn tiếp tục nhiều lên…Để làm gì? Để tạo ra cái thứ mà chính chữ bất
lực, không kiểm soát nỗi là nghĩa, hà, hà, hà…Thế mà nhân loại vẫn
lầm lẫn cho rằng chữ là nghĩa, nghĩa là chữ, chao ôi!
Cái (tẩu thuốc)
này không phải là một cái tẩu thuốc
Cái (hình ảnh
của một tẩu thuốc) này không phải là cái tẩu thuốc
Tấm (tranh)
này không phải là một cái tẩu thuốc
Cái (câu) này
không phải là một tẩu thuốc
Chữ (cái này)
này không phải là một cái tẩu thuốc
(Cái này)
không phải là một tẩu thuốc (14)
Người đàn ông tiếp
tục:
– Nghĩa! Nghĩa là
con mụ phù thủy chứa đầy đòn phép. Nó nằm ngoài quy luật. Nó thoắt biến thoắt
hiện. Nó vừa độc ác vừa tinh quái. Nó luồn lọt, chui rúc, giấu mình dưới từng vỏ
chữ, từng khúc câu để tác oai tác quái. Lúc đầu, ta tưởng nghĩa chẳng qua chỉ
là những đồ vật mà ta có thể nhét vào trong chữ, y như ta bỏ món quà vào trong
hộp và chuyển chúng đi. Người nhận chỉ cần mở chữ rồi lấy nghĩa ra mà dùng. Khốn
nạn thay, chữ không phải là cái hộp và nghĩa chẳng hề là món quà. Ta chuyển vào
đó một nghĩa, nhưng người nhận lại lôi ra một nghĩa khác, rồi một nghĩa khác, rồi
một nghĩa khác nữa. Cứ thế, không ngừng…
– Tôi chuyên lo sắp
xếp sách báo, nên biết rất rõ chữ nào sách đó, ai cần sách gì, tôi biết rõ nó nằm
ở đâu. Không nghĩa thì làm gì có chữ, thưa ông.
– Không phải đâu
là không phải đâu. Ông bạn chỉ làm việc với những cuốn sách, tức là những sự vật,
chưa phải là chữ nghĩa. Chữ nghĩa, chúng nằm trong những trang sách kia kìa.
Chúng toàn chui ra từ những cái đầu lắm chuyện. Như cái đầu ta đây này, lúc
nhúc chữ. Ăn cũng thấy mùi chữ, ngủ cũng nằm với chữ, đi chơi cũng bê theo chữ,
làm tình cũng sờ mó chữ. Chữ bao vây tứ phía. Ta mê chữ còn hơn mê con người. Đời
ta đầy những scandal, mà xét cho cùng, scandal nào
cũng từ chữ mà ra. Ta là kẻ giải phẫu chữ, rốt cuộc, ta chỉ giải phẫu một bóng
ma. Chân cũng là chữ. Thiện cũng là chữ. Mỹ cũng là chữ. Cục đất cũng là chữ.
Khối vàng cũng là chữ. Giáo chủ cũng làm bằng chữ, lãnh tụ cũng xuất phát từ chữ.
Tất cả chỉ là những đống chữ, cái này chồng lên cái kia, ngổn ngang, loạn xạ.
Những nhà hiền triết và những giáo chủ thường được phong tặng là những kẻ đi
tìm…chân lý, nghĩa là đi tìm giải pháp cho cuộc nhân sinh. Thực ra, họ chẳng hề
đi, cũng chẳng hề tìm. Họ chỉ là những người nói chữ, viết chữ. Khổ thay, người
đời sau đọc chữ lại cứ tưởng chân lý nằm trong chữ, cứ thế mà săm soi, đào xới
mãi không thôi.
Người đàn ông thì
độc thoại mà chàng thì đi trong sương mù. Chàng thở hắt ra, giọng thán phục:
– Ông không hề mất
một chữ nào. Ông nói ra toàn là chữ, nhiều chữ tôi chưa hề nghe…
– Thế sao! Người
đàn ông cười lớn. Ta còn nhiều chữ quá sao! Trong lúc cả nhân loại mất hết chữ
thì ta vẫn còn. Chao ôi, không viết ra được mà chữ thì dính bám trong đầu.
Người đàn ông vỗ
vỗ một cách bực mình vào đầu mình. Nhìn đầu ông, chàng bỗng có cảm giác như đó
là một cái bình chứa chữ, nhỏ mà dung lượng tưởng như vô hạn. Ông đã bỏ vào đó
bao nhiêu chữ, bao nhiêu nghĩa rồi? Chúng vẫn còn đó hay thoát đi đâu?
Chàng thắc mắc:
– Vậy thì chữ đi
đâu hết?
– Làm sao ta biết
được. Chúng không hiện hữu, thế thôi. Hãy tưởng tượng đến một bộ lạc sống trong
rừng sâu Nam Mỹ, không hề tiếp xúc được với thế giới bên ngoài. Với họ, chỉ có
đời sống. Họ tồn tại không cần đến chữ…
Người đàn ông đứng
dậy, vươn vai, cười lớn.
– Bây giờ cả cả
nhân loại mù chữ rồi, mù chữ rồi, mù chữ rồi.
Tiếng cười ông
rung động cả căn phòng, vang vọng khắp hành lang. Chàng rùng mình, bỗng dưng
nghĩ đến Tạ Tốn, một nhân vật kỳ dị trong truyện của Kim Dung. Với chữ, Kim
Dung đã dựng nên một hình tượng độc đáo, ám ảnh chàng mãi không thôi.
Chàng lẩm bẩm: Mà
nghĩ cho cùng, nhân vật nào chả được làm bằng chữ! Kể nhà ngữ học đang ngồi trước
mặt chàng đây.
