California đang vào Thu. Khí trời trở nên mát mẻ, bỏ lại sau lưng những ngày hè oi bức. Cũng một buổi sáng đầu tuần như thường lệ nhưng mọi việc dường như chậm lại, vài điện thư gửi đi cũng chưa thấy hồi âm, mọi việc có lẽ đều bị ảnh hưởng từ việc chính phủ đóng cửa. Tôi cho phép mình được thư thả ngồi bên ly cà phê nóng, chậm rãi nhâm nhi chiếc bánh croissant thơm lừng với một chút phô mai. Ngắm mưa rơi lộp độp trên cửa kính, tôi bỗng nhớ về những cơn mưa của ngày xa xưa.
Ở đây, hình như mưa lạnh và buồn hơn; còn ở quê tôi, Mỹ Tho,
mưa mang theo mùi phù sa, mùi lá dừa, mưa đưa tiếng cười trẻ con rộn rã về với
những mái tranh. Mỗi giọt mưa rơi trên mái lá như một lời ru, nhắc nhớ những buổi
cơm chiều từ bàn tay Ngoại, khi nồi cá kho tộ sôi riu riu thật vui tai, khi tô
canh chua bốc khói hòa lẫn mùi thơm dìu dịu của ngò om. Tôi nhắm mắt, hít thật
sâu và thấy mình như trở về một không gian cũ kỹ mà ấm áp, ngập tràn hạnh phúc
đơn sơ qua dáng đi siêu vẹo, còm cõi của Ngoại tôi.
Ngoại tôi là người giữ lửa cho căn nhà nhỏ ở miền quê hiền
hòa này. Ngoại có ánh mắt hiền từ, có đôi bàn tay chai sần, nhăn nheo theo năm
tháng dãi dầu, và cả cuộc đời bà như được gói ghém trong những bữa cơm, những
lo toan cho cháu con. Tôi vẫn nhớ, khi gà chưa gáy, ánh trăng còn vương trên
mái ngói, Ngoại đã dậy loay hoay múc nước, nhóm lửa, vo gạo, chuẩn bị bữa sáng.
Tôi chưa bao giờ thấy Ngoại tôi sử dụng bất kỳ một cuốn sách dậy nấu ăn nào cả.
Ngoại không biết đến những phát minh tân kỳ như iPad hay YouTube để xem những
chương trình hướng dẫn nấu nướng thu hút nhiều người xem trên không gian điện
toán. Thế nhưng món nào Ngoại nấu đều để lại những nỗi nhớ, như một sợi dây vô
hình buộc chặt con cháu. Đi xa là nhớ Ngoại, nhớ đến những món ngon Ngoại nấu.
Ngoại nấu chẳng cần cân đo, đong đếm, chỉ nêm nếm bằng con tim, bằng kinh nghiệm
đời. Hương vị những bữa ăn ấy, dẫu mộc mạc, lại thấm sâu vào ký ức tôi hơn mọi
món ăn mỹ vị nơi phố thị.
Vào những buổi chiều mưa nặng hạt, Ngoại hay kho món cá bống
trứng. Cá đồng vừa bắt lên, thường được rọng trong một chiếc lu sành, được rửa
sạch, ướp muối, tiêu, hành, rồi đặt vào chiếc nồi đất, nấu riu riu với lửa nhỏ
cho tới khi nước rút, thịt săn chắc, nước sền sệt màu cánh gián, thơm mùi hành,
tiêu. Mùi cá kho từ chái bếp tỏa ra khắp mọi góc nhà. Bên cạnh là nồi canh
chua, nấu với chút me dầm, vài lát cà chua đỏ au, rau om, ngò gai kích thích khứu
giác lẫn vị giác. Khi chìm vào cái vị bùi bùi của cá đồng, cay cay của những hạt
tiêu xanh, chua chua của me, nóng nóng khi húp sùm sụp tô canh, tôi nhớ những
chiều mưa cả nhà quây quần bên nhau mà tâm hồn tôi ấm lại. Cái hạnh phúc đơn sơ
ấy có bao nhiêu tiền cũng không mua lại được.
Tuổi thơ tôi đong đầy những kỷ niệm với dòng sông Tiền, với
con nước lên xuống theo mùa. Dòng sông đã nuôi dưỡng biết bao trò nghịch ngợm của
bọn con nít chúng tôi. Những buổi trưa hè, chúng tôi cởi trần trùng trục lao
mình xuống, ôm những tàu dừa, đập đùng đùng, lặn ngụp trong dòng nước đục ngầu
phù sa. Con rạch nhỏ này là nơi bọn tôi dạy nhau học bơi, nhắm mắt chịu đau, tự
cho rằng mình can đảm, khi cho chuồn chuồn cắn rốn. Cây dừa có thân oằn cong, nằm
vắt ngang con rạch, là nơi chứng kiến không biết lần tôi phóng lên, bó gối, lao
xuống khiến nước bắn tung tóe trong tiếng reo hò của lũ bạn. Cũng vì những cú
“santo” này mà tôi bị Ngoại đánh đòn không biết bao nhiêu lần. Nhưng rồi chứng
nào vẫn tật nấy, tôi vẫn lén Ngoại theo chúng bạn đi tắm sông. Tắm xong, đầu
tóc, quần áo còn ướt đẫm, tay chân còn đầy bùn sình, người còn run cầm cập, mặt
mày tái mét vì lạnh, bọn tôi kéo nhau vào vườn kiếm trái cây. Những trái mận hồng
đào chín đỏ, những quả ổi chín cây thơm nức mũi trở thành nạn nhân bị bọn nhóc
chúng tôi đua nhau hái, chỉ cắn một vài miếng rồi lại dùng làm vũ khí để ném
nhau.
Một lần, tôi đang cùng bọn con nít đứng phơi nắng cho quần
áo khô ráo, tránh không bị Ngoại phát hiện khi về nhà, thì bỗng một giọng nói ồm
ồm vang lên sau lưng khiến cả bọn giật bắn mình.
“Thằng Dũ (Vũ), mày lại theo tụi phá làng phá xóm đi tắm
sông phải không?” Ông Sáu, ông em của Ngoại tôi, lớn tiếng. “Mấy đứa bây
có thấy cái gì đây không?”
Vừa nói ông vừa hươ hươ cây rựa dài trong tay hướng về phía
cây dừa nằm vắt ngang con rạch, trong lúc cả bọn chúng tôi còn chưa định thần hồn.
“Tối hồi hôm, ông ra thăm vườn, thấy có con ma da đang ngồi.
Ông lấy rựa chém nó nhưng hụt. Vết rựa còn mới nguyên đó!” Ông bồi thêm trong
lúc cả đám con nít vẫn còn đang thắc mắc không biết chuyện gì đã xảy ra.
Cả một đám nhìn nhau, mặt xanh như tàu lá, chỉ có tôi là cười
cười vì vốn dĩ tôi chẳng tin mấy cái chuyện ma da kéo cẳng. Theo tôi, người lớn
đã bịa ra để hù dọa bọn con nít. Chuyện ma da thực hư ra sao không rõ, nhưng
chuyện tôi bị Ngoại đánh đòn là chuyện nhãn tiền. Tôi nhớ lần đó, bắt gặp tôi
cùng lũ trẻ trong xóm đi tắm sông, Ngoại kéo về rồi Ngoại quất 3 roi đau quắn
đít. Đánh xong, Ngoại quăng cây roi, rồi Ngoại ngồi bệt xuống bệ cửa, mắt nhìn
xa xăm.
“Má bây đem bây về gửi cho Ngoại. Cha bây người ta bắt đi, rồi
đem tuốt ra ngoài Bắc, không biết chừng nào dìa (về). Bây cứ cãi lời Ngoại đi tắm
sông. Lỡ Hà Bá nó bắt bây, chừng cha bây về, Ngoại biết ăn nói làm sao với cha
bây.” Giọng Ngoại run run như khóc.