Tiếg Việt cũg
hay dùg chữ “gì”. Cái gì? Món gì? Phố gì? Chúa ui, chán wá đi mất! Hai chữ “g”
và “i” đứg cạnh nhau nhìn rất “béo”! Trái lại, chữ “j” đứg ở mụt mìn nhìn rất
“gầy”, rất “người mẫu”!
Các bạn gái
ơi, hãy thay 2 chữ “ye” xấu xí bằg mỗi chữ “i” xin xắn đi! Viết “em iu anh” thì
đỡ rủi ro hơn nhiều (hoặc cứ viết “iu an wá trời lun!” cho máu).
Way lại với
chuyện nguyên âm, mìn hôg hiểu tại sao mụt số người vẫn cứ cho rằg chữ “ă” đẹp
hơn chữ “e”!?? Kệ nhữg người đó chứ, họ kiêu lém, cổ hủ lém!
Nhưg hôg fải
chữ “ê” lúc nào cũg đẹp. Câu “em không biết” chả có j hay cả. Trái lại, câu “em
hôg bít j đâu” nghe dễ thươg lém! Các bạn hỉu hôg? Mìn fải cố gắg để nói nhẹ chứ,
đặc bịt là với fái íu. Nói cứg wá với mụt cô mìn thík thì – chít!
(…) kÁc bẠn cÓ
bÍt FíM sHiFt hÔg? MiN sẼ dZùNg kÁi Fím Áy đỂ tRaG tRí vĂn KủA MìN mỤt ChÚt. FảI
LuN LuN Cố gẮg Để cHữ kỦa MìN đẸp HơN ChỮ KủA nG` kHáC cHứ! gỌi Là Sĩ dZiỆn
ĐiẸn tỬ đẤy!! Hihi!!!! (15)
Cười xong, nhà ngữ
học hồn nhiên ngủ.
Như một đạo sĩ.
Nhưng đạo sĩ là gì, chàng quên mất. Thôi, thì là gì cũng được. Chàng thầm chúc
ông yên giấc.
Ra khỏi phòng,
chàng chậm rãi bước dọc theo hành lang, đi ngang qua một thế giới đồ vật được sắp
xếp gọn gàng trên giá. Gáy, bìa, tờ, màu xám, màu trắng, màu xanh, màu bùn đất,
màu đỏ… Chàng lơ đãng nhìn chúng như nhìn những kỷ niệm thời thơ ấu xa xăm.
Chàng bước ra
ngoài, như vừa trở về. Thơ thới, hân hoan.
Chàng nhìn trời,
nhìn mây, nhìn cây, nhìn cỏ. Chàng thấy trời, thấy mây, thấy cây, thấy cỏ.
Chàng nghe gió, nghe tiếng lá chạm nhau lào xào, nghe tiếng chim kêu đâu đó.
Chàng nghe cả tiếng hoa rụng, cả tiếng con kiến bò dưới cỏ ướt. Lặng lẽ vô
cùng. Sờ vào một cụm hoa, chàng cảm thấy dịu dàng.
Chàng ngơ ngác và
trẻ thơ.
Quá đỗi ngơ ngác.
Quá đỗi trẻ thơ.
Trần Doãn Nho
(Nhuận sắc
12/2024)
(*) Ghi chú: Truyện
ngắn này vốn có tựa đề cũ “Ngơ ngác và trẻ thơ” đã in trong tập truyện ngắn
“Đi. Trong một buổi sáng” do Văn Học Press xuất bản ở Hoa Kỳ năm 2021.
__________________
(1) Một bức tranh
do Giuseppe Arcimboldo (1527-1593) vẽ năm 1566.
(2) Khuất Đẩu, Để
tang cho sách, trang mạng “Văn chương Việt”
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=14329&LOAIID=2&LOAIREF=1&TGID=1717
(3) “Old
Librarian’s Almanack” được xem là một ngụy tác (apocryphal) do Edmund Lester
Pearson (1880-1937), nhân viên thư viện ở Boston, viết, bịa ra câu chuyện người
làm việc trong thư viện thời xưa, như là một cách so sánh sự khác nhau giữa hai
thời kỳ.
(4) Nhiều chi tiết
trong sinh hoạt thư viện, người viết lấy từ “Library: An unquiet history”,
London: Vintage (2003) của Matthew Battles.
(5) Nguyễn Tuân, Chữ
người tử tù, trong “Vang bóng một thời”
(6) Tam
Quốc diễn nghĩa, hồi 22.
(7) Đông
Châu liệt quốc, hồi 65
(8) Xuân
Tâm, Nghỉ hè (thơ).
(9) Sử ký
Tư Mã Thiên (Bản dịch Phan Ngọc)
(10) Tô Thùy
Yên, Mòn gót chân sương nắng tháng năm (thơ).
(11) George Orwell, 1984, Part I, Chapter
5.
(12) iw wnm msh nsw, chữ tượng hình cổ Ai Cập
được dịch nghĩa là: The crocodile eats the king (Con cá sấu ăn thịt ông vua).
http://www.omniglot.com/writing/egyptian.htm
(13) Tranh của René Magritte (1898-1967), tựa đề: “La
trahison des images” (Sự bội phản của hình ảnh)
(14) Câu “Ceci n’est pas une pipe” (This is not a pipe) ghi
trong bức tranh là một câu đa nghĩa. Anthony Wilden đưa ra 6 cách diễn giải:
This (pipe) is not a pipe;
This (image of a pipe) is not a pipe;
This (painting) is not a pipe;
This (sentence) is not a pipe;
(This) this is not a pipe;
(This) is not a pipe
Dẫn theo Anthony Wilden, The Rules Are No Game: The
Strategy of Communication, Routledge and Reality, London, 1987.
(15) Joseph Ruelle (Joe),