Tôi hồi đó không được như cái thầy Hàn Bá Du gì đó bên Tàu,
thấy mẹ đánh không đau thì thương mẹ vì biết mẹ đã già yếu. Tôi giận Ngoại vì
Ngoại đã quất tôi tới 3 roi thay vì chỉ 1 như mọi khi.
“Ngoại đánh bây đau, bây có giận Ngoại không. Thôi đi thay đồ
đi, rồi Ngoại nấu cơm cho bây ăn. Mai Ngoại rảnh, Ngoại nấu chè cho bây ăn.”
Ngoại xuýt xoa khi xức dầu cù là cho tôi.
Ngoài câu cá thòi lòi, tôi cũng rất thích bám theo mấy ông
anh họ đi câu cá rô hay cá sặc trên những cánh đồng lúa, vài tuần sau mùa gặt.
Khi lúa gần chín, thường khoảng từ 7 đến 10 ngày trước khi gặt, nhà nông thường
cho tháo nước vì việc này giúp mặt ruộng khô ráo hơn, lúa đứng vững, tiện cho
việc thu hoạch. Đây là điều kiện lý tưởng để câu các chú cá còn vướng lại trong
các vũng sâm sấp nước. Trứng kiến là mồi câu khoái khẩu của các loại cá này. Để
lấy trứng kiến, người dân quê tôi thường dùng một sào tre dài rồi buộc một cái
rổ nhựa vào một đầu. Những cây xoài hay ổi có trái chín tới là nơi lý tưởng để
lũ kiến làm tổ. Thiên nhiên thật kỳ diệu và lũ kiến cũng thật tài hoa khi có thể
kéo lá cây làm thành những cái tổ to hết sức khéo léo. Với những ổ kiến lớn,
tìm thấy trên những cây xoài tượng to, đang vào mùa thu hoạch, trứng kiến lấy từ
chỉ một ổ có thể đựng đầy trong cả lon sữa bò. Người đi kiếm trứng kiến thọc đầu
cây sào có treo cái rổ nhựa vào ổ kiến rồi cứ thế chậm rãi rung hay lắc để trứng
rơi vào. Việc làm của những người đã quen tay trông thật dễ dàng và đơn giản.
Nhớ một lần, tôi táy máy bắt chước, thọc đúng vào một ổ kiến
lửa đỏ trên cây vú sữa trong vườn nhà Ngoại. Chẳng biết tôi làm ăn ra sao, mà cả
ổ kiến lửa rơi từ trên cao xuống, đổ ụp cả vào người. Bọn kiến hung dữ đua
nhau, tha hồ mà cắn. Cả người tôi sưng vù, đau đớn, nóng sốt cả hai ngày liền.
Ngoại đã không đưa tôi lên trạm xá, mà nếu có lên cũng chỉ nhận được vài viên
thuốc làm từ lá xuyên tâm liên, thứ mà Cộng sản từng tuyên truyền có thể trị bá
bệnh. Ngoại khóc khi xức loại cao gì đó, màu trăng trắng, cho tôi. Nhìn bóng
Ngoại siêu vẹo, lưng còng mà thương khi Ngoại đặt mấy tách nước để cúng trên
bàn thiên đặt trước nhà. Ngoại nấu cháo gà bầy ra một mâm lớn, đặt trước bàn thờ
tổ tiên trên gian nhà chính, rồi Ngoại lâm râm cầu nguyện. Có lẽ nhờ vào tấm
lòng thành của Ngoại, cũng như nhờ vào món cháo gà ngon bổ mà tôi thoát qua cơn
sốt sau hai ngày nằm ngủ li bì.
Tuổi thơ tôi lớn lên trong sự quan tâm, yêu thương của Ngoại.
Ngoại chính là bà tiên hiền từ bước ra từ các câu chuyện cổ tích. Ngoại hy sinh
cho con cháu, sống chan hòa với bà con chòm xóm. Ngoại rất thảo ăn, có cái gì
cũng chia sẻ với mọi người, từ làng trên xóm dưới. Vào những ngày mưa dầm như
thế này, thế nào Ngoại cũng kiếm được thật nhiều những tai nấm mối còn tươi
rói. Cơn mưa kéo dài từ đêm hôm trước, vẫn lắc rắc đến tận buổi sáng nhắc tôi
nhớ về thú vui này, thú vui đi tìm và nhặt nấm mối. Nấm mối thường chỉ mọc sau
cơn mưa, vào sáng sớm tinh mơ do đó nếu đi trễ, nấm sẽ bị nở to, có thể bị sâu
ăn. Vì vậy, Ngoại dậy rất sớm, rời khỏi nhà khi trời còn tờ mờ.
“Bây đi theo Ngoại, Ngoại vướng tay vướng chân, chứ bây giúp
được gì cho Ngoại”, Ngoại cười hiền từ, một lần nghe tôi mè nheo xin đi theo
Ngoại.
“Bây nhớ bấm chân xuống. Đường trơn trợt lắm. Hồi hôm mưa dầm
suốt đêm”, lâu lâu Ngoại lại nhắc tôi.
“Dạ, con nhớ rồi Ngoại. Ngoại nhắc hoài, để con tập trung
tìm nấm, Ngoại”, tôi cằn nhằn.
“Cha bây, Ngoại không nhắc, bây té rồi mình mẩy lấm lem”,
Ngoại cười.
Nấm mối, có màu nâu nâu, mọc ẩn dưới lớp lá khô hoặc đất, chỉ
nhú lên một chút, do đó nếu không tinh mắt, sẽ rất dễ bỏ sót hay chẳng thấy được.
Tôi thường nhìn nhầm đụn đất hoặc rễ cây với loại nấm này. Loại nấm này thường
chỉ mọc gần những tổ mối đã bỏ hoang. Thật kỳ lạ con đường này tôi vốn rất quen
nhưng tìm mãi chẳng ra một tai nấm nào cả. Nhiều người nói, phải có “duyên” thì
mới gặp.
“Ngoại, mưa gì kỳ quá Ngoại, mưa mà không có nấm”, tôi lầu bầu.
“Dũ (Vũ), bây coi giúp Ngoại chỗ này nè”, Ngoại chỉ tay vào
một đụn đất.
“Ngoại ơi, nhiều nấm quá Ngoại. Ngoại thấy con giỏi không?
Con nói con giúp Ngoại được mà”, tôi reo hò sung sướng trong khi Ngoại vẫn cười
hiền từ.
Chưa đầy một giờ đồng hồ, chiếc rổ tre của hai bà cháu đã đầy
những tai nấm mơn mởn, tươi rói trong những tia nắng đầu ngày. Ngoại bẻ mấy tàu
lá chuối, khéo léo tạo thành những đồ đựng như hình cái phễu, chia đều những
tai nấm để biếu bà con ăn lấy thảo.
“Ngoại, hôm nay Ngoại đổ bánh xèo nha Ngoại”, tôi đề nghị.
“Ngoại, Ngoại nhớ để dành một phần Ngoại kho với thịt ba rọi
nha Ngoại. Con thích đồ ăn Ngoại nấu”, tôi cười cầu tài.
“Cha bây, chỉ có giỏi vòi ăn”, Ngoại cười hiền từ.
“Brian, what happened? Why are you crying?” (Brian, có chuyện
gì vậy? Sao bạn khóc?). Một người bạn kéo tôi về với thực tại.
“Ồ, không có gì đâu. Hồi tối, tôi thức khuya quá nên giờ buồn
ngủ.”, tôi giật mình và luống cuống tìm lời giải thích.
Dù đã xa quê hương nhiều năm, hình ảnh ngôi nhà nhỏ ở Mỹ Tho
và bóng dáng hiền từ của Ngoại vẫn luôn in đậm trong tim tôi. Tôi chỉ mong một
ngày không xa, khi tự do về lại trên quê hương, tôi sẽ trở lại thăm mảnh đất
thân thương ấy, được đi lại trên con đường làng xưa, được ngồi yên bên hiên nhà
nghe tiếng gió thổi qua hàng dừa và thắp cho Ngoại một nén nhang để tỏ lòng biết
ơn, cho thỏa nỗi nhớ thương.
Viết xong ngày 15 tháng 10 năm 2025,
